Phát triển phương pháp lấy mẫu không khí thụ động quan trắc PCDD/PCDF trong điều kiện khí hậu nhiệt đới

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU KHÔNG KHÍ THỤ ĐỘNG  
QUAN TRẮC PCDD/PCDF TRONG ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI  
TRỊNH KHẮC SÁU (1), NGHIÊM XUÂN TRƯỜNG (2), LÊ BẢO HƯNG (2)  
,
NGUYỄN THANH TUẤN (2), NGUYỄN ĐỨC THẮNG (2), TRẦN ĐÌNH PHIÊN (2)  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Kỹ thuật lấy mẫu không khí thụ động (PAS) với phin lọc xốp polyurethane  
(PUF) được sử dụng rộng rãi ở các nước có khí hậu ôn đới và tiếp tục phát triển để  
quan trắc các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) trong không khí xung quanh  
ở quy mô khu vực và định hướng toàn cầu nhằm đánh giá sự biến động về hàm  
lượng, xu hướng thời gian và không gian của sự ô nhiễm POP trong không khí [1-6].  
Mạng lưới quan trắc không khí của Ca-na-đa [7-10] và chương trình quan trắc của  
Séc [2,11] đã sử dụng PAS để quan trắc POP ở một số nước châu Mỹ, châu Âu,  
Trung Á, Thái Bình Dương...  
Ưu điểm của PAS là chi phí thấp, triển khai đơn giản, dễ thực hiện, không  
dùng điện, có thể thực hiện liên tục trong khoảng thời gian kéo dài từ một đến ba  
tháng, định kỳ ba tháng hoặc theo mùa [8, 12-15]. PAS phản ánh được hàm lượng  
trung bình của các chất POP trong không khí với khoảng thời gian lấy mẫu tùy chọn  
và do đó đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với lấy mẫu không khí chủ động.  
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nóng, nhiệt độ cao,  
độ ẩm lớn. Miền Bắc có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu và đông. Miền Trung và miền  
Nam nóng quanh năm với hai mùa: mùa khô, mùa mưa. Nghiên cứu ứng dụng PAS  
để quan trắc policlodibenzo-p-dioxin/policlodibenzofuran (PCDD/PCDF) trong điều  
kiện khí hậu tương tự như ở Việt Nam còn chưa được công bố nhiều. Nghiên cứu  
này nhằm phát triển phương pháp quan trắc PCDD/PCDF bằng kỹ thuật lấy mẫu  
không khí thụ động liên tục trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, đã lựa chọn khu vực  
Hà Nội - đại diện cho khí hậu của miền Bắc và Đà Nẵng - đại diện cho khí hậu ở  
miền Trung. Điểm mới và khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu quốc  
tế đã công bố là sử dụng các chất chuẩn đồng vị đánh dấu 13C-PCDD/PCDF làm  
chất đồng hành thêm lên phin lọc PUF ngay từ khi bắt đầu lấy mẫu.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Thiết bị lấy mẫu không khí thụ động  
Bộ lấy mẫu TE-200 PAS của Tisch Environmental Inc. (Ohio, Mỹ) treo ngoài  
trời với phin lọc PUF đường kính 140 mm, dày 13 mm [16]. Do có cấu trúc xốp và  
các nhóm chức, nhóm liên kết nên PUF có khả năng lưu giữ, hấp phụ rất tốt các chất  
POP trong không khí. Hình 1 mô tả sơ đồ cấu tạo của bộ lấy mẫu PAS.  
PUF được làm sạch bằng cách chiết Soxhlet với aceton, sau đó với toluen và  
sấy khô trong chân không, bảo quản kín trước khi sử dụng.  
62  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Giá treo  
Vòm thép không gỉ  
Lưu thông không khí vào-ra  
Phin lọc PUF  
Hình 1. Sơ đồ cấu tạo của bộ lấy mẫu PAS  
2.2. Chất chuẩn PCDD/PCDF  
Các chất đồng hành gồm 15 chất chuẩn đánh dấu đồng vị 13C-PCDD/PCDF có  
nồng độ 2-4 ng/mL pha loãng từ dung dịch gốc EDF-8999 của Cambridge Isotope  
Laboratories (Massachusetts, Mỹ). Các chất chuẩn PCDD/PCDF tự nhiên, chất  
chuẩn thu hồi đồng vị 13C- và chất chuẩn làm sạch đồng vị 37Cl- được được sử dụng  
như mô tả trong phương pháp US EPA 1613B [17].  
2.3. Thực nghiệm  
Lựa chọn ba địa điểm tại Hà Nội: khu vực nội thành, khu vực ngoại thành chịu  
tác động của các hoạt động công nghiệp, khu vực nông thôn không hoặc chịu tác  
động không đáng kể của bất cứ hoạt động nào. Thu thập mẫu định kỳ theo mùa liên  
tục: mùa xuân (từ khoảng giữa tháng 2 đến giữa tháng 5), mùa hạ (tháng 5 - tháng  
8), mùa thu (tháng 8 - tháng 11) và mùa đông (tháng 11 - tháng 2 năm sau).  
Nghiên cứu tại Đà Nẵng ở ba vị trí lựa chọn có liên quan đến hoạt động xử lý  
ô nhiễm dioxin trong sân bay. Thu thập mẫu định kỳ theo thời gian 3 tháng liên tục  
một lần: Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8 hàng năm, thu mẫu 2 đợt trong khoảng  
tháng 2 - tháng 5 và tháng 5 - tháng 8. Mùa mưa từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 2  
năm sau, thu mẫu 2 đợt trong khoảng tháng 8 - tháng 11 và tháng 11 đến tháng 2.  
Thời gian thực hiện nghiên cứu tại Hà Nội từ tháng 4 năm 2012 và tại Đà  
Nẵng từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 5 năm 2020. Thời gian thực hiện các mẫu PAS  
lặp song song ngoài hiện trường (field duplicate) tại Hà Nội từ tháng 5 năm 2013  
đến tháng 8 năm 2016 và tại Đà Nẵng từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014.  
Tùy theo sự thay đổi mùa trong năm, mỗi mẫu PAS lấy liên tục trong 93±12 ngày.  
Mẫu lặp trong phòng thí nghiệm (lab duplicate) là mẫu chia đôi dịch chiết của  
một mẫu PAS ngay sau khi chiết Soxhlet.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
63  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
2.4. Phân tích PCDD/PCDF  
Các chất chuẩn thu hồi 13C-1234-TCDD và 13C-123789-HxCDD được thêm  
vào mẫu PAS trước khi chiết để xác định hiệu suất lưu giữ các chất đồng hành trên  
phin lọc PUF. Chuẩn bị mẫu PAS như mô tả ở phương pháