Giải pháp củng cố các tổ chức thủy lợi cơ sở đáp ứng quy định của luật thủy lợi - Bài học kinh nghiệm từ hợp phần nghiên cứu, nâng cao năng lực vận hành hệ thống thủy lợi tỉnh Ninh Thuận

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
GIẢI PHÁP CỦNG CỐ CÁC TỔ CHỨC THỦY LỢI CƠ SỞ  
ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THỦY LỢI - BÀI HỌC  
KINH NGHIỆM TỪ HỢP PHẦN NGHIÊN CỨU, NÂNG CAO  
NĂNG LỰC VẬN HÀNH HỆ THỐNG THỦY LỢI TỈNH NINH THUẬN  
Nguyễn Xuân Thịnh  
Trung tâm Tư vấn PIM  
Tóm tắt: Luật Thủy lợi ra đời và có hiệu lực từ 01/7/2018 đã thể hiện cách tiếp cận mới trong  
quản lý, khai thác công trình thủy lợi khi quan điểm chuyển từ phục vụ sang dịch vụ và lấy người  
sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi làm trung tâm. Theo đó, nhiều quy định liên quan đến quản lý,  
khai thác công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng cũng thay đổi so với trước, như quy định về  
mô hình, số lượng thành viên, điều lệ, quy chế hoạt động tổ chức thủy lợi cơ sở; yêu cầu năng lực  
của tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, khai thác công trình thủy lợi,… vì vậy, các tổ chức dùng  
nước hiện có cần phải được củng cố để phù hợp với Luật Thủy lợi. Thời hạn hoàn thành theo quy  
định là 3 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.  
Thực thi Luật Thủy lợi trong bối cảnh hầu hết các tổ chức dùng nước chưa đáp ứng được quy định  
là thách thức không nhỏ đối với các địa phương, đặc biệt đây là vấn đề phụ thuộc vào rất nhiều yếu  
tố khác nhau, đối tượng chịu tác động lớn,... do vậy, nếu không có giải pháp phù hợp thì khó có thể  
hoàn thành theo kế hoạch yêu cầu. Trong bài viết này, dựa trên kinh nghiệm thực hiện thành lập,  
củng cố các TCDN trong khuôn khổ Hợp phần “Nghiên cứu, nâng cao năng lực vận hành hệ thống  
thủy lợi tỉnh Ninh Thuận”, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp chính cho việc củng cố các TCDN  
hiện có đáp ứng được quy định của Luật Thủy lợi đối với tổ chức thủy lợi cơ sở.  
Từ khóa: TCDN, Tổ chức hợp tác dùng nước, tổ chức thủy lợi cơ sở.  
Summary: The Law on Irrigation which was promulgated and took effects since 01 July 2018 has  
reflected a new approach to the management and exploitation of irrigation work through shifting  
from non-profit services to paid services and irrigation service user-centered approach. The Law  
on Irrigation has been followed by many new legislations relating to management and operation  
of small scale and on-farm irrigation works which regulate new provisions on water user  
organization models, membership, operation charters and regulations, capacity requirements for  
organizations and individuals involving in the management and operation of irrigation works. As  
a result, existing water user organization (WUOs) should be reinforced accordingly to be in line  
with the Law on Irrigation. The deadline for a completed reinforcement process is 3 years since  
the effective date of the Law on Irrigation.  
While capacity of existing WUOs is not adequate, the enforcement of Law on Irrigation is such a big  
challenge to localities. A successful WUO reinforcement process depends significantly on various  
factors whereas the targets for interventions are large and vastly located. Without proper solutions,  
the deadline cannot be met. Building on best practices of WUO establishment/reinforcement in the  
Component “Strengthening Management and Operation Capacity of irrigation system in Ninh Thuan  
province”, the article will propose some key solutions to the establishment/reinforcement of existing  
WUOs to meet requirements of the Law on Irrigation.  
Key words: Water user organization, WUO, WUG.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*  
cận, ngoài việc chuyển từ quan điểm phục vụ  
sang dịch vụ (chuyển từ phí sang giá) còn chú  
Luật thủy lợi số 08/2017/QH14 được Quốc hội  
trọng đến huy động cộng đồng tham gia phát  
thông qua ngày 19/6/2017, có hiệu lực từ  
triển, quản lý khai thác công trình thủy lợi thông  
1/7/2018, với nhiều thay đổi trong cách tiếp  
Ngày nhận bài: 09/10/2018  
Ngày duyệt đăng: 05/12/2018  
Ngày thông qua phản biện: 19/11/2018  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
qua các hình thức xã hội hóa và đối tác công  
tư, cũng như xác định rõ vai trò trung tâm, chủ  
thể của người sử dụng nước trong các hoạt  
động quản lý, khai thác công trình thủy lợi khi  
quy định “Quản lý, khai thác công trình thủy  
lợi phải có sự tham gia của người sử dụng sản  
phẩm, dịch vụ thủy lợi và các bên có liên  
quan”.  
