Bước đầu phân vùng chất lượng nước vùng biển ven bờ Hải Phòng bằng WQI

BƯỚC ĐẦU PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÙNG BIỂN  
VEN BỜ HẢI PHÒNG BẰNG WQI  
Lê Văn Nam1,3  
Đặng Kim Chi 2  
Lê Xuân Sinh, Nguyễn ị u Hà3  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước bằng chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) đã được  
thực hiện trong vùng biển ven bờ Hải Phòng vào mùa khô và mùa mưa năm 2019. Kết quả phân vùng cho  
thấy, chất lượng nước vùng biển ven bờ Hải Phòng ở mức từ rất xấu cho đến rất tốt. Chất lượng nước biển  
mùa mưa thấp hơn mùa khô. Trong cả mùa khô và mùa mưa, các khu vực cửa sông Bạch Đằng, cửa sông Lạch  
Tray, cửa sông Văn Úc và cửa sông ái Bình đều có chất lượng nước ở mức rất xấu lúc nước ròng (WQI từ  
19 đến 22) và mức xấu lúc nước lớn (WQI từ 43 đến 45). Vùng biển Cát Bà có chất lượng nước ở mức tốt và  
rất tốt (WQI từ 75 đến 99), tuy nhiên khu vực bến Bèo có chất lượng nước ở mức trung bình (WQI từ 62 đến  
73). Chất lượng nước tại khu vực vùng ngoài ở mức tốt và rất tốt (WQI từ 88 đến 99).  
Từ khóa: WQI, phân vùng, chất lượng nước, nước biển ven bờ.  
Nhận bài: 25/2/2021; Sưa chha: 1 /3/2021; ;uyêt ̣tng: 2:/3/2021.  
1. Mở đầu  
muốn biết một cách tổng thể chất lượng nước của một  
vùng nào đó, thì thường gặp nhiều khó khăn, do đây  
không phải là lĩnh vực chuyên sâu của họ.  
Hải Phòng là thành phố biển, nằm ở vùng duyên hải  
Bắc Bộ, là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc. Với  
vị trí thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả vị  
thế, cảnh quan, nên khu vực biển ven bờ Hải Phòng có  
hoạt động kinh tế biển sôi động như: cảng biển, đánh  
bắt và nuôi trồng thủy sản, du lịch và dịch vụ… Tuy  
nhiên, các hoạt động kinh tế đã và đang tác động mạnh  
đến môi trường của địa phương gây ô nhiễm, thu hẹp  
không gian bãi triều. Một trong những vấn đề đặt ra  
hiện nay là cần có những nghiên cứu đánh giá tổng thể  
với độ tin cậy cao về hiện trạng chất lượng nước vùng  
biển ven bờ Hải Phòng, bởi các nghiên cứu này sẽ là cơ  
sở để đề xuất các giải pháp BVMT và hướng tới mục  
tiêu phát triển bền vững vùng biển Hải Phòng.  
Nghiên cứu tính toán WQI là cấp bách và thiết thực,  
vì nó cho phép đánh giá và báo cáo các thông tin theo  
một hình thức phù hợp cho tất cả các đối tượng quan  
tâm (bao gồm cả những nhà quản lý, cộng đồng không  
phải là chuyên gia môi trường nước) đến chất lượng  
môi trường nước vùng cửa sông. Việc phân vùng chất  
lượng nước theo WQI có hiệu quả cao về khoa học và  
kinh tế vì giúp cơ quan quản lý môi trường đánh giá  
về hiện trạng và diễn biến chất lượng nước trong toàn  
vùng; giúp chính quyền lựa chọn để giải quyết vấn đề  
ô nhiễm nước tại các khu vực trong vùng cửa sông bị ô  
nhiễm ở mức cao; tiết kiệm kinh phí so với các phương  
pháp đánh giá chất lượng nước truyền thống (phương  
pháp đánh giá chất lượng nước truyền thống là cần  
phải tiến hành quan trắc số lượng lớn với nhiều điểm,  
thông số và tần suất quan trắc).  
eo cách đánh giá truyền thống về chất lượng  
nước (giá trị của thông số quan trắc được đối sách với  
tiêu chuẩn/quy chuẩn môi trường) thường tổng hợp  
các giá trị của từng thông số trong một khu vực nào đó  
và hình thức báo cáo này chỉ phục vụ cho các chuyên  
Trên thế giới hiện nay tùy thuộc vào vị trí địa lý,  
điều kiện tự nhiên, hiện trạng chất lượng môi trường,  
gia am hiểu về lĩnh vực môi trường. Trong khi đó, các hiện trạng quy định quản lý của mỗi vùng lãnh thổ,  
mỗi quốc gia mà có nhiều cách tiếp cận và xây dựng mô  
nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng  
1 Học viên Khoa học và Công nghê - Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghê Viêt Nam  
2 Hội Bảo vê iên nhiên và Môi trường Viêt Nam  
3 Viên Tài nguyên và Môi trường biển - Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghê Viêt Nam  
60 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
hình WQI khác nhau, nhiều WQI đã được phát triển  
và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới (Mỹ, Canađa, Bỉ,  
ổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, ái Lan, Malaixia, Đài Loan…).  
