Nghiên cứu ứng dụng phương pháp ôxy hóa nâng cao kết hợp ôzôn và tia UV trong xử lý nước thải dệt nhuộm khu công nghiệp Phố Nối

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ÔXY HÓA  
NÂNG CAO KẾT HỢP ÔZÔN VÀ TIA UV TRONG XỬ LÝ  
NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM KHU CÔNG NGHIỆP PHỐ NỐI  
(1)  
Nguyễn Tị Phương Dung  
Lư Tị Yến  
Phạm Tị Ngọc Tùy  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng phương pháp ôxy hóa nâng cao kết hợp ôzôn và tia UV để  
xử lý COD trong nước thải dệt nhuộm khu công nghiệp Phố Nối B (Tỉnh Hưng Yên). Các thông số ảnh hưởng  
đến lớn đến quá trình này là tác nhân ôxy hóa (UV, ôzôn và ôzôn/UV kết hợp), thời gian phản ứng, pH và liều  
lượng khí ôzôn được khảo sát. Kết quả thực nghiệm cho thấy, phương pháp sử dụng ôzôn kết hợp với tác nhân  
tia UV cho hiệu quả xử lý COD cao hơn hẳn so với phương pháp sử dụng UV đơn lẻ và ôzôn đơn lẻ. Ở giá trị  
pH = 8 và liều lượng sục khí ôzôn 3,5 lít/phút.lít nước thải, COD đầu ra của nước thải giảm từ 624 mg/L xuống  
còn 198 mg/L, tương ứng với hiệu quả xử lý đạt 69,2% trong thời gian 60 phút, đạt QCVN 13:2015/BTNMT.  
Từ khóa: Nước thải dêt nhuộm, phương pháp ôxy hóa nâng cao, COD.  
Nhận bài: 7/12/2020; Sửa chưa: 16/12/2020; Duyêt đăng: 25/12/2020.  
1. Đặt vấn đề  
phương pháp hóa học, hóa lý truyền thống như trung  
hòa điều chỉnh pH, đông keo tụ, hấp phụ, ôxy hóa được  
áp dụng phổ biến để xử lý nước thải dệt nhuộm. Tuy  
nhiên, độ màu và một số chất hữu cơ khó phân hủy  
sinh học trong nước thải dệt nhuộm rất khó xử lý, gây  
màu tối cho nguồn tiếp nhận, ảnh hưởng tới quá trình  
quang hợp của các loài thủy sinh, ảnh hưởng xấu tới  
cảnh quan và môi trường.  
Ngành Dệt may Việt Nam trong những năm gần  
đây liên tục phát triển với tỷ lệ tăng trưởng bình quân  
15%/năm, đến nay đã vươn lên trở thành ngành kinh tế  
hàng đầu cả nước, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp  
từ 10 - 15% GDP hàng năm. 6 tháng đầu năm 2019, kim  
ngạch xuất khẩu dệt may đạt 18 tỷ USD, tăng 8,61% so  
với cùng kỳ năm 2018 [1].  
Các quá trình ôxy hóa nâng cao là công nghệ mới  
được phát triển trong khoảng 20 năm trở lại đây và thể  
hiện nhiều ưu điểm trong xử lý nước thải dệt nhuộm so  
với các phương pháp xử lý nước thải truyền thống dựa  
vào phản ứng tạo ra các gốc tự do hoạt động hydroxyl  
*OH ngay trong quá trình xử lý. Gốc *OH là một tác  
nhân ôxy hóa mạnh (thế ôxy hóa bằng 2,80 V), có khả  
năng ôxy hóa không lựa chọn với mọi hợp chất hữu cơ,  
cả những chất khó phân hủy hoặc không phân hủy sinh  
học, biến chúng thành những hợp chất vô cơ như CO2,  
H2O, các axit vô cơ...[3].  
Song song với sự phát triển mạnh mẽ của ngành là  
các vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình sản  
xuất, đặc biệt là ô nhiễm nước thải ở các nhà máy dệt  
nhuộm vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ.  