Trong bài viết này tác giả dựa trên kết quả và  
kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu,  
nâng cao năng lực vận hành hệ thống thủy lợi  
tỉnh Ninh Thuận” để đề xuất giải pháp củng cố  
các tổ chức dùng nước hiện có đảm bảo các quy  
định của Luật Thủy lợi đối với tổ chức thủy lợi  
cơ sở.  
2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DÙNG NƯỚC  
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CỦNG CỐ  
Quản lý tưới có sự tham gia (PIM) là một trong  
số các hình thức xã hội hóa công tác quản lý  
khai thác công trình thủy lợi đã được thực hiện  
trong nhiều năm qua ở nước ta thông qua việc  
thành lập các tổ chức dùng nước (TCDN1) và  
phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi  
nhỏ, thủy lợi nội đồng cho các tổ chức dùng  
nước quản lý. Tuy nhiên, trước khi Luật thủy  
lợi có hiệu lực, ở nước ta không có quy định cụ  
thể về loại mô hình tổ chức dùng nước ngoài mà  
chỉ có các văn bản mang tính chất hướng dẫn  
như Thông tư 75/2004/TT-BNNPTNT ngày  
20/12/2004 của Bộ Nông nghiẹp và PTNT  
Hướng dẫn việc thành lập, củng cố và phát triển  
tổ chức hợp tác dùng nước hoặc một số sổ tay  
hướng dẫn thành lập, củng cố các TCDN được  
xây dựng dựa trên kinh nghiêm thực hiện các  
dự án. Do vậy, thực tế hiện nay ở các địa  
phương hình thành rất nhiều loại hình TCDN  
khác nhau, có thể chia ra 5 nhóm chủ yếu, gồm:  
(1) UBND xã trực tiếp quản lý; (2) HTXDVNN  
có làm dịch vụ thủy lợi; (3) HTX dùng nước  
(chuyên khâu); (4) THT dùng nước (gồm cả tổ,  
đội thủy nông) và (5) Ban quản lý thủy nông.  
Nay đối chiếu với các quy định của Luật Thủy  
lợi, nhiều TCDN hiện có sẽ không còn phù hợp  
với quy định mới về loại hình tổ chức; thậm chí  
các TCDN đã phù hợp về mô hình (HTX, THT)  
thì cũng có những tồn tại khác cần giải quyết  
như số lượng thành viên, điều lệ, quy chế được  
cấp thẩm quyền phê duyệt,…  
a) Mô hình tổ chức:  
Trên phạm vi toàn quốc, theo kết quả thống kê  
năm 2018 của Tổng cục Thủy lợi, hiện nay cả  
nước có 20.304 tổ chức dùng nước quản lý các  
công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng.  
Trong đó, có 37,7% là mô hình HTX (gồm  
29,2% HTXNN và 8,5% HTX dùng nước);  
32% là mô hình THT; 27,9% là mô hình UBND  
xã trực tiếp quản lý và 2,3% là Ban quản lý thủy  
nông (Hình 1) [2].  
Hình 1. Các loại mô hình tổ chức  
dùng nước ở Việt Nam  
Theo số liệu khảo sát của nhiệm vụ “Nghiên  
cứu, nâng cao năng lực vận hành hệ thống thủy  
lợi” thuộc dự án “Quản lý tổng hợp nguồn nước  
và phát triển đô thị trong mối liên hệ với biến  
đổi khí hậu tại Ninh Thuận”, hiện tại trên địa  
1 TCDN là thuật ngữ được sử dụng trước khi Luật Thủy lợi cơ sở được sử dụng để chỉ tổ chức sau khi được thành  
lợi ra đời, Luật Thủy lợi sử dụng thuật ngữ “Tổ chức thủy lập, củng cố theo Luật thủy lợi. Ý nghĩa cơ bản của hai  
lợi cơ sở” để thay thế TCDN. Vì vậy, trong bài viết này, thuật ngữ này là tương đương.  