Một trong những bộ chỉ số nổi tiếng và được áp dụng  
rộng rãi trên thế giới là bộ chỉ số WQI-NSF (National  
Sanitation Foundation - Water Quality Index) của Quỹ  
vệ sinh Quốc gia Mỹ [1, 2, 3].  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. ời gian và phạm vi nghiên cứu  
Vùng biển ven bờ Hải Phòng được tiến hành khảo  
sát vào mùa khô (tháng 3) và mùa mưa (tháng 8) trong  
năm 2019. Vị trí các điểm thu mẫu được trình bày  
trong hình 1. Các điểm khảo sát bao gồm 4 khu vực:  
(1) Khu vực biển ven bờ phía Đông Bắc Đồ Sơn,  
cửa Nam Triệu đặc trưng cho khu vực biển ven bờ cửa  
sông hình phễu, gồm các điểm khảo sát từ ĐBĐS 1 đến  
ĐBĐS 27;  
(2) Khu vực biển ven bờ phía Tây Nam bán đảo Đồ  
Sơn đặc trưng cho khu vực biển ven bờ cửa sông châu  
thổ, gồm các điểm khảo sát từ TNĐS 1 đến TNĐS 12;  
(3) Khu vực ven biển đảo Cát Bà đặc trưng cho vùng  
biển vũng vịnh của đảo, gồm các điểm khảo sát từ CB  
1 đến CB 11;  
Tại Việt Nam, một số nhà khoa học đã đưa ra các  
dạng công thức tính WQI chủ yếu cho môi trường  
nước mặt. Đi đầu trong các công trình nghiên cứu này  
là Phạm Ngọc Hồ, Lê Trình và Tôn ất Lãng[1]. Tổng  
cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban  
hành Sổ tay hướng dẫn tính toán WQI mặt lục địa theo  
Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 [4].  
Bên cạnh những nghiên cứu WQI áp dụng đánh giá  
chất lượng nước mặt, tại Việt Nam cũng đã có những  
nghiên cứu về WQI áp dụng cho đánh giá chất lượng  
nước đầm phá ven biển và vùng biển ven bờ, cụ thể  
có những nghiên cứu tiêu biểu sau: Phạm Ngọc Hồ  
(2011) đã xây dựng phương pháp đánh giá tổng hợp  
chất lượng nước (TWQI) có trọng số và quy chuẩn  
về một thông số, qua đó tác giả đã áp dụng phương  
pháp này để đánh giá chất lượng nước ven biển anh  
Hóa [5]. Nguyễn ị ế Nguyên (2014) đã nghiên  
cứu phát triển phương pháp tính WQI-NSF để đánh  
giá chất lượng nước biển vịnh Hạ Long [1]. Phạm Hữu  
Tâm (2016) đã áp dụng phương pháp tínhWQI-NSF  
để đánh giá chất lượng môi trường tại các trạm quan  
trắc môi trường biển phía Nam Việt Nam trong 5 năm  
(2011-2015) [6]. Trương Văn Đàn và nnk (2018) đã  
áp dụng phương pháp tínhWQI-NSF để đánh giá chất  
lượng nước đầm Phá Tam Giang - Cầu Hai [7].  
(4) Khu vực vùng ngoài, đây là khu vực chịu tác  
động của 3 khu vực là Tây Nam Đồ Sơn, Đông Bắc Đồ  
Sơn và đảo Cát Bà, gồm các điểm khảo sát từ VN 1 đến  
VN 7.  