Lượng nước thải phát sinh từ các công đoạn dệt nhuộm  
rất lớn, ước tính từ 50 - 300 m3/tấn vải. ành phần các  
chất ô nhiễm trong nước thải dệt nhuộm rất phức tạp,  
bao gồm H SO , CH3COOH, NaOH, NaOCl, H2O2,  
Na2CO3, Na22SO43…, các loại thuốc nhuộm, chất hoạt  
động bề mặt, chất ngấm, chất cầm màu, chất tẩy giặt….  
Nhìn chung, nước thải dệt nhuộm có độ kiềm cao (pH  
dao động từ 9 - 12), hàm lượng chất hữu cơ cao (COD  
có thể lên tới 1000 - 3000 mg/l), độ màu của nước thải  
Trong số các tác nhân ôxy hóa thì O3 được chứng  
minh mang lại hiệu quả cao trong việc phá vỡ các liên  
khá lớn (có thể lên tới vài chục ngìn Pt-Co), hàm lượng kết thẳng và không bão hòa trong các phân tử thuốc  
cặn lơ lửng cao (có thể đạt giá trị 2000 mg/l) [2]. Các nhuộm, gây ra sự mất màu nhanh chóng của nước thải  
1 Trường Đại học Công nghê Giao thông vận tải  
22 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
dệt nhuộm [4]. Ôzôn hấp thụ mạnh tia UV (nhất là ở  
bước sóng 254 nm) sản sinh ra H2O2, và ngay lập tức  
H2O2 phân hủy tạo thành gốc *OH:  
Nước thải được lấy đầy vào can nhựa 10 lít. Kỹ thuật  
lấy mẫu được thực hiện theo TCVN 5999:1995: Chất  
lượng nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn lấy mẫu nước thải.  
Mẫu nước được vận chuyển và bảo quản trong Phòng  
í nghiệm môi trường - Trường Đại học Công nghệ  
Giao thông vận tải theo TCVN 6663-3:2008: Chất  
lượng nước - Lấy mẫu - Phần 3: Hướng dẫn bảo quản  
và xử lý mẫu. Các thông số pH và COD của nước thải  
dệt nhuộm được phân tích tại Phòng thí nghiệm môi  
trường và được trình bày trong Bảng 1.  
O3 + hv → O2 + O  
O + H2O → H2O2 → 2*OH  
Trong môi trường axit, ôzôn ôxy hóa trực tiếp các  
hợp chất hữu cơ bằng phân tử ôzôn hòa tan trong nước.  
Trong khi đó, ở điều kiện pH cao, hoặc trong những  
điều kiện có các tác nhân tạo thuận lợi cho quá trình  
tạo gốc *OH như H2O2, UV, chất xúc tác… con đường  
ôxy hoá gián tiếp thông qua gốc hydroxyl sẽ là chủ yếu  
và hiệu quả oxy hoá được nâng cao. Do đó, thay vì sử  
dụng ôzôn một mình, nhiều công trình nghiên cứu đã  
tìm kiếm các tác nhân phối hợp với ôzôn hoặc chất xúc  
tác nhằm tạo ra gốc *OH để nâng cao hiệu quả ôxy hóa  
của ôzôn khi cần xử lý những hợp chất bền vững, khó  
phân huỷ trong nước và nước thải [4].  
Khi sử dụng nguồn UV là đèn thủy ngân thấp áp có  
bước song 254 nm, hệ số hấp thụ phân tử của ôzôn cao  
(3300 l/M.cm) rất thích hợp cho việc tạo ra gốc *OH.  
Hiệu suất tạo gốc *OH (hệ số tạo gốc *OH là 2) cao hơn  
rất nhiều so với hệ H2O2/UV (hệ số tạo gốc là 0.09).  
Bảng 1. Các thông số đầu vào của nước thải dệt nhuộm  
Tông số Giá trị Đơn vị QCVN 13:2015/BTNMT  
đầu vào  
COD  
pH  
(Cột B)  
200  
5,5-9  
624  
8
mg/l  
Các hóa chất sử dụng trong thực nghiệm thuộc loại  
tinh khiết dùng cho phân tích.  