TCDN được sử dụng để nói về hiện trạng, Tổ chức thủy  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
2
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
bàn tỉnh có 51 Tổ chức dùng nước [1], gồm 03 loại hình chủ yếu:  
Mô hình 1:  
Mô hình 2:  
IMC  
IMC  
HTXDV nông  
nghiệp  
UBND xã  
UBND xã  
Tổ HT  
Tổ HT  
Tổ HT  
Tổ TN  
Tổ TN  
Tổ TN  
Mô hình 3:  
Chú thích:  
IMC  
Mối quan hệ quản lý/chỉ đạo trực tiếp  
Quản lý hành chính  
Ban thủy lợi  
thuộc UBND  
UBND xã  
Quan hệ hợp đồng  
Nhóm/tổ  
Nhóm/tổ  
Nhóm/tổ  
thủy nông  
thủy nông  
thủy nông  
Hình 2. Các mô hình TCDN ở Ninh Thuận  
Mô hình 1: HTX dịch vụ Nông nghiệp có làm viên chủ yếu là cán bộ thôn, xã kiêm nhiệm và  
dịch vụ thủy nông một số người sử dụng nước có kinh nghiệm.  
Loại hình này được thành lập theo Luật HTX, Các tổ chức này thực chất không phải là TCDN  
kinh doanh nhiều dịch vụ trong đó có dịch vụ do được thành lập theo ý chí và mệnh lệnh của  
thủy nông. Các tổ chức này có đầy đủ tư cách chính quyền, không do người sử dụng nước lập  
pháp nhân, con dấu, tài khoản và hầu hết có trụ nên.  
sở làm việc (tài sản của HTX hoặc xã, thôn cho  
mượn).  
Mô hình 2: Tổ hợp tác hoặc TCDN theo mô  
hình tổ hợp tác  
Như vậy, đặc điểm tổ chức của các TCDN ở  
Ninh Thuận cơ bản tương đồng về mặt hình  
thức so với đặc điểm chung của cả nước, ngoại  
trừ không có mô hình Ban quản lý thủy nông.  
Loại hình này được thành lập theo Nghị định  
151, chỉ làm dịch vụ thủy nông; không có tư  
cách pháp nhân, không có con dấu, tài khoản và  
hầu hết không có trụ sở làm việc.  
Hoạt động của các TCDN:  
Kết quả khảo sát, đánh giá năm 2018 tại 27  
TCDN trên địa bàn 21 xã, thị trấn thuộc 7 huyện  
của tỉnh Ninh Thuận cho thấy thực trạng tổ chức  
và hoạt động của các TCDN như sau [3]:  
Mô hình 3: UBND xã quản lý  
Ở một số địa phương, UBND xã ra quyết định  
thành lập các tổ thủy nông quản lý công trình Về mô hình tổ chức: loại hình HTX chiếm  
thủy lợi theo các thôn hoặc toàn xã với thành  
25,9%; THT chiếm 29,6%; UBND xã chiếm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
3
KHOA HỌC  
44,4%.  
CÔNG NGHỆ  
có 1 cán bộ có trình độ chuyên môn từ trung cấp  
trở lên.  
Qui mô phục vụ của TCDN: xét theo đơn vị  
hành chính có 17/27 tổ chức quy mô thôn  
(chiếm 55,6% tổng số TCDN điều tra); 4/27 tổ  
chức qui mô liên thôn (14,8%); 8/27 tổ chức  
quy mô toàn xã (29,6%);  
Số thủy nông viên trung bình là khoảng 6  
người/TCDN; ít nhất là 1 người (làm tất cả mọi  
việc) và nhiều nhất là 25 người/TCDN. Trong  
đó, 100% thủy nông viên ở các TCDN được  
khảo sát chưa có bằng cấp, chứng chỉ phù hợp  
với công việc được giao;  
Số hộ sử dụng nước trung bình là 306  
hộ/TCDN; thấp nhất là 35 hộ, cao nhất là 1.100  
hộ/TCDN;  
7/27 TCDN kinh doanh đa dịch vụ; 20/27  
TCDN chỉ thực hiện dịch vụ thủy nông (chuyên  
khâu);  
Số lượng thành viên trung bình là 32 thành  
viên/TCDN; thấp nhất là 1, cao nhất là 369  
thành viên. Tỷ lệ hộ sử dụng nước là thành viên  
của TCDN chỉ đạt khoảng 10,5%;  
Quy mô diện tích phục trung bình của các  
TCDN là 118,8 ha/vụ, khoảng 269,2 ha/năm;  
lớn nhất là 700 ha/năm và nhỏ nhất là 26  
ha/năm;  
Số lượng thành viên Ban quản lý trung bình là  
3 người/TCDN, thấp nhất l người, cao nhất là 8  
người/TCDN. Trong đó, phần lớn cán bộ chưa  
có bằng cấp chuyên môn liên quan đến công  
việc được giao; chỉ có 5/27 TCDN (chiếm  
18,5%) với tổng số 15 người có cán bộ Ban  
quản lý có bằng cấp chuyên môn từ Trung cấp  
trở lên, tương đương khoảng gần 2 TCDN mới  
Chỉ 4/27 TCDN có văn phòng làm việc là tài  
sản riêng của tổ chức; 04 tổ chức có văn phòng  
làm việc nhưng là mượn của thôn/xã/HTX đóng  
trên địa bàn. Các văn phòng này đều đã xuống  
cấp nghiêm trọng;  
Ảnh 1. Văn phòng HTX Vạn Phước,  
X. Phước Thuận, H. Ninh Phước mượn  
của thôn  
Ảnh 2. Văn phòng HTX Hòa Sơn mới được  
UBND xã cho mượn nhưng chưa có kinh  
phí sửa chữa  
Chỉ có 7/27 TCDN có thiết bị văn phòng nhưng công việc;  
hầu như chỉ có những trang thiết bị tối thiểu như  
bàn, ghế, máy tính, máy in và thực tế thì các  