▲Hình 1. Sơ ̣ồ khảo sát thu mẫu  
Các thông số quan trắc là thông số đã được lựa  
chọn để đánh giá chất lượng nước vùng biển ven bờ  
Hải Phòng, bao gồm: Ôxy hòa tan (DO), nitrat (NO3),  
Vấn đề quản lý cửa sông ven biển theo không gian  
là một phương thức quản lý mới đang dần được áp  
dụng tại các tỉnh ven biển của Việt Nam, trong đó  
có Hải Phòng. Phân vùng quản lý chất lượng nước là  
một trong những hợp phần quan trọng của quá trình  
quy hoạch và quản lý sử dụng không gian cửa sông  
ven biển. Tuy nhiên đến nay chưa có một nghiên cứu  
chuyên sâu về phân vùng chất lượng nước vùng biển  
ven bờ Hải Phòng bằng WQI. Bên cạnh đó còn thiếu  
các nghiên cứu về công cụ phân vùng chất lượng môi  
trường cửa sông ven biển và quy hoạch sử dụng không  
gian vùng. Vì vậy, bài viết này bước đầu áp dụng WQI  
(WQI) để phân vùng chất lượng môi trường nước vùng  
biển ven bờ Hải Phòng.  
+
3
amoni (NH ), phosphat (PO4 ), COD, TSS, tổng  
coliform, chl4orophyll-a, tổng dầu mỡ khoáng, kim loại  
nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, As, Hg, Fe), tổng phenol, xyanua.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
a. Phương pháp lấy mẫu  
Mẫu nước biển được thu bằng thiết bị Niskin Van  
Dorn Sampler thể tích 5 lít theo ông tư số 24/2017/  
TT-BTNMT - quy định kỹ thuật quan trắc môi trường  
và ông tư số 34/2010/TT-BTNMT - quy định về kỹ  
thuật điều tra, khảo sát hải văn, hóa học và môi trường  
ven bờ, hải đảo. ông số nhiệt độ và ôxy hòa tan (DO)  
được đo bằng máy đo DO (550A YSI - Mỹ). Độ muối  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 61  
được đo bằng khúc xạ kế (Atago - Nhật). Mẫu được xử Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố WQI Việt  
lý và bảo quản theo hướng dẫn của Standard methods Nam [4] và của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (NSF) [10].  
for Examination of Waster water. 23 Edition, 2017 Trên cơ sở đó, 10 thông số được sử dụng để tính WQI  
-
APHAAWWA-WPCF [8].  
bao gồm: Oxy hòa tan (DO), nitrat (NO3 ), amoni  
+
3-  
(NH4 ), phosphat (PO4 ), COD, TSS, tổng coliform,  
chlorophyll-a, tổng dầu mỡ khoáng, sắt (Fe). Nghiên  
cứu chia 10 thông số lựa chọn thành 6 nhóm thông số  
tính WQI, bao gồm:  
b. Phương pháp phân tích mẫu nước biển  
Phương pháp xác định giá trị các thông số trong  
nước biển được thực hiện trên Bảng 1.  
Nhóm 1 bao gồm các thông số: DO, COD;  
Bảng 1. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí  
nghiệm  
+
-
3-  
Nhóm 2 bao gồm các thông số: NH4 , NO3 , PO4 ,  
chlorophyll-a;  
TT ông số  
Số hiệu của phương pháp  
TCVN 6625:2000  
Nhóm 3 bao gồm thông số: TSS;  
Nhóm 4 bao gồm thông số: Dầu mỡ khoáng;  
Nhóm 5 bao gồm thông số: Fe;  
1
2
3
4
5
6
TSS  
COD  
NH4  
TCVN 6491-1999  
+
SMEWW-4500-NH3 F: 2017  
SMEWW-4500P.E:2017  
SMEWW-4500 - NO3-: 2017  
SMEWW-5520 F: 2017  
3-  
Nhóm 6 bao gồm thông số: Coliform.  
PO4  
-
Tính toán chỉ số phụ (qi)  
Giá trị chỉ số phụ của thông số i (q’) tại một hàm  
lượng bất kỳ C’ được tính theo công thức sau [5]:  
NO3  
Tổng dầu mỡ  
khoáng  
Ci+1 −C '  
Ci+1 −Ci  
7
8
Sắt (Fe)  
Coliform  
SMEWW-300-3500 B, 2017  
TCVN 6187-1-1996 (ISO  
9308-1-1990)  
q' = (qi − qi+1)  
+ qi+1  
Trong đó:  
9
Chlorophyll-a  
SMEWW-10200H: 2017  
C : Hàm lượng của thông số quan trắc được quy  
địnhitrong bảng 2 tương ứng với mức i.  
c. Phương pháp tính WQI (WQI)  
Lựa chọn thông số tính WQI  
C : Hàm lượng của thông số quan trắc được quy  
địnhit+r1ong bảng 2 tương ứng với mức i+1.  
q’: Chỉ số phụ tương ứng với hàm lượng C’.  
qi: Chỉ số phụ ở mức i đã cho trong bảng 2 tương  
Có nhiều thông số để đánh giá chất lượng nước  
biển, sự lựa chọn các thông số khác nhau để tính WQI  
phụ thuộc vào mục đích sử dụng nguồn nước và mục  
tiêu của WQI [9]. Các thông số sử dụng để tính WQI  
cho vùng biển ven bờ Hải Phòng được lựa chọn dựa  
trên cơ sở: Số liệu khảo sát chất lượng nước biển hiện  
có tại khu vực nghiên cứu; tham khảo hướng dẫn của  
Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) về việc ban hành  
ứng với giá trị Ci.  
qi+1: Chỉ số phụ ở mức i+1 cho trong bảng 2 tương  
ứng với giá trị Ci+1.  
