Xác định nguyên nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống và cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu vực ngã ba Đuống - Hồng

BÀI BÁO KHOA HỌC  
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN LÀM TĂNG TỶ LỆ PHÂN LƯU  
SANG SÔNG ĐUỐNG VÀ CƠ CHẾ GÂY XÓI LỞ ĐƯỜNG BỜ  
TẠI KHU VỰC NGÃ BA ĐUỐNG - HỒNG  
Nguyễn Hữu Huế 1, Thân Văn Văn1, Nguyễn Hữu Thảnh2  
Tóm tắt: Vấn đề xói lở bờ sông đang là mối quan tâm rất lớn của các nhà quản lý và nhân dân  
sống ở các khu vực ven sông. Tại nhiều vị trí trên sông Hồng, tình hình xói lở diễn ra theo cả  
phương thẳng đứng và phương ngang trực tiếp phá hủy nhiều diện tích hoa màu và các cơ sở kinh  
tế, đặc biệt đe dọa đến sự ổn định của các tuyến đê sông Hồng. Trong thời gian gần đây, đã và  
đang xảy ra hiện tượng sạt lở cục bộ tại nhiều tuyến đường bờ mà điển hình là tại khu vực bãi Tầm  
Xá (tiếp giáp ngã ba Đuống – Hồng) với tốc độ trung bình từ 3÷5m sau mỗi mùa mưa lũ. Bên cạnh  
vấn đề xói lở, khu vực này cũng đang phải đối mặt với tình trạng tỷ lệ phân lưu từ sông Hồng sang  
sông Đuống tăng mạnh với mức độ tăng đột biến trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay. Điều này đã  
kéo theo những hệ lụy đáng lo ngại như: mất an toàn hệ thống đê điều và luồng lạch giao thông  
thủy trên sông Đuống; sự suy giảm của dòng chảy sông Hồng khiến việc lấy nước phục vụ sản xuất  
nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Bài báo trình bày các nghiên cứu, phân tích nhằm xác định rõ  
nguyên nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống và cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu vực  
ngã ba Đuống – Hồng. Từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp ứng phó.  
Từ khóa: ngã ba Đuống - Hồng, tỷ lệ phân lưu, xói lở, bồi lắng.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ1  
ba Đuống – Hồng sẽ giúp xác định rõ được  
Do tính chất phức tạp của chế độ thuỷ văn,  
thuỷ lực của khu vực ngã ba sông Hồng - sông  
Đuống nên đoạn sông khu vực cửa vào sông  
Đuống luôn có những diễn biến hết sức phức  
tạp, nổi cộm nhất là 2 vấn đề:  
- Hiện tượng xói lở đường bờ: Trong những  
năm gần đây, khu vực này liên tục xảy ra hiện  
tượng sạt lở bờ sông, công trình kè bờ hộ, mà  
mới đây là sạt lở đường bờ tại đuôi bãi Tầm Xá  
(Đông Anh, Hà Nội) và kè Xuân Canh tại  
K1+00 đê tả Đuống (Nguyễn Quang Cường,  
nnk 2014);  
- Tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống tăng  
mạnh: Tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống tăng  
lên sẽ kéo theo những hệ lụy đáng lo ngại như:  
mất an toàn hệ thống đê điều và luồng lạch giao  
thông thủy trên sông Đuống; sự suy giảm của  
dòng chảy sông Hồng khiến việc lấy nước phục  
vụ sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.  
Trước tính chất vô cùng nghiêm trọng của  
vấn đề, việc nghiên cứu điển hình khu vực ngã  
nguyên nhân để từ đó đề xuất giải pháp chỉnh trị  
tổng thể ổn định khu vực này là rất cấp thiết.  