thiết bị này đều rất cũ, thậm chí đã hỏng, giá trị  
sử dụng rất thấp, không đáp ứng được yêu cầu  
92,6% số TCDN (25/27 TCDN) không có máy  
móc, trang thiết bị để thực hiện các dịch vụ phục  
vụ sản xuất nông nghiệp; chỉ 2/27 TCDN có 1  
vài máy móc (máy gieo xạ, gặt đập liên hợp,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
4
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
máy phun thuốc trừ sâu,...) nhưng đều trong 
tình trạng hỏng hóc, không hoạt động được  
Tổng thu trung bình hàng năm của TCDN là hạn chế, có khoảng với 81,5% số cán bộ quản  
122,213 triệu đồng/TCDN/năm, trong đó phần lý; 100% số thủy nông viên chưa có bằng cấp,  
lớn là thu từ phí thủy lợi nội đồng, chiếm trên chứng chỉ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực  
88,5%; thu từ các dịch vụ khác chỉ chiếm khoảng công việc phụ trách.  
11,5%;  
Bên cạnh những tồn tại nêu trên, xu hướng  
chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây kém hiệu quả,  
sử dụng nhiều nước sang cây trồng có giá trị kinh  
tế cao, sử dụng ít nước nhằm nâng cao giá trị gia  
tăng và thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là  
hạn hán, đang diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh  
Ninh Thuận. Việc chuyển đổi này kết hợp với  
những thay đổi về hạ tầng tưới tiêu; phương pháp  
và chế độ tưới tiêu sẽ đặt ra cho các cán bộ quản  
lý, vận hành điều tiết nước nội đồng những yêu  
cầu và thách thức mới cần phải thích ứng. Vì vậy,  
việc củng cố các TCDN là để thực thi Luật Thủy  
lợi cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của các  
TCDN hiện có.  
Mức phí thủy lợi nội đồng bình quân là 395.789  
đồng/ha/vụ; mức thu thấp nhất là 220.000  
đ/ha/vụ; cao nhất là 700.000 đ/ha/vụ. Tỷ lệ thu  
được trung bình là 89%;  
Chi phí tiền lương trung bình của các TCDN là  
85%; chi khác chiếm khoảng 10%; hầu như  
không còn kinh phí chi cho duy tu, bảo dưỡng  
công trình, công tác này chờ vào sự hỗ trợ của  
cấp trên và một phần thu từ “lạc túc”2.  
Đánh giá những tồn tại cần giải quyết khi  
thực thi Luật Thủy lợi  
Trên cơ sở kết quả đánh giá về thực trạng tổ chức  
và hoạt động của các TCDN nêu trên cho thấy các  
TCDN hiện có trên địa bàn tỉnh chưa thực sự là tổ  
chức thủy lợicơ sở theo quyđịnh của Luật thủy lợi  
và các quy định liên quan. Điều đó được thể hiện  
ở các điểm cụ thể dưới đây:  
Để đáp ứng Luật Thủy lợi và các quy định hiện  
hành, những vấn đề chính cần thực hiện khi củng  
cố các TCDN hiện có trên địa bàn bao gồm:  
Chuyển đổi tất cả các mô hình tổ chức hiện  
không phải là HTX hoặc THT, không do người  
sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi lập ra, hoạt  
động phụ thuộc vào chính quyền địa phương  
sang một trong hai hình thức HTX hoặc THT  
(xét về bản chất, không phụ thuộc tên gọi) và  
hoạt động độc lập;  
44,4% số tổ chức là UBND xã trực tiếp quản lý  
không phù hợp về mô hình tổ chức thủy lợi cơ sở  
do không thuộc loại hình HTX hoặc THT;  
100% số tổ chức không đảm bảo quy định về tất  
cả các hộ sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi  
phải là thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở  
(hiện chỉ đạt khoảng 10,5%)3;  
Bổ sung đầy đủ các hộ sử dụng sản phẩm, dịch  
vụ thủy lợi trong phạm vi tổ chức thủy lợi cơ sở  
phục vụ là thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở  
(trung bình phải bổ sung thêm 89,5%);  
Ban quản lý của nhiều TCDN không do người  
sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi bầu cử dân  
chủ mà do UBND xã lựa chọn, chỉ định;  
Điều chỉnh, bổ sung điều lệ, quy chế hoạt động  
của tổ chức thủy lợi cơ sở phù hợp với những  
thay đổi, thống nhất tại đại hội và trình UBND  
cấp xã xác nhận;  
Điều lệ, quy chế hoạt động chưa được UBND  
cấp xã xác nhận;  
Năng lực đội ngũ cán bộ của các TCDN còn rất  
Hoàn thiện các thủ tục pháp lý khác (nếu cần);  
2
Theo ngôn ngữ địa phương sử dụng chỉ việc cho thuê tác chỉ cần 3 thành viên) nhưng kể từ 1/7/2018 Luật Thủy  
mặt ruộng sau khi đã thu hoạch lúa để chăn thả vịt.  
lợi có hiệu lực thì các tổ chức thủy lợi cơ sở phải tuân thủ  
3 Nhiều tổ chức trước đây được coi là phù hợp (Luật HTX theo Luật Thủy lợi.  
chỉ yêu cầu 7 thành viên; Nghị định 151 quy định tổ hợp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Đào tạo, tập huấn cho Ban quản lý tổ chức thủy  
lợi cơ sở và các tổ chuyên môn, nghiệp vụ đáp  
ứng quy định về năng lực đối với tổ chức, cá  
nhân quản lý khai thác công trình thủy lợi nhỏ,  
thủy lợi nội đồng tho Nghị định 67/2018/NĐ-  
CP.  
phòng kinh tế các huyện, thành phố vùng dự án.  
Nhiệm vụ chính của nhóm là tham gia hỗ trợ  
các hoạt động PIM trong khuôn khổ dự án để  
tích lũy kinh nghiệm; Tuyên truyền, huy động  
người sử dụng nước tham gia xây dựng các  
TCDN, liên hiệp TCDN; Hỗ trợ giải quyết các  
thủ tục cần thiết để đảm bảo tư cách pháp nhân,  
tài khoản, con dấu cho các TCDN, liên hiệp  
TCDN được thành lập, củng cố trên địa bàn  
theo quy định của nhà nước và pháp luật; Hỗ trợ  
và tham mưu cho chính quyền địa phương trong  
quá trình chỉ đạo phát triển PIM, là nhân tố  
đóng vai trò kết nối các hoạt động liên quan đến  
PIM sau này. Sau khi dự án kết thúc, nhóm hỗ  
trợ PIM sẽ trở thành lực lượng nòng cốt để mở  
rộng và phát triển PIM trên địa bàn các huyện,  
thành phố.  
Giải pháp củng cố các TCDN hiện có đáp  
ứng yêu cầu Luật Thủy lợi  
Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện:  
Để đạt được mục tiêu đặt ra thì cách tiếp cận “có  
sự tham gia” được áp dụng theo một phương  
pháp tổng hợp “trên xuống - dưới lên” thông qua  
việc thiết lập các phương pháp tham vấn trong  
từng hoạt động như một điều kiện tiên quyết để  
đảm bảo quyền tham gia, đặc biệt là của các hộ  
sử dụng sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi, và  
tính bền vững của các TCDN sau khi được thành  
lập hoặc củng cố.  
Ngoài ra, dự án cũng đã thử nghiệm thành lập 01  
nhóm hỗ trợ PIM cấp huyện tại Ninh Phước với  
vai trò, nhiệm vụ tương tự nhóm hỗ trợ thực hiện  
PIM cấp tỉnh, chỉkhác nhau về phạm vi hoạt động  
được giới hạn trong địa bàn huyện.  
Bên cạnh đó, phương pháp “cùng học-cùng làm”  
cũng được áp dụng trong quá trình thực hiện  
nhằm mục tiêu tất cả các bên liên quan được được  
cung cấp đầy đủ thông tin và nâng cao nhận thức  
để dễ dàng đạt được sự đồng thuận cũng như có  
thể thực hiện tốt việc phát triển PIM sau này khi  
không còn sự hỗ trợ từ dự án.  
Kết quả củng cố các tổ chức dùng nước:  
Do hạn chế về thời gian và kinh phí, trong  
khuôn khổ Hợp phần PIM thực hiện tại Ninh  
Thuận chỉ có thể lựa chọn 20/25 TCDN đã được  
khảo sát để thí điểm hỗ trợ củng cố; các TCDN  
khác sẽ được địa phương thực hiện sau dựa trên  
các kinh nghiệm được tích lũy trong quá tình  
thực hiện dự án.  
Với cách tiếp cận và phương pháp thực hiện nêu  
trên, trong khuôn khổ dự án đã đề xuất thành  
lập nhóm hỗ trợ thực hiện PIM.  
Nhóm hỗ trợ cấp tỉnh được UBND tỉnh Ninh  
Thuận thành lập tại Quyết định số 835/QĐ-  
UBND ngày 23/5/2018 với thành phần gồm các  
đại diện: Chi cục thủy lợi, IMC, Ban quản lý dự  
án, lãnh đạo phòng Nông nghiệp và PTNT hoặc  
Căn cứ quy định và hiện trạng các TCDN, giải  
pháp để củng cố các TCDN hiện có trên địa bàn  
tỉnh sẽ theo 4 phương án sau:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
6
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Sơ đồ 1. Phương án bổ sung thành viên  
của TCDN hiện có  
Sơ đồ 2. Phương án thành lập THTDN  
gắn với HTX hiện có  
Sơ đồ 3. Phương án ghép các TCDN quy mô  
nhỏ thành tổ chức TLCS có quy mô lớn hơn  
Sơ đồ 4. Phương án thành lập THTDN  
chung của của các HTX cùng sử dụng nước  
từ một tuyến kênh  
cho Tổ trưởng (và BQL); các giao dịch của  
THT cần phải có xác nhận của UBND cấp xã  
nên sẽ khó khăn hơn trong quá trình hoạt động.  
Hình thức 1: Bổ sung thành viên  
Với các TCDN hiện có chưa đáp ứng được quy  
định về số lượng thành viên, cơ cấu bộ máy tổ  
chức, tính pháp lý,… và được các hộ sử dụng  
nước thống nhất giữ nguyên mô hình thì chỉ cần  
đăng ký bổ sung thành viên, chỉnh sửa điều lệ,  
quy chế hoạt động để thông qua đại hội và trình  
UBND cấp xã xác nhận, không cần thành lập  
Tổ chức thủy lợi cơ sở mới.  
Đối với các TCDN hiện trực thuộc thôn, xã thì  
ngoài việc bổ sung thành viên còn phải chuyển  
đổi sang mô hình THT hoặc HTX, tách khỏi  
chính quyền địa phương. Trường hợp này thực  
hiện tương tự như thành lập mới TCDN.  
Hình thức 2: Thành lập THTDN gắn với HTX  
Các trường hợp cụ thể như sau:  
Hình thức này được đề xuất lựa chọn áp dụng cho  
các trường hợp HTX hiện có đang kinh doanh đa  
dịch vụ, trong đó có dịch vụ thủy nông, nhưng gặp  
khó khăn trong việc bổ sung thành viên là các hộ  
sử dụng nước chưa tham gia thành viên HTX do  
gặp phải các vấn đề như:  
Đối với TCDN là HTX: theo quy định, để tham  
gia thành viên HTX thì thành phải đóng góp  
vốn điều lệ. Do vậy, nếu quy định mức góp vốn  
điều lệ tối thiểu quá cao sẽ gây khó khăn cho  
các hộ sử dụng nước tham gia thành viên do các  
hộ có điều kiện kinh tế và nhu cầu tham gia  
Các vấn đề liên quan đến tài sản, vốn góp của  
HTX khác nhau, vì thế cần thống nhất mức góp HTX rất khó xác định được bởi lịch sử hình  
thành HTX từ nhiều năm trước, các hình thức  
đóng góp đa dạng (hiện vật, công lao động,  
tiền,…), nhiều thành viên nay đã mất nhưng  
khó xác định quyền thừa kế, sở hữu cổ phần,  
v.v.  
vốn điều lệ tối thiểu phù hợp với khả năng đóng  
góp của các hộ sử dụng nước, tạo điều kiện tối  
đa để tất cả các hộ sử dụng nước tham gia thành  
viên (thường là cố gắng thống nhất mức góp  
vốn điều lệ tối thiểu ở mức rất thấp để các hộ sử  
dụng nước dễ dàng tham gia).  
Có những hộ sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy  
lợi nhưng không muốn tham gia HTX vì chỉ có  
nhu cầu sử dụng nước chứ không có nhu cầu  
các dịch vụ khác hoặc không có đủ khả năng  
đóng góp vốn điều lệ tối thiểu để tham gia HTX.  
Đối với TCDN là THT: việc bổ sung thành viên  
là thuận lợi hơn do không yêu cầu bắt buộc góp  
vốn điều lệ. Tuy nhiên, THT không phải là pháp  
nhân nên các hộ sử dụng nước phải ủy quyền  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
7
Các thành viên HTX hiện có không muốn bổ lý, điều hành HTX.  
sung thêm thành viên do tâm lý e ngại ảnh  
Trên thực tế, phương án phổ biến được các địa  
hưởng đến quyền lợi và các hoạt động kinh  
doanh của HTX.  
phương lựa chọn là chọn phó giám đốc HTX  
kiêm nhiệm tổ trưởng tổ thủy nông (trưởng ban  
điều hành THTDN) hoặc theo chiều hướng dân  
chủ hơn là Tổ trưởng tổ thủy nông (do đại hội  
thành viên bầu) đương nhiên là phó giám đốc  
HTX phụ trách dịch vụ thủy lợi nội đồng. Trong  
cả hai trường hợp nêu trên đều phải được đại hội  
thành viên HTX và người sử dụng sản phẩm,  
dịch vụ thủy lợi đồng ý thông qua.  
Mặc dù vậy, các HTX này lại là tổ chức đang  
được giao quản lý, khai thác công trình thủy lợi  
nhỏ, thủy lợi nội đồng trên địa bàn theo Quyết  
định phân cấp của UBND tỉnh, thậm chí trong  
nhiều trường hợp, các HTX đã bỏ cả kinh phí  
để đều tư xây dựng một số công trình, nên việc  
thu hồi quyền quản lý công trình thủy lợi nhỏ,  
thủy lợi nội đồng từ các HTX để giao cho một  
tổ chức thủy lợi cơ sở được thành lập mới là khó  
khả thi. Do đó, phương án phù hợp là thành lập  
THTDN hoặc Tổ thủy nông với thành viên là  
tất cả hộ sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi trên  
địa bàn HTX phục vụ (có thể là thành viên HTX  
hoặc không) và gắn THTDN này với HTX. Tuy  
nhiên, trong trường hợp này, để đảm bảo tính  
pháp lý và hài hòa lợi ích của các thành viên,  
đặc biệt là không gây ảnh hưởng đến lợi ích của  
các thành viên HTX hiện có tham gia nhiều dịch  
vụ khác của HTX thì khi xây dựng điều lệ, quy  
chế hoạt động của HTX và THTDN cần phải  
lưu ý làm rõ những vấn đề sau:  
Hình thức 3: Ghép các TCDN quy mô nhỏ  
thành tổ chức TLCS có quy mô lớn hơn  
Một trong những lý do khiến các TCDN hoạt  
động kém hiệu quả, kém bền vững là kinh phí  
cho hoạt động của tổ chức không đảm bảo.  
Theo kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa  
học và thực tế hoạt động của các TCDN ở địa  
phương, khi quy mô phục vụ tưới tiêu nhỏ hơn  
35 ha thì mức thù lao cho cán bộ quản lý TCDN,  
thủy nông viên và mức chi cho sửa chưa, bảo  
dưỡng công trình quá thấp so với mức trung  
bình chung, do vậy hầu như không thể hoạt  
động được hoặc hoạt động không hiệu quả. Do  
vậy, trong trường hợp này cần nghiên cứu ghép  
vào TCDN lân cận có điều kiện phù hợp để  
thành tổ chức mới có quy mô phục vụ lớn hơn,  
đảm bảo nguồn thu đủ chi cho các hoạt động  
của TCDN và duy tu, bảo dưỡng công trình.  
Phân bổ số lượng đại biểu tham dự đại hội thành  
viên, bầu Ban quản lý, điều hành và biểu quyết  
thông qua những vấn đề quan trọng của HTX  
phải dựa trên tỷ lệ doanh thu của các loại dịch  
vụ trong năm gần nhất hoặc cũng có thể quy  
định thành viên tham gia dịch vụ nào thì chỉ có  
quyền và trách nhiệm liên quan đến dịch vụ đó.  
Chẳng hạn, bầu Ban điều hành THTDN, thống  
nhất mức phí thủy lợi nội đồng,… phải do các  
thành viên là những hộ sử dụng sản phẩm, dịch  
vụ thủy lợi quyết định.  
Hình thức 4: Thành lập THTDN chung của 2  
HTX cùng sử dụng nước từ một tuyến kênh  
Thực tế vùng dự án, có những công trình thủy  
lợi nhỏ hoặc tuyến kênh phục vụ chung cho  
nhiều TCDN nhưng các công trình này được  
phân cấp cho các TCDN quản lý. Trong trường  
hợp này, nếu các TCDN thực hiện quản lý dựa  
trên địa giới hành chính sẽ dễ dẫn đến sự tranh  
chấp giữa, vì vậy, phương án phù hợp là thành  
lập TCDN chung của các TCDN cùng sử dụng  
nước từ một công trình; các thành viên TCDN  
là những thành viên của 02 HTX có sử dụng  
nước và toàn bộ người sử dụng nước từ công trình  
chung này. Hình thức này đã được áp dụng trong  
Quy định tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị, Ban  
giám đốc, kiểm soát phù hợp, đảm bảo các  
thành viên tham gia nhiều dịch vụ hơn, đóng  
góp nhiều hơn thì có quyền và lợi ích lớn hơn,  
chẳng hạn như đối với các thành viên chỉ tham  
gia 1 dịch vụ thủy lợi nội đồng thì chỉ được đảm  
nhiệm những vị trí nào đó trong bộ máy quản  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
8
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
trường hợp TCDN Bàu Zôn, được thành lập hỗ trợ của các dự án mà cần phải phát huy nội  
chung giữa 02 HTX Hữu Đức và Hậu Sanh với lực của địa phương thông qua việc huy động tất  
một số thành viên, bao gồmcả BQL, là thành viên cả các bên liên quan, bao gồm từ chính quyền  
của 02 HTX và bổ sung thêmcác hộ sử dụng nước các cấp, bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi,  
không phải thành viên của 02 HTX tham gia các công ty quản lý thủy nông thuộc khu vực  
TCDN Bàu Zôn.  
nhà nước đến các tổ chức dùng nước hiện có,  
đặc biệt là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ  
thủy lợi. Tuy nhiên, do thông tin và hiểu biết về  
các cơ chế, chính sách mới cũng như năng lực  
của các tổ chức dùng nước hiện có còn hạn chế  
nên cần thành lập tổ hỗ trợ thực hiện PIM nhằm  
hỗ trợ các địa phương, thúc đẩy sự tham gia  
Trong tất cả các trường hợp, việc lựa chọn mô  
hình tổ chức sẽ do người sử dụng nước quyết  
định, ít nhất phải được từ 75% số hộ sử dụng  
nước đồng ý.  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Thực thi Luật thủy lợi đặt ra yêu cầu củng cố giữa các bên trong quá trình thực hiện để thực  
một số lượng rất lớn các tổ chức quản lý công thi các quy định theo đúng nội dung và kế  
trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng hiện có hoạch.  
thành các tổ chức thủy lợi cơ sở vì hầu hết trong  
Không có hình mẫu và các giải pháp chung cho  
số 20.034 tổ chức quản lý thủy nông cấp cơ sở  
việc củng cố các tổ chức dùng nước hiện có do  
hiện nay đều có ít nhiều những vấn đề tồn tại  
mỗi tổ chức được hình thành đều gắn với những  
cần củng cố, như: mô hình chưa phù hợp, chưa  
mục tiêu, ý nghĩa và nguyện vọng của các thành  
đủ số lượng thành viên, ban quản lý không do  
viên; bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội  
người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi bầu  
khác nhau. Do vậy, các giải pháp đề xuất có thể  
ra,… trong bối cảnh thời hạn phải hoàn thành là  
là kinh nghiệm tốt để tham khảo nhưng mô hình  
và giải pháp phù hợp phải là mô hình, giải pháp  
nhận được sự đồng thuận của các thành viên của  
03 năm kể từ ngày 01/07/2018. Điều đó tạo ra  
những áp lực nhất định cho các địa phương, vì  
vậy, việc xác định được giải pháp phù hợp là  
nền tảng, định hướng quan trọng cho việc thực tổ chức hiện có cũng như các hộ sử dụng sản  
hiện nhiệm vụ này.  
phẩm, dịch vụ thủy lợi trên địa bàn và không  
trái với quy định hiện hành.  
Để củng cố số lượng lớn các TCDN hiện có  
trong thời gian ngắn không thể chỉ dựa vào sự  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận, 2017, Báo cáo đánh giá  
thực trạng tổ chức và hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước.  
[2] Tổng cục Thủy lợi, 2018, Thống kê số lượng đơn vị quản lý công trình thủy lợi cấp xã.  
[3] Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, 2018, Kết quả đánh giá hiện trạng các tổ chức dùng  
nước thuộc Hợp phần “Nghiên cứu, nâng cao năng lực vận hành hệ thống thủy lợi tỉnh Ninh  
Thuận”.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
9
pdf 9 trang yennguyen 9740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp củng cố các tổ chức thủy lợi cơ sở đáp ứng quy định của luật thủy lợi - Bài học kinh nghiệm từ hợp phần nghiên cứu, nâng cao năng lực vận hành hệ thống thủy lợi tỉnh Ninh Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_cung_co_cac_to_chuc_thuy_loi_co_so_dap_ung_quy_din.pdf