C’: Hàm lượng của thông số quan trắc được đưa vào  
tính toán WQI.  
Bảng 2. Bảng quy định các giá trị chỉ số phụ qi tương ứng với hàm lượng Ci  
i
qi  
Giá trị nồng độ Ci ứng với từng thông số  
+
%DOBH  
Dầu mỡ  
Fe (mg/l)  
TSS (mg/l)  
N-NH4 (mg/l)  
khoáng (mg/l)  
1
2
3
4
5
i
100  
75  
50  
25  
1
100  
65  
40  
KPH  
0,1  
0,2  
0,5  
> 0,5  
3-  
< 0,5  
0,5  
0,8  
1,0  
>1,0  
≤ 20  
50  
-
100  
>100  
≤ 0,07  
0,3  
0,5  
1
20  
<20  
>1  
-
qi  
N-NO3 (mg/l) P-PO4 (mg/l) Chlorophyll-a (µg/l) COD (mgO2/l)  
Coliform (CFU/100ml)  
1
2
3
4
5
100  
75  
50  
25  
1
≤ 0,02  
0,06  
0,18  
0,36  
>0,36  
≤ 0,015  
0,045  
0,3  
0,6  
>0,6  
≤ 1,4  
2
10  
20  
>20  
≤ 3  
4
10  
20  
>20  
500  
1000  
1500  
2000  
>2000  
62 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
Tính toán chỉ số cuối cùng (tính các giá trị WQI biển không có sự biến động lớn và nằm trong giá trị  
theo công thức toán học xác định)  
giới hạn (GTGH) của quy chuẩn QCVN10-MT:2015/  
BTNMT.  
Giá trị COD trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 1,2 đến  
9,5 mg/l, trung bình là 4,2 mg/l; vào mùa mưa, giá trị  
COD nằm trong khoảng từ 1,3 đến 13,3 mg/l, trung  
bình là 5,3 mg/l.  
Công thức WQI áp dụng cho vùng biển ven bờ Hải  
Phòng, như sau:  
0,44  
0,22  
q
.0,11+ q .0,11+ q .0,11+ qChlorophyll−a.0,11  
NH4+  
NO3−  
PO43−  
q
DO .0,10 + qCOD.0,12  
0,08  
WQIHP  
=
.
.qTSS 0,09.qdau0,09.qFe0,08.qcoliform  
0, 22  
0, 44  
Trong đó:  
Hàm lượng nitrat trong nước biển ở vùng biển ven  
bờ Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 11,9  
đến 335,2 µg/l, trung bình là 139,1 µg/l; vào mùa mưa,  
hàm lượng nitrat nằm trong khoảng từ 20,6 đến 410,3  
µg/l, trung bình là 168,2 µg/l.  
Hàm lượng amoni trong nước biển ở vùng biển ven  
bờ Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 19,9  
đến 170,1 µg/l, trung bình là 93,6 µg/l; vào mùa mưa,  
hàm lượng amoni trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng nằm trong khoảng từ 25,9 đến 253,9 µg/l,  
trung bình là 110,2 µg/l.  
Hàm lượng phosphat trong nước biển ở vùng biển  
ven bờ Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ  
5,02 đến 72,15 µg/l, trung bình là 29,11 µg/l; vào mùa  
mưa, hàm lượng phosphate nằm trong khoảng từ 7,12  
đến 102,37 µg/l, trung bình là 44,55 µg/l.  
Hàm lượng chlorophyll-a trong nước biển ở vùng  
biển ven bờ Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng  
từ 0,5 đến 6,8 µg/l, trung bình là 3,4 µg/l; vào mùa mưa,  
hàm lượng chlorophyll-a nằm trong khoảng từ 0,8 đến  
11,3 µg/l, trung bình là 4,7 µg/l.  
Hàm lượng dầu trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ "không  
phát hiện" đến 0,8 mg/l, trung bình là 0,2 mg/l; vào mùa  
mưa, hàm lượng dầu nằm trong khoảng từ "không phát  
hiện" đến 0,9 mg/l, trung bình là 0,2 mg/l.  