Bài báo này sẽ bước đầu phân tích xác định  
nguyên nhân gây sạt lở đường bờ đoạn cửa vào  
sông Đuống trên cơ sở số liệu khảo sát, đo đạc  
và kết quả mô phỏng bằng mô hình toán.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu đã sử dụng tổng hợp các phương  
pháp sau:  
Phương pháp phân tích, thống kê: Tổng hợp,  
phân tích các dữ liệu liên quan đến mực nước,  
lưu lượng... để thiết lập các biểu đồ miêu tả đặc  
trưng về chế độ thủy động lực làm cơ sở để  
đánh giá diễn biến và đề xuất các giải pháp ứng  
phó. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ thu thập  
và chồng ghép mặt cắt ngang sông Hồng đo đạc  
qua các năm tại các vị trí đặc trưng nhằm đưa ra  
xu hướng chung trong vấn đề xói lở đường bờ  
cũng như đi tìm nguyên nhân làm gia tăng sự  
phân lưu từ sông Hồng sang sông Đuống.  
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa:  
Quá trình điều tra, khảo sát ngoài thực địa bước  
đầu đưa ra những phán đoán về các nguyên  
1 Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi.  
2 Viện Kỹ thuật Công trình.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
138  
nhân, cơ chế của các hiện tượng đang diễn ra phát từ K60+437 ÷ K61+800 đê Tả Hồng.  
trong khu vực nghiên cứu. Trong quá trình chỉnh trị, hệ thống cụm công  
Phương pháp mô hình toán: Bằng việc kết trình kè Tầm Xá được xây dựng với nhiệm vụ  
hợp chặt chẽ giữa việc khảo sát đánh giá ngoài chống sạt lở, bảo vệ tuyến bờ bãi Tầm xá, ổn  
thực địa để bước đầu xác định các nguyên nhân định lạch chính cho đoạn sông này. Công trình  
và trên cơ sở phân tích chế độ thủy động lực này ban đầu có phên che kín từ đỉnh mỏ hàn đến  
thông qua mô hình toán MIKE 21C sẽ giúp chân, có tác dụng cản dòng gây bồi. Công trình  
đánh giá được chi tiết và đầy đủ hơn những được bố trí mặt bằng theo đúng các chỉ dẫn về  
nguyên nhân và cơ chế của các hiện tượng đang chiều dài và khoảng cách giữa các mỏ hàn, giai  
diễn ra.  
3. HIỆN TRẠNG XÓI LỞ TẠI KHU Nhưng trải qua nhiều năm làm việc, phần lớn các  
VỰC NGÃ BA ĐUỐNG - HỒNG hạng mục công trình (đá đổ hoặc cọc) bị gãy, sụt  
3.1. Xói lở tuyến đường bờ tại khu vực bãi hoặc bị vùi lấp, hoặc hư hỏng hoàn toàn khiến  
đoạn đầu đã phát huy được hiệu quả nhất định.  
Tầm Xá  
mỏ hàn trở thành loại kết cấu có nước xuyên qua,  
Bãi Tầm Xá có diện tích 243ha, thuộc địa tạo thành dòng chảy phức tạp khiến công trình  
phận Đông Anh, Hà Nội. Phạm vi của bãi xuất không còn khả năng chỉnh trị như thiết kế.  
A
B
Hình 1. (A) Vị trí bãi Tầm Xá bên bờ Tả sông Hồng. (B) Hiện trạng hư hỏng tại mỏ hàn TX5  
(Nguyễn Quang Cường, nnk 2014)  
Liên quan đến sự xuống cấp, hư hỏng của hệ  
thống 15 mỏ hàn cọc (TX1 ÷ TX15) tại khu vực  
bãi bồi xã Vĩnh Ngọc và xã Tầm Xá, đã khiến  
dòng chủ lưu tại lạch trái trong khu vực đã áp  
sát vào đường bờ phía cuối bãi (Hình 1A, đường  
nét đậm) chưa được gia cố gây sạt lở thành vách  
thẳng đứng.  
3.2. Xói lở bờ kè Xuân Canh - đê Tả Đuống  
Trong những năm gần đây do tỷ lệ phân lưu  
vào sông Đuống ngày càng tăng, lòng sông đoạn  
cửa vào sông Đuống ngày càng bị xói sâu dẫn  
đến xuất hiện nhiều vị trí sạt lở mạnh. Một trong  
những vị trí trọng điểm hiện nay là khu vực kè  
Xuân Canh, đê Tả Đuống. Mùa kiệt năm 2012-  
2013 tại khu vực kè Xuân Canh, trên đoạn dài  
Hình 2. Sạt lở bờ tại khu vực đuôi bãi Tầm Xá  
(ảnh chụp 12/2014) (Nguyễn Quang Cường,  
nnk 2014)  
40m kè mới được đầu tư xây dựng đã bị sạt  
hoàn toàn phần chân kè và mái kè, uy hiếp trực  
tiếp đến an toàn đê điều (Hình 3).  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
139  
A
B
Hình 3. Đoạn kè Xuân Canh bờ tả sông Đuống bị sạt lở tháng 12/2012  
(Nguyễn Thanh Hùng 2013)  
Khu vực kè Xuân Canh: nằm ngay gần cửa  
- Giai đoạn từ 2001 – 2010 tỷ lệ phân lưu  
vào sông Đuống từ sông Hồng. Lạch sâu áp sát sang sông Đuống tăng đột biến và liên tục. Đặc  
bờ Tả. Vị trí lạch sâu và đường mép bờ biến đổi biệt là năm 2010, lưu lượng trung bình mùa kiệt  
ít. Khoảng cách từ lạch sâu đến đê dao động sông Đuống chiếm khoảng 45% tổng lưu lượng  
trong khoảng từ 30 - 70m. Năm 2012 sạt lở trên dòng chảy sông Hồng.  
1 đoạn dài 30m chỉ trong vòng một ngày đêm.  
Năm 2012 lòng sông hạ thấp so với năm 2004  
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
4.1. Nguyên nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu  
khoảng 3 - 5m. Đặc biệt là tại vị trí hố xói ở kè sang sông Đuống  
Xuân Canh đã xói sâu xuống tới cao trình -18m.  
Giai đoạn từ 2001 – 2010 tỷ lệ phân lưu sang  
3.3. Tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống tăng sông Đuống tăng đột biến và liên tục. Đặc biệt  
mạnh  
là năm 2010, lưu lượng trung bình mùa kiệt  
Trên hệ thống sông Hồng, sông Đuống là sông Đuống chiếm khoảng 45% tổng lưu lượng  
phân lưu quan trọng nhất, góp phần chuyển tải dòng chảy sông Hồng.  
một lượng lớn dòng chảy, bùn cát từ hệ thống  
Qua kết quả khảo sát, đánh giá ngoài thực địa  
sông Hồng sang hệ thống sông Thái Bình kết hợp phân tích nội nghiệp đã chỉ ra nguyên  
cũng như có tác động lớn đến chế độ thủy văn, nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống  
thủy lực đối với các sông thuộc hệ thống sông và cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu vực ngã  
Thái Bình.  
Các nghiên cứu và phân tích gần đây của  
ba Đuống – Hồng như sau:  
- Giai đoạn 1 (2000-2010): Xói lở diễn ra  
nhiều cơ quan, cá nhân đã đưa ra kết luận rằng trầm trọng tại khu vực phía Hải Bối - Tầm  
đã có sự biến động đáng kể về tỷ lệ phân lưu Xá. Chiều dài sạt lở dọc theo bờ sông kéo dài  
giữa sông Hồng và sông Đuống, đặc biệt là trên 1km. Từ 2004 – 2010: tốc độ sạt lở bờ có  
biến động trong mùa kiệt. Theo kết quả nghiên phần giảm đi nhưng vẫn ở mức 2 - 3m/năm.  
cứu của Lê Văn Hùng và Phạm Tất Thắng Nguyên do là sau khi xây xong kè Phú Gia  
(2011, 2015), Lê Văn Hùng (2013) đã cho thấy (1998 - 2000) dòng chủ lưu sông Hồng khi ra  
tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống có xu hướng khỏi Chèm chuyển hướng sang bên tả phía  
tăng mạnh:  
- Giai đoạn 1980 đến 2000 lưu lượng dòng  
Hải Bối.  