2.2. Nội dung thí nghiệm  
í nghiệm so sánh hiệu quả xử lý nước thải dệt  
nhuộm của các quá trình sử dụng ôzôn đơn lẻ, UV đơn  
lẻ và ôzôn/UV kết hợp. Mẫu nước thải thể tích 400 ml  
được nạp vào 3 bình, một bình chỉ xử lý bằng ôzôn,  
một bình chỉ xử lý bằng tia UV, một bình xử lý bằng  
ôzôn/UV kết hợp, các điều kiện thí nghiệm khác giữ  
nguyên (liều lượng khí ôzôn trong bình chỉ xử lý bằng  
ôzôn và bình xử lý bằng ôzôn/UV kết hợp duy trì ở giá  
trị 3,5 L/phút.L nước thải). Sau các thời gian phản ứng  
5, 20, 40 và 60 phút lấy mẫu nước thải sau xử lý để phân  
tích COD. So sánh để lựa chọn phương pháp có hiệu  
quả cao nhất.  
Vì vậy, bài viết tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh  
hưởng đến hiệu quả xử lý COD trong nước thải dệt  
nhuộm bằng phương pháp ôxy hóa nâng cao kết hợp  
ôzôn và tia UV.  
2. Tực nghiệm  
2.1. Hóa chất và vật liệu  
Nước thải được dùng để thí nghiệm trong nghiên  
cứu này là nước thải dệt nhuộm được lấy tại Công ty  
CP Dệt kim Hanosimex (thuộc Khu Công nghiệp Dệt  
May Phố Nối B, Yên Mỹ, Hưng Yên). Mẫu nước thải  
dệt nhuộm được lấy tại bể điều hòa của trạm xử lý nước  
thải của Công ty (Hình 1).  
í nghiệm khảo sát ảnh hưởng các điều kiện thí  
nghiệm đến hiệu quả xử lý COD của phương pháp đã  
được lựa chọn, bao gồm:  
+ ời gian phản ứng: Tiến hành thí nghiệm với  
thời gian phản ứng là 6h, lấy mẫu nước thải sau từng  
khoảng thời gian phản ứng để phân tích COD. Xác  
định thời gian phản ứng thích hợp để nước thải sau xử  
lý đạt QCVN 13:2015/BTNMT [5].  
+ pH: Tiến hành thí nghiệm ở các giá trị pH bằng  
4, 6, 8, 9, 10. Các điều kiện thí nghiệm khác (thời gian  
phản ứng thích hợp, liều lượng khí ôzôn, nồng độ  
COD đầu vào) giống nhau. Các bình chứa nước thải  
được điều chỉnh về các giá trị pH trên bằng dung dịch  
H2SO4 và NaOH. Lấy mẫu nước thải sau xử lý để phân  
tích COD. So sánh để lựa chọn giá trị pH cho hiệu quả  
xử lý cao nhất.  
+ Liều lượng sục khí: Tiến hành với các liều lượng  
sục khí từ 1,0 - 7,5 L/phút.L nước thải với thời gian  
phản ứng và pH thích hợp đã xác định ở trên. Các liều  
lượng sục khí khác nhau được tạo ra bằng cách thay đổi  
lưu lượng sục khí và thể tích phản ứng. Lấy mẫu nước  
▲Hình 1. Vị trí lấy mẫu nước thải tại Công ty CP Dêt kim  
Hanosimex  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 23  
thải sau xử lý để phân tích COD. So sánh để lựa chọn  
liều lượng sục khí cho hiệu quả xử lý cao nhất..  
Hiệu quả xử lý nước thải dệt nhuộm của các phương  
pháp ôxy hóa bậc cao sử dụng ôzôn đơn lẻ, UV đơn lẻ  
và ôzôn/UV kết hợp được thể hiện trên Hình 3.  
2.3. Mô hình thí nghiệm  
Từ đồ thị Hình 2 cho thấy, các mẫu xử lý bằng UV  
đơn lẻ, ôzôn đơn lẻ và Ôzôn/UV hiệu suất xử lý COD  
sau 5 phút lần lượt là 10,7%; 17,8% và 27,2%; hiệu  
suất xử lý COD sau 40 phút lần lượt là 16,4%; 40,2%  
và 47,8%; hiệu suất xử lý COD sau 60 phút lần lượt là  
20,0%; 41,2% và 54,3%. Các kết quả này cho thấy, sau  
từng khoảng thời gian phản ứng hiệu suất xử lý COD  
của phương pháp sử dụng kết hợp ôzôn/UV là tốt nhất,  
UV đơn lẻ là kém nhất.  