Chỉ số coliform trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 60 đến  
2830 CFU/100ml, trung bình là 765 CFU/100ml; vào  
mùa khô, chỉ số coliform nằm trong khoảng từ 130 đến  
3500 CFU/100ml, trung bình là 1087 CFU/100ml  
Hàm lượng Fe trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 0,24  
đến 0,75 mg/l, trung bình là 0,47 mg/l; vào mùa mưa,  
hàm lượng Fe nằm trong khoảng từ 0,26 đến 0,86 mg/l,  
trung bình là 0,56 mg/l.  
Hàm lượng TSS trong nước biển ở vùng biển ven bờ  
Hải Phòng vào mùa khô nằm trong khoảng từ 7,3 đến  
129,4 mg/l, trung bình là 43,9 mg/l; vào mùa mưa, hàm  
lượng TSS nằm trong khoảng từ 9,7 đến 198,4 mg/l,  
trung bình là 64,0 mg/l.  
q :  
Chỉ số phụ của thông số DO  
Chỉ số phụ của thông số COD  
DO  
qCOD  
:
+
qNH ꢀ  
:
Chỉ số phụ của thông số NH4  
4
-
qNOꢀ  
:
Chỉ số phụ của thông số NO3  
3
3-  
qPO  
:
3ꢀ Chỉ số phụ của thông số PO4  
4
qChlorophyllꢀa  
:
Chỉ số phụ của thông số chlorophyll-a  
q :  
Dau  
Chỉ số phụ của thông số TSS  
:
TSS  
q
Chỉ số phụ của thông số dầu mỡ khoáng  
q :  
Chỉ số phụ của thông số Fe  
Coliform  
Fe  
q
:
Chỉ số phụ của thông số coliform  
ang phân loại chất lượng nước theo WQI  
Đánh giá chất lượng nước theo QCVN 10-MT:2015/  
BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước biển) và thang phân loại chất lượng nước theo  
WQI. ang phân cấp chất lượng nước biển (5 cấp)  
được trình bày trong bảng 3.  
Bảng 3. ang phân loại chất lượng nước biển ven bờ  
TT  
1
WQI  
99 - 100  
75 - 98  
50 - 74  
25 - 49  
1 - 24  
Chất lượng nước  
Rất tốt  
2
3
4
5
Tốt  
Trung bình  
Xấu  
Rất xấu  
2.3. Phương pháp phân vùng chất lượng nước  
theo WQI  
Vùng biển ven bờ Hải Phòng sẽ được phân ra thành  
các phân vùng chất lượng nước từ rất xấu đến rất tốt  
theo thang phân loại WQI cho vùng biển ven bờ Hải  
Phòng và được quy định bằng các màu khác nhau.  
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Mapinfo Professional  
16 và phần mềm Arcgis để lập các bản đồ phân vùng  
chất lượng nước biển.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Chất lượng nước vùng biển ven bờ Hải Phòng  
Môi trường nước vùng biển ven bờ Hải Phòng có  
sự biến động chất lượng theo thời gian và theo không  
gian của từng thông số môi trường nước. Giá trị của các  
thông số hóa lý như nhiệt độ, pH, độ mặn và hàm lượng  
các kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, As, Hg) trong nước  
Giá trị chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, chất dinh  
dưỡng, dầu mỡ khoáng, coliform, Fe trong nước khu  
vực Đông Bắc Đồ Sơn, Tây Nam Đồ Sơn và khu vực  
ven bờ huyện đảo Cát Hải (khu vực cảng cá, khu dân  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 63  
cư và nơi có hoạt động tàu thuyền diễn ra mạnh) có Hải Phòng dao động trong phạm vi rất rộng (ở mức từ  
xu hướng tăng lên, vượt quá GTGH theo quy chuẩn  
QCVN10-MT:2015/BTNMT và ảnh hưởng trực tiếp  
chất lượng nước các khu vực bảo tồn và nuôi trồng  
thủy sản. Do vậy, các vấn đề chất lượng nước cần quan  
tâm là ô nhiễm chất dinh dưỡng, chất hữu cơ, dầu mỡ,  
chất rắn lơ lửng, coliform, Fe. Giá trị của các thông số  
chất lượng nước trong mùa mưa thường cao hơn mùa  
khô do lượng mưa tăng cao trong thời gian này cuốn  
trôi nhiều chất thải đổ ra biển hơn mùa khô. Giá trị của  
các thông số chất lượng nước trong pha triều xuống  
(nước ròng) lớn hơn trong pha triều lên (nước lớn) do  
khu vực nghiên cứu chịu tác động của thủy triều với  
biên độ triều lớn nên trong pha triều xuống, dòng triều  
sẽ đưa nhiều chất ô nhiễm ven bờ ra biển.  
rất xấu cho đến rất tốt).  