Hiện tượng xói lở tại khu vực Tầm Xá đã  
chảy tại trạm Hà Nội chiếm khoảng từ (70 – mang một lượng lớn bùn cát theo dòng chảy rồi  
80)% tổng lượng dòng chảy, tương ứng dòng lắng đọng lại tại khu vực ngã ba Đuống – Hồng  
chảy sông Đuống tại trạm Thượng Cát chiếm do khu vực này lòng sông Hồng mở rộng và vận  
(30 – 20)%.  
tốc dòng chảy giảm xuống đột ngột.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
140  
vào sông Đuống (mặt cắt T- SHG 83) cho thấy:  
Trong khoảng thời gian từ năm 2004-2010, mặt  
cắt có xu thế hạ thấp lòng dẫn (xói lòng) tại  
khu vực cửa vào sông Đuống và bồi lắng phạm  
vi rộng trên trục chính sông Hồng (Hình 6).  
Cũng theo kết quả khảo sát cho thấy, sự phán  
đoán về nguyên nhân gia tăng sự phân lưu vào  
sông Đuống do sự bồi lắng lòng chính sông  
Hồng là hoàn toàn chính xác và phù hợp với tài  
liệu thực tế.  
Hình 4. Bùn cát di chuyển từ khu vực xói lở  
Hải Bối rồi lắng đọng tại khu vực  
ngã ba Đuống – Hồng  
Theo thời gian, lượng bùn cát lắng đọng tại  
lòng chính sông Hồng khu vực ngã ba tăng lên  
đáng kể làm cho đáy sông Hồng tại khu vực này  
cũng nâng cao dẫn đến dòng chảy theo trục sông  
Hồng trở nên không thuận và bắt đầu hình thành  
nên sự gia tăng sự phân lưu vào sông Đuống.  
Theo kết quả phân tích tài liệu khảo sát mặt  
cắt ngang sông Hồng khu vực ngay trước cửa  
Hình 5. Vị trí các mặt cắt ngang sông Hồng  
được đo đạc khảo sát hàng năm  
Hình 6. Phạm vi bồi xói tại mặt cắt ngang sông Hồng (mặt cắt T- SHG 83)  
khu vực ngay trước cửa vào sông Đuống.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
141  
4.2. Cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu  
vực ngã ba Đuống - Hồng  
Trước tình hình xói lở trầm trọng tại khu vực  
đường bờ Hải Bối, Thành phố Hà Nội đã khẩn  
trương cho xây dựng một tuyến kè để ngăn chặn  
xói lở, giảm thiểu thiệt hại do xói lở gây ra. Đến  
nay, tuyến kè vẫn tiếp tục phát huy tác dụng  
chống xói lở cho tuyến đường bờ này.  
- Giai đoạn 2 (2011-nay): Xói lở diễn ra  
trầm trọng tại khu vực phía đuôi bãi Tầm Xá  
Không lâu sau khi hiện tượng xói lở tại khu  
vực đường bờ xã Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội  
được đẩy lùi thì hiện tượng xói lở tại khu vực  
đuôi bãi Tầm Xá (ngay trước khu vực cửa vào  
sông Đuống) lại bắt đầu diễn ra và ngày càng  
trở nên trầm trọng.  
Do sự hư hỏng và xuống cấp trầm trọng của  
hệ thống kè mỏ hàn Vĩnh Ngọc - Tầm Xá, đã  
khiến cho hiệu quả chỉnh trị bảo vệ bờ của công  
trình không còn phát huy được tác dụng như  
mong muốn; phạm vi bảo vệ của mỗi kè mỏ hàn  
giảm xuống tới mức mỏ hàn chỉ còn khả năng  
lái dòng chảy ra xa khu vực đường bờ phía hạ  
lưu một phạm vi từ 200÷300m. Và do đó, phần  
đường bờ phía đuôi bãi Tầm Xá cách mỏ hàn  
TX 15 khoảng 500m đến khu vực cửa Đuống  
ngày càng bị xói lở xâm lấn.  
Hình ảnh về kết quả tính toán mô phỏng bằng  
mô hình MIKE 21C (Nguyễn Quang Cường,  
Sạt lở bờ sông tại khu vực đuôi bãi Tầm Xá nnk 2014) về trường vận tốc đoạn sông nghiên  
cứu được thể hiện ở Hình 8 bên dưới.  
(Đông Anh, Hà Nội) diễn ra từ năm 2010 và xu  
hướng ngày càng trở nên gay gắt hơn với mức  
độ xói lở từ 2÷3m năm 2010 đã tăng lên 4÷5m  
năm 2014 (Hình 2).  
Với tốc độ sạt lở lớn, trên phạm vi rộng và  
diễn ra liên tiếp đã đẩy một lượng lớn bùn cát ra  
khỏi khu vực đường bờ này và tiếp tục làm bồi  
lắng lòng chính sông Hồng. Cứ thế tiếp tục theo  
thời gian, lòng chính sông Hồng tại khu vực ngã  
ba Đuống – Hồng liên tục được nâng lên (bồi  
lắng) dẫn đến sự gia tăng sự phân lưu vào sông  
Đuống ngày càng trở nên trầm trọng.  
Hình 8. Trường phân bố vận tốc dòng chảy  
trong miền tính toán (trận lũ điển hình  
năm 2003 - Qmax = 8000 m3/s)  
Theo kết quả mô phỏng ở trên cho thấy dòng  
chảy có xu thế tiến thẳng vào dòng chảy áp sát  
khu vực kè Xuân Canh.  
Nhận xét chung:  
- Vận tốc trung bình của dòng chảy trong khu  
vực dòng chảy áp sát khu vực kè Xuân Canh  
tương đối lớn, vận tốc trung bình có giá trị từ  
1,2÷1,5 m/s và có khi lên đến đến 2÷3,0 m/s  
(trận lũ điển hình năm 2003). Với vận tốc dòng  
chảy lớn như vậy thì khả năng đào xói lòng  
sông gây sạt lở, đặc biệt là ở phía bờ lõm (kè  
Xuân Canh) là điều không thể tránh khỏi.  
- Dòng chủ lưu áp sát đường bờ có vận tốc  
lớn tiếp tục đào bới lòng dẫn và vận chuyển bùn  
Hình 7. Bùn cát di chuyển từ khu vực xói lở  
Bãi Tầm Xá rồi lắng đọng tại khu vực  
ngã ba Đuống – Hồng  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
142  
cát đi nơi khác, càng làm cho tình trạng xói lở đã giúp tìm hiểu và đánh giá cụ thể nguyên nhân  
trở nên trầm trọng hơn. Trước thực trạng này, chính làm tăng tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống  
lòng chính sông Hồng tại khu vực ngã ba Đuống và cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu vực ngã  
- Hồng có nguy cơ bị bồi gây khó khăn cho các ba Đuống - Hồng.  
hoạt động giao thông thủy trong mùa kiệt là hết  
sức rõ rệt.  