Để thực hiện các nội dung thí nghiệm trên, sử dụng  
mô hình thí nghiệm được bố trí như trên Hình 2.  
▲Hình 2. Mô hình thí nghiêm  
Ôzôn được sục trực tiếp vào nước thải nhờ máy tạo  
ôzôn (A.OZONE) có kích thước 30x15x45 cm, công  
suất tạo ôzôn 7.5 g/h, sử dụng phương pháp tạo ôzôn  
bằng plasma trong buồng phóng điện khí rung siêu  
thanh. Nguồn phát tia UV là đèn UV công suất 10W,  
phát bức xạ ở bước sóng 245 nm.  
▲Hình 3. So sánh hiêu suất xử lý COD của các phương pháp  
ôzôn, UV và ôzôn/UV  
Kết quả này phù hợp với lý thuyết về ảnh hưởng của  
tia UV, của ôzôn và ôzôn/UV kết hợp [7]. Tia UV đơn  
lẻ có tác dụng yếu đến các hợp chất hữu cơ no hoặc các  
chất hấp thụ bức xạ UV, nên độ giảm COD của nước  
thải khi được xử lý bẳng tia UV chỉ được thể hiện trong  
vài phút đầu còn trong khoảng thời gian tiếp theo hiệu  
suất tăng không đáng kể. Trong khi đó, hiệu suất xử lý  
COD khi sử dụng ôzôn đơn lẻ cao hơn nhiều so với UV  
đơn lẻ. Điều này được giải thích bởi tính ôxy hóa mạnh  
của ôzôn (thế oxy hóa của ôzôn bằng 2.08V). Bên cạnh  
đó, ở giá trị pH không quá cao (pH = 8) của nước thải  
dệt nhuộm trong nghiên, một lượng nhỏ ôzôn có khả  
năng phân hủy tạo thành gốc *OH có thế ôxy hóa cao  
hơn ôzôn (thế ôxy hóa của *OH bằng 2,8 V) [8] theo  
phương trình phản ứng:  
Các bước để tiến hành thí nghiệm như sau:  
- Cho nước thải dệt nhuộm vào bình phản ứng,  
đặt 2 đầu phân phối khí vào bình phản ứng để cho khí  
ôzôn có thể phân phối đều trong dung dịch nước thải.  
- Đặt đèn UV vào vị trí, dùng lồng chắn tia UV phủ  
lên cả đèn và bình phản ứng.  
- Mở van khí để lưu lượng khí ổn định đến giá trị  
mong muốn, rồi bật đồng thời máy ôzôn và đèn UV.  
- Sau từng khoảng thời gian phản ứng, dừng sục khí  
và tắt đèn UV để tiến hành lấy mẫu và phân tích.  
2.4. Các phương pháp phân tích  
Hàm lượng COD trong các thí nghiệm được xác  
định theo TCVN 6491: 1999 [6]. pH được đo trực tiếp  
bằng máy đo pH (TOADKK HM-25R).  
3O3 + OH- + H+ → 2 *OH + 4 O2  
Trong khi dưới tác dụng đồng thời của ôzôn và tia  
UV, hiệu quả tạo gốc *OH là rất cao nhờ phản ứng:  
Hiệu suất xử lý COD (H, %) được được tính toán  
O3 + hυ → O2 + O  
O + H2O → H2O2 → 2*OH  
theo công thức:  
COD − COD  
(
)
o
t
H =  
.100%  
Co  
Và nhờ tính ôxy hóa mạnh mẽ của gốc *OH mà hiệu  
suất xử lý của phương pháp ôzôn/UV kết hợp vượt trội  
so với dùng UV đơn lẻ và cao hơn so với dùng ôzôn  
đơn lẻ.  
Trong đó: CODo và CODt là hàm lượng COD tại  
thời điểm ban đầu và tại thời điểm t phút trong các thí  
nghiệm (mg/L); V là thể tích mẫu nước thải trong mỗi  
thí nghiệm (L).  
3.2. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu  
suất xử lý COD bằng phương pháp ôzôn/UV kết hợp  
Nghiên cứu được tiến hành với nước thải dệt nhuộm  
có nồng độ COD ban đầu bằng 624 mg/L và pH =8, liều  
lượng khí ôzôn bằng 3,5 L/phút/L nước thải. Ảnh hưởng  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. So sánh hiệu quả xử lý nước thải dệt nhuộm  
của các phương pháp ôxy hóa bậc cao sử dụng ôzôn  
đơn lẻ, UV đơn lẻ và ôzôn/UV kết hợp  
24 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
Bảng 2. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu quả xử lý COD  
Tời gian phản ứng  
0 phút  
5 phút  
1 h  
2 h  
3 h  
4 h  
5 h  
6 h  
Hàm lượng COD,  
mg/L  
624  
385  
245  
232  
219  
207  
192  
178  
Hiệu suất xử lý  
COD, %  
0
38,3  
60,7  
62,8  
64,9  
63,3  
69,2  
71,5  
yếu là các chất hữu cơ khó phân hủy. Việc ôxy hóa các  
chất hữu cơ này đòi hỏi thời gian phản ứng dài hơn khiến  
tốc độ giảm COD chậm đi và đường biến thiên COD theo  
thời gian có xu hướng sát với đường nằm ngang.  
3.3. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý COD  
bằng phương pháp ôzôn/UV kết hợp  
í nghiệm được tiến hành với các bình phản ứng  
chứa nước thải dệt nhuộm, pH được điều chỉnh nhờ dung  
dịch NaOH và H2SO4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của  
pH đến hiệu quả xử lý COD của nước thải dệt nhuộm  
được trình bày trong Bảng 3 và Hình 5.  
Từ Bảng 4 cho thấy, sau 60 phút, hiệu suất xử lý COD  
bằng phương pháp Ozon/UV kết hợp tại với các giá trị  
pH bằng 4, 6, 8, 9 và 10 lần lượt là 47,9%, 49,7%, 60,7%,  
52,9% và 51,3%. Ở pH = 8 ta thấy hiệu suất xử lý COD đạt  
▲Hình 4. Đồ thị biến thiên giá trị COD theo thời gian phản  
ứng  
của thời gian phản ứng đến hiệu suất xử lý COD được thể  
hiện trọng Bảng 2 và Hình 4.  
Số liệu Bảng 2 cho thấy, hiệu suất xử lý COD thay đổi  
theo thời gian phản ứng. Giá trị COD giảm mạnh trong 1  
giờ đầu tiên và hiệu suất xử lý đạt 60,7%. Đặc biệt, kết quả  
thí nghiệm cho thấy phản ứng diễn ra với tốc độ nhanh  
nhất trong 5 phút đầu (hiệu suất xử lý đạt 38,3%). Trong  
các giờ tiếp theo, COD tiếp tục giảm nhưng tốc độ phản  
ứng chậm. Hiệu suất sau 6 giờ đạt 71,5%, tức là trong 5 giờ  
tiếp theo hiệu suất quá trình chỉ tăng thêm 10,7%. Do vậy,  
có thể dừng thí nghiệm sau 60 phút vì nếu tiếp tục thì hiệu  
suất cũng được tăng thêm không đáng kể.  
Từ đồ thị Hình 4 nhận thấy xu hướng của đường biến  
thiên COD là rất dốc trong khoảng thời gian đầu và độ  
dốc giảm dần theo thời gian, thể hiện rằng hiệu quả quá  
trình khử COD mạnh hơn trong thời gian đầu tiên, và  
càng về sau thì tốc độ giảm COD càng chậm lại. Điều này  
có thể được giải thích bởi thành phần các chất hữu cơ dễ  
phân hủy và khó phân hủy trong dung dịch nước thải.  