Kết quả phân vùng chất lượng nước cho thấy, chất  
lượng nước biển mùa mưa thấp hơn mùa khô. Trong mùa  
khô và mùa mưa, các khu vực cửa sông Bạch Đằng, cửa  
sông Lạch Tray, cửa sông Văn Úc và cửa sông ái Bình  
đều có chất lượng nước ở mức rất xấu lúc nước ròng (WQI  
từ 19 đến 22) và mức xấu lúc nước lớn (WQI từ 43 đến 45).  
Vùng biển Cát Bà có chất lượng nước ở mức tốt và rất tốt  
(WQI từ 75 đến 99), tuy nhiên khu vực bến Bèo có chất  
lượng nước ở mức trung bình (WQI từ 62 đến 73). Chất  
lượng nước tại khu vực vùng ngoài ở mức tốt và rất tốt  
(WQI từ 88 đến 99). Về mùa mưa, vùng chất lượng nước  
rất xấu, xấu và trung bình có xu hướng mở rộng (vùng  
chất lượng nước tốt và rất tốt có xu hướng thu hẹp) so với  
mùa khô (từ hình 2 đến hình 5). Tác giả Nguyễn ị ế  
Nguyên (2014) đã phân vùng vịnh Hạ Long thành 5 phân  
khu chất lượng nước khác nhau (Các phân khu chất lượng  
nước tốt đến rất tốt (WQI = 92-100) chủ yếu nằm ở vùng  
3.2. Phân vùng chất lượng nước vùng biển ven bờ  
Hải Phòng  
Kết quả tính toán WQIHP theo phương pháp trình bày  
ở trên được thống kê ở Bảng 4 và Bảng 5. Từ các giá trị  
WQI cho thấy, chất lượng nước toàn vùng biển ven bờ lõi vịnh và phần đệm phía biển. Các phân khu chất lượng  
Bảng 4. Giá trị WQI tại các điểm khảo sát vùng biển ven bờ Hải Phòng trong mùa khô  
Khu vực khảo sát  
Giá trị  
Nước ròng  
Chất lượng nước  
Nước lớn  
Chất lượng nước  
WQI  
22  
88  
57  
38  
86  
63  
64  
98  
90  
90  
96  
94  
WQI  
44  
92  
79  
56  
92  
78  
65  
100  
92  
Đông Bắc Đồ Sơn  
(n=27)  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Từ rất xấu đến tốt  
Từ xấu đến tốt  
Tây Nam Đồ Sơn  
(n= 12)  
Từ xấu đến tốt  
Từ trung bình đến  
tốt  
Cát Bà (n=11)  
Từ trung bình đến  
tốt  
Từ trung bình đến  
rất tốt  
Vùng ngoài (n=7)  
Tốt  
95  
99  
97  
Từ tốt đến rất tốt  
Trung bình  
Bảng 5. Giá trị WQI tại các điểm khảo sát vùng biển ven bờ Hải Phòng trong mùa mưa  
Khu vực khảo sát  
Giá trị  
Nước ròng  
Chất lượng nước  
Nước lớn  
WQI  
19  
76  
45  
21  
70  
41  
62  
98  
89  
88  
97  
93  
WQI  
43  
89  
69  
45  
88  
70  
64  
99  
90  
94  
99  
97  
Chất lượng nước  
Từ xấu đến tốt  
Đông Bắc Đồ Sơn  
(n=27)  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Từ rất xấu đến tốt  
Tây Nam Đồ Sơn  
(n= 12)  
Từ rất xấu đến  
trung bình  
Từ xấu đến tốt  
Cát Bà (n=11)  
Từ trung bình đến  
tốt  
Từ trung bình đến  
rất tốt  
Vùng ngoài (n=7)  
Tốt  
Từ tốt đến rất tốt  
Trung bình  
64 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
▲Hình 2. Kết quả phân vùng ▲Hình 3. Kết quả phân ▲Hình 4. Kết quả phân vùng ▲Hình 5. Kết quả phân  
chất lượng nước vùng biển ven vùng chất lượng nước vùng chất lượng nước vùng biển ven vùng chất lượng nước vùng  
bờ Hải Phòng (mùa khô - nước biển ven bờ Hải Phòng (mùa bờ Hải Phòng (mùa mưa - biển ven bờ Hải Phòng (mùa  
ròng)  
khô - nước lớn)  
nước ròng)  
mưa - nước lớn)  
nước trung bình, xấu và rất xấu (WQI = 27 - 91) nằm ở  
vùng phụ cận và vùng đệm phía đất liền) [1]. Chất lượng  
nước biển tại các khu vực nghiên cứu đều có xu thế tăng từ  
khu vực gần bờ ra đến ngoài phía biển.  