4.3. Giải pháp ổn định khu vực ngã ba  
Đuống – Hồng  
- Về nguyên nhân gây xói lở đường bờ:  
Dòng chủ lưu có xu hướng áp sát đường bờ  
(khu vực bãi Tầm Xá – kè Xuân Canh) với vận  
tốc lớn từ 1÷2 m/s, liên tục đào bới lòng dẫn và  
- Để giữ ổn định được khu vực ngã ba Đuống vận chuyển bùn cát đi nơi khác, càng làm cho  
– Hồng thì giải pháp cấp thiết ngay lúc này là tình trạng xói lở trở nên trầm trọng hơn. Một  
giải quyết vấn đề xói lở đường bờ đang xảy ra nguyên nhân khác đó là: tỷ lệ phân lưu từ sông  
tại khu vực bãi Tầm Xá. Nếu giải quyết được Hồng sang sông Đuống ngày càng tắng buộc  
vấn đề này thì sẽ hạn chế đáng kể lượng bùn cát lòng dẫn khu vực cửa Đuống phải tự mở rộng  
lắng đọng tại lòng chính sông Hồng (khu vực theo cả phương đứng và phương ngang để tự  
ngã ba Đuống – Hồng) mà đây là nguyên nhân cân bằng;  
chính nâng cao đáy lòng dẫn làm gia tăng tỷ lệ  
phân lưu từ sông Hồng sang sông Đuống.  
- Về nguyên nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu  
sang sông Đuống: Lòng chính sông Hồng khu  
- Song song với giải pháp giữ ổn định đường vực ngã ba Đuống – Hồng ngày càng được nâng  
bờ khu vực bãi Tầm Xá thì giải pháp nạo vét, lên theo thời gian do bùn cát lắng đọng đã khiến  
khơi thông lòng dẫn sông Hồng tại khu vực này dòng chảy theo trục sông Hồng trở nên không  
cũng hết sức cần thiết bởi giải pháp này sẽ ngay thuận và bắt đầu hình thành nên sự gia tăng  
tức thời giúp điều chỉnh lại tỷ lệ phân lưu ổn phân lưu vào sông Đuống  
định giữa sông Đuống – Hồng (tỷ lệ phân lưu ổn  
định Đuống/Hồng ≈ 30/70).  
Trước thực trạng này, lòng chính sông Hồng  
tại khu vực ngã ba Đuống - Hồng ngày càng bị  
- Cuối cùng, để đẩy lùi bồi lắng, duy trì ổn bồi gây khó khăn cho các hoạt động giao thông  
định lòng dẫn cũng như dòng chảy hợp lý giữa thủy trong mùa kiệt là hết sức rõ rệt. Một số giải  
sông Đuống và sông Hồng, tác giả cũng đề xuất pháp đề xuất giúp ổn định khu vực ngã ba  
xây dựng mũi hướng dòng tại vị trí cửa vào Đuống – Hồng gồm: 1) giải quyết triệt để vấn  
sông Đuống (tại xóm Bắc Cầu, Ngọc Thụy, đề xói lở đường bờ đang diễn ra tại khu vực bãi  
Long Biên, Hà Nội) tạo điều kiện cho dòng chảy Tầm Xá; 2) nạo vét, khơi thông lòng dẫn sông  
đi theo hướng lòng chính sông Hồng được thuận Hồng nhằm điều chỉnh lại tỷ lệ phân lưu ổn định  
lợi hơn.  
5. KẾT LUẬN  
giữa sông Đuống – Hồng; 3) xây dựng mũi  
hướng dòng tại vị trí cửa vào sông Đuống, tạo  
Trên cơ sở điều tra khảo sát ngoài thực địa điều kiện cho dòng chảy đi theo hướng lòng  
kết hợp chặt chẽ với việc phân tích nội nghiệp chính sông Hồng được thuận lợi hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PGS.TS Nguyễn Quang Cường và nnk (2014), Đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả công trình  
bảo vệ bờ sông Hồng trên địa bàn Hà Nội”, Hà Nội.  
GS.TS Lương Phương Hậu (2010), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu các giải pháp khoa học,  
công nghệ cho hệ thống công trình chỉnh trị sông trên các đoạn trọng điểm vùng đồng bằng Bắc Bộ  
và Nam Bộ”, Hà Nội.  
DHI: Guidebook (2007), “Mike 21C User Manual and M21C Scientific Reference Manual”.  
GS.TS Lê Kim Truyền (2007), Báo cáo tổng kết đề tài“Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn điều  
hành cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng”, Hà Nội.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
143  
PGS.TS Hoàng Văn Huân (2009), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới  
(MIKE 21) vào đánh giá và dự báo phòng chống sạt lở bờ sông (miền Bắc, miền Trung, miền  
Nam)”, Hồ Chí Minh.  
ThS. Hồ Việt Cường, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhẫn (Phòng Thí nghiệm trọng điểm QG về động lực  
học sông biển) (2013), “Xác định nguyên nhân sạt lở và dự báo diễn biến lòng dẫn sông Cần Thơ  
khu vực cầu Trà Niền bằng mô hình MIKE21C”, Tạp chí KH&CN Thủy lợi Viện KHTLVN.  
Nguyễn Thanh Hùng (Phòng Thí nghiệm trọng điểm QG về động lực học sông biển) (6/2013),  
“Phân tích xác định nguyên nhân gây sạt lở kè Xuân Canh, đê tả sông Đuống”, Tạp chí Khoa học  
kỹ thuật Thủy Lợi Và Môi Trường – Số 41.  
Lê Văn Hùng và Phạm Tất Thắng (2011), “Phân tích diễn biến lưu lượng và mực nước sông Hồng  
mùa kiệt”, Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường - ISSN 1859-3941- số đặc biệt 11/2011, Hà Nội.  
Lê Văn Hùng (2013), Báo cáo tổng kết đề tài cấp Thành phố Hà Nội: “Nghiên cứu diễn biến lưu  
lượng, mực nước các sông về mùa kiệt và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước  
trên địa bàn thành phố Hà Nội”.  
Lê Văn Hùng, Phạm Tất Thắng (2015), “Diễn biến lòng dẫn sông hồng từ Sơn Tây đến cửa Ba Lạt  
và ảnh hưởng của nó đến dòng chảy mùa kiệt”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy Lợi Và Môi  
Trường – Số 48.  
Abstract:  
DETERMINATION OF CAUSES LEADING TO INCREASING WATER FLOW INTO  
DUONG RIVER AND MECHANISM CAUSING BANK EROSION IN THE AREA OF THE  
BIFURCATION BETWEEN THE RED AND DUONG RIVERS  
River bank erosion problem is the great concern of managers and people living in the riparian  
area. In many locations on the Red River, erosion situation has occurred in both the vertical and  
horizontal direction, directly destroying large areas of crops and infrastructure, particularly  
threatening the stability of dikes of Red River. Typically, bank erosion situation has occurred at  
Tam Xa location (next to the bifurcation between Red and Duong Rives) with an average rate of  
3÷5m after each rainy season. Besides the bank erosion problem, this area is also facing with the  
state of increasing rapidly flow separation from the Red River to the Duong River during the period  
from 2000 to present. This issue has led to serious consequences such as unsafe system of dykes and  
canals on the Duong River waterway and the difficulty of taking water for agricultural production  
along the Red River. This paper presents the research, analysis and evaluation to determine the  
causes for the increased flow separation into the Duong River and mechanism causing bank erosion  
in the area. Based on causes and mechanisms, proposing measures to respond.  
Keywords: The bifurcation between the Red and Duong Rivers, flow separation, river bank erosion.  
BBT nhận bài: 09/3/2016  
Phản biện xong: 31/3/2016  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 52 (3/2016)  
144  
pdf 7 trang yennguyen 19900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định nguyên nhân làm tăng tỷ lệ phân lưu sang sông Đuống và cơ chế gây xói lở đường bờ tại khu vực ngã ba Đuống - Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_nguyen_nhan_lam_tang_ty_le_phan_luu_sang_song_duong.pdf