Ngoài các chất hữu cơ dễ phân hủy, trong nước thải dệt  
nhuộm còn có chứa các chất ô nhiễm với cấu tạo hóa học  
phức tạp. Để xử lý các chất hữu cơ này cần thời gian để  
các gốc *OH bẻ gãy các liên kết bền vững, chất hữu cơ mới  
được tạo thành có cấu tạo hóa học đơn giản hơn lại tiếp  
tục tham gia phản ứng oxy hóa. Do đó trong thời gian đầu  
các chất hữu cơ dễ phân hủy tham gia phản ứng ôxy hóa  
khiến COD giảm nhanh và trong nước thải còn lại chủ  
▲Hình 5. Khả năng xử lý COD tại các giá trị pH khác nhau  
Bảng 3. Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý COD  
pH Hiệu quả xử lý COD (%) sau thời gian phản ứng  
0 phút 5 phút 20 phút 40 phút 60 phút  
4
6
8
9
10  
0
0
0
0
0
22,6  
27,2  
38,3  
36,5  
33,0  
33,3  
40,0  
46,5  
43,3  
41,2  
39,6  
46,8  
52,6  
50,0  
47,4  
47,9  
49,7  
60,7  
52,9  
51,3  
Bảng 4. Ảnh hưởng của liều lượng sục khí ôzôn đến hiệu quả xử lý COD  
Mẫu pH Liều lượng khí Hàm lượng COD (mg/L) sau thời gian phản ứng  
ôzôn  
(L/phút.L  
0 phút  
5 phút  
20 phút 40 phút 60 phút  
nước thải)  
1
2
3
8
7,5  
624  
0
624  
0
624  
0
312  
50,0  
385  
38,3  
454  
27,2  
287  
54,0  
332  
46,8  
365  
41,5  
253  
59,5  
296  
52,6  
326  
47,8  
198  
69,2  
245  
60,7  
285  
54,3  
Hiệu suất xử lý COD (%)  
3,5  
Hiệu suất xử lý COD (%)  
2,5  
Hiệu suất xử lý COD (%)  
8
▲Hình 6. Ảnh hưởng của liêu  
lượng sục khí ôzôn đến hiêu  
quả xử lý COD  
8
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 25  
cao hơn ở các pH còn lại và COD đầu ra là 245 mg/L, gần Như vậy, hiệu quả xử lý COD tăng khi liều lượng ozon  
ngưỡng quy chuẩn thải cột B (Hình 5).  
tăng vì nồng độ ôzôn trong nước tăng có vai trò thúc đẩy  
quá trình tạo gốc *OH mạnh mẽ hơn. Như vậy, sục ôzôn  
với liều lượng 7,5 (L/phút.L nước thải) sau 60 phút, COD  
đầu ra đạt 198 mg/L, đạt QCVN 13:2015/BTNMT cột B.  
Kết quả này tương đối hợp lý vì theo lý thuyết của quá  
trình ôxy hóa nâng cao, trong môi trường kiềm thì hiệu  
quả của quá trình sản sinh gốc *OH là tốt hơn theo phản  
ứng:  
4. Kết luận  
3O3 + OH- + H+ → 2OH + 4O2  
Từ kết quả nghiên cứu khả năng xử lý COD trong  
nước thải dệt nhuộm bằng các phương pháp ôxy hóa  
nâng cao (ôzôn đơn lẻ, UV đơn lẻ và ôzôn/UV kết hợp)  
có thể rút ra một số kết luận sau:  
Hiệu suất xử lý COD của phương pháp sử dụng kết  
hợp ôzôn/UV là cao nhất so với phương pháp sử dụng  
UV đơn lẻ và ôzôn đơn lẻ.  
Hiệu quả xử lý COD bằng phương pháp kết hợp ôzôn/  
UV phụ thuộc vào thời gian phản ứng, pH và liều lượng  
sục khí ôzôn. Kết quả cho thấy ở giá trị pH = 8, thời gian  
phản ứng 60 phút và liều lượng khí ôzôn bằng 7,5 L/phút.  