Vùng chất lượng nước xấu, khu vực này có thể sử  
dụng cho hoạt động giao thông thủy, cảng biển hay một  
số mục đích sử dụng nước khác (không yêu cầu cao về  
chất lượng nước).  
Ảnh hưởng của dao động mực nước đã làm tăng  
cường phát tán vật chất từ lục địa ra phía ngoài vùng ven  
biển Hải Phòng nhưng cũng làm hạn chế hay mang vật  
chất trở lại vùng cửa sông trong pha triều lên. Sự dịch  
chuyển của các khối nước về phía Nam - Tây Nam cho  
thấy sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm về phía Nam  
vùng cửa sông ven biển Hải Phòng nhiều hơn về phía  
Bắc và Đông Bắc. Sự gia tăng của nguồn thải từ lục địa  
đã có tác động nhất định đến vùng cửa sông ven biển  
Hải Phòng. Những tác động đó mạnh hơn vào mùa mưa  
và tập trung nhiều ở gần các cửa Nam Triệu, Tây Nam  
Văn Úc và điểm nguồn thải ven bờ, còn khu vực ven biển  
phía Nam Cát Bà, Cát Hải và những khu vực khác bị ảnh  
hưởng ít (từ Hình 2 đến Hình 5).  
Dựa vào kết quả phân vùng chất lượng nước vùng  
biển ven bờ Hải Phòng, có thể đề xuất mục đích sử dụng  
nước cho các phân vùng như sau:  
Vùng chất lượng nước rất tốt, khu vực này có thể sử  
dụng được cho tất cả mục đích sử dụng nước; hàm lượng  
các thông số môi trường nước biển đều thấp hơn giá trị  
giới hạn theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT.  
Vùng chất lượng nước rất xấu, khu vực này có thể sử  
dụng cho hoạt động giao thông thủy và cảng biển; vùng  
chất lượng nước này đã bị ô nhiễm bởi dầu, chất dinh  
dưỡng, COD, Chl-a, TSS, Fe và coliform ở mức cao.  
4. Kết luận  
Giá trị chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng,  
dầu mỡ khoáng, coliform, Fe trong nước khu vực Đông  
Bắc Đồ Sơn, Tây Nam Đồ Sơn và khu vực ven bờ huyện  
đảo Cát Hải (khu vực cảng cá, khu dân cư và nơi có  
hoạt động tàu thuyền diễn ra mạnh) có xu hướng tăng  
lên, vượt quá giá trị giới hạn theo quy chuẩn QCVN10-  
MT:2015/BTNMT và ảnh hưởng trực tiếp chất lượng  
nước các khu vực bảo tồn và nuôi trồng thủy sản. Kết  
quả WQI và phân vùng chất lượng nước cho thấy, chất  
lượng nước vùng biển ven bờ Hải Phòng ở mức từ rất  
xấu cho đến rất tốt. Chất lượng nước biển mùa mưa thấp  
hơn mùa khô. Trong mùa khô và mùa mưa, các khu vực  
cửa sông Bạch Đằng, cửa sông Lạch Tray, cửa sông Văn  
Úc và cửa sông ái Bình đều có chất lượng nước ở mức  
rất xấu lúc nước ròng (WQI từ 19 đến 22) và mức xấu lúc  
Vùng chất lượng nước tốt, khu vực này có thể sử nước lớn (WQI từ 43 đến 45). Vùng biển Cát Bà có chất  
dụng được cho tất cả mục đích sử dụng nước (ngoại  
trừ nuôi trồng một số loài hải sản yêu cầu chất lượng  
nước "rất tốt").  
lượng nước ở mức tốt và rất tốt (WQI từ 75 đến 99), tuy  
nhiên khu vực bến Bèo có chất lượng nước ở mức trung  
bình (WQI từ 62 đến 73). Chất lượng nước tại khu vực  
vùng ngoài ở mức tốt và rất tốt (WQI từ 88 đến 99). Về  
mùa mưa, vùng chất lượng nước rất xấu, xấu và trung  
bình có xu hướng mở rộng (vùng chất lượng nước tốt và  
rất tốt có xu hướng thu hẹp) so với mùa khô■  
Vùng chất lượng nước trung bình, khu vực này có  
thể sử dụng cho hoạt động du lịch, giải trí, thể thao  
(không tiếp xúc trực tiếp với nước), hoạt động giao  
thông thủy và cảng biển.  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 65  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Thế Nguyên, 2014. Nghiên cứu phân vùng  
số. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và  
Công nghê 27, Số 5S (2011) 112-119.  