L nước thải là điều kiện tối ưu, cho phép xử lý COD trong  
nước thải dệt nhuộm đạt quy chuẩn xả thải theo QCVN  
3.4. Ảnh hưởng của liều lượng khí ôzôn đến hiệu  
suất xử lý COD bằng phương pháp ôzôn/UV kết hợp  
Liều lượng khí ôzôn là một trong những yếu tố quan  
trọng ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý COD. Khảo sát ảnh  
hưởng của liều lượng khí ôzôn đến khả năng xử lý COD  
trong mẫu nước thải với nồng độ COD ban đầu là 624  
mg/L, pH =8. Khoảng liều lượng khí ozon khảo sát từ 2,5  
- 7,5 (L O3/phút.L nước thải). Kết quả thí nghiệm được thể  
hiện trình bày trong Bảng 4 và Hình 6.  
Từ Bảng 4 cho thấy, khi tăng liều lượng sục khí ôzôn  
từ 2,5 (L/phút.L nước thải) đến 7,5 (L/phút.L nước thải),  
COD đầu ra có xu hướng giảm dần, sau 60 phút hàm lượng  
COD lần lượt giảm còn 285 mg/L và 198 mg/L, tương ứng  
hiệu quả xử lý COD tăng từ 54,3% lên 69,2% (Hình 6). 13:2015/BTNMT cột B■  
ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghê, Tập 32, Số  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
4, Tr. 97-103.  
1. Hiêp hội Dêt may Viêt Nam (2019), Báo cáo tình hình phát  
5. QCVN 13:2008/BTNMT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  
nước thải công nghiêp dêt may. Hà Nội - 2008.  
6. TCVN 6491: 1999. Chất lượng nước – Xác định nhu cầu  
oxy hóa học. Hà Nội – 1999.  
7. Mohamed A. Hassaan, Ahmed El Nemr (2017). Advanced  
Oxidation Processes for Textile Wastewater Treatment.  
International Journal of Photochemistry and Photobiology,  
2(3), 85-93.  
8. BaigS,LiechtiP.A(2001).Ozonetreatmentforbiorefractory  
COD removal. Water Sci. Technol, 43, 197–204.  
triển ngành dêt may Viêt Nam 6 tháng đầu năm 2019.  
2. Trần Văn Nhân, Ngô ị Nga (2002). Giáo trình Công  
nghê xử lý nước thải. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.  
3. Trần Mạnh Trí, Trần Mạnh Trung (2006), Các quá trình  
ôxy hóa nâng cao trong xử lý nước và nước thải, NXB khoa  
học kỹ thuật, Hà Nội.  
4. Vũ ị Bích Ngọc, Hoàng ị Hương Huế, Trịnh Lê  
Hùng (2016). Xử lý màu nước thải dêt nhuộm thực tế  
bằng phương pháp ôxy hóa nâng cao. Tạp chí Khoa học  
RESEARCH ON THE APPLICATION OF ADVANCED OXYGATION  
METHODS COMBINING OZON AND UV TIA IN THERMAL WASTE  
WATER TREATMENT IN PHO NOI INDUSTRIAL ZONES  
Nguyen Ti Phuong Dung, Lu Ti Yen, Pham Ti Ngoc Tuy  
University of Transport Technology  
ABSTRACT  
e paper presents the results of an investigation of using advanced oxidation processes treatment using  
O3 in combination with UV of textile wastewater of Pho Noi B Industrial Park (Hung Yen province). e  
parameters that greatly affect this process as the oxidizing agent (UV, O3 and O /UV combined), reaction  
time, pH and ozone dosage were investigated. Experiment showed that the 3highest effectiveness was  
achieved in the O3/UV combination compared to single agents as O3 and UV. At pH = 8 and ozone dosage  
of 3.5 liters/min.liter of wastewater, output COD reduced from 624 mg/L to 198 mg/L, equivalent to COD  
removal efficiency of 69.2% for 60 minutes reaction, reaching QCVN 13:2015/BTNMT.  
Key words: Textile wastewater, advanced oxidation processes, COD.  
26 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
pdf 5 trang yennguyen 19761 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp ôxy hóa nâng cao kết hợp ôzôn và tia UV trong xử lý nước thải dệt nhuộm khu công nghiệp Phố Nối", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_phuong_phap_oxy_hoa_nang_cao_ket_hop_ozo.pdf