chất lượng nước vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và ̣ề 6. Phạm Hhu Tâm, 2016. Áp dụng WQI ̣ể ̣ánh giá chất  
xuất giải pháp quản lý và sư dụng. Luận án tiến sĩ khoa  
học môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên -  
Đại học Quốc Gia Hà Nội.  
lượng môi trường tại các trạm quan trắc môi trường  
biển phía Nam Viêt Nam trong 5 năm gần ̣ây (2011-  
2015). Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái  
̣ất và Môi trường, Tập 32, Số 4 (2016) 36-45.  
2. Nguyễn Lê Tú Quỳnh, 2015. Nghiên cứu xây dựng WQI  
(water quality index - WQI) trong phân vùng chất lượng 7. Trương Văn Đàn và nnk, 2018. Xây dựng WQI ̣ầm  
nước các sông trên ̣ịa bàn tỉnh Thái Nguyên. Luận án  
tiến sỹ khoa học môi trường. Trường ̣ại học Khoa học  
Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Hà Nội.  
phá Tam Giang - Cầu Hai phụ vụ hoạt ̣ộng nuôi tôm.  
Tap chí Nông nghiêp & Phát triển Nông thôn (Bộ Nông  
nghiêp và Phát triển Nông thôn), số 15/2018, trang 94 -  
102.  
3. Ram Pal Singh et al., 2008. Selection of Suitable  
Aggregation Function for Estimation of Aggregate 8. APHA (2017), Standard Methods for the examination of  
Pollution Index for River Ganges in India. Journal of  
Environmental Engineering, Volume 134(8), pages 689–  
701.  
water and wastewater, 23th Edition.  
9. Trần Thị Yên, Nguyễn Thị Thanh Thùy, 2019. Sư dụng  
WQI hiêu chỉnh ̣ể ̣ánh giá chất lượng nước biển ven  
bờ tại biển Cưa Phú, Đồng Hới, Quảng Bình. Kỷ yếu Hội  
nghị Khoa học Địa lý toàn Quốc lần thứ XI năm 2019.  
Nhà xuất bản Thanh Niên, tháng 4 năm 2019.  
10. US Environmental Protection Agency, 1978. Water  
Quality Indices: A survey of indices used in the United  
States, U.S. Environmental Protection Agency, U.S.pp.  
4. Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường,  
2019. Quyết ̣ịnh Số: 1460/QĐ-TCMT ngày 12 tháng 11  
năm 2019, Về viêc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính  
toán và công bố WQI Viêt Nam (VN_WQI), Hà Nội.  
5. Phạm Ngọc Hồ, 2011. Phương pháp ̣ánh giá tổng hợp  
chất lượng nước có trọng số và quy chuẩn về một thông  
THE FIRST STEP OF WATER QUALITY ZONING IN HAI PHONG  
COASTAL AREA BY WATER QUALITY INDEX  
Le Van Nam  
Graduate University of Sciences and Technology - Vietnam Academy of Science and Technology  
Dang Kim Chi  
Vietnam association for conservation of nature and environment  
Le Xuan Sinh, Nguyen i u Ha  
Institute of marine environment and resources - Vietnam Academy of Science and Technology  
ABSTRACT  
Research on water quality zoning by water quality index (WQI) was taken in coastal areas of Hai Phong in the  
dry and rainy seasons in 2019. e zoning results show that the water quality of the coastal waters of Hai Phong  
ranges from very poor to excellent. During the dry and wet seasons, the areas of Bach Dang estuary, Lach Tray  
estuary, Van Uc estuary and ai Binh estuary all had very poor water quality during low water (WQI from 19 to  
22) and poor at high water (WQI from 43 to 45). e Cat Ba waters had good and very good water quality (WQI  
from 75 to 99), however the Ben Beo area had medium water quality (WQI from 62 to 73). e water quality in the  
outlying area was good and very good (WQI from 88 to 99).  
Key words: WQI, zoning, water quality, coastal seawater.  
66 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
pdf 7 trang yennguyen 16600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu phân vùng chất lượng nước vùng biển ven bờ Hải Phòng bằng WQI", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_phan_vung_chat_luong_nuoc_vung_bien_ven_bo_hai_phon.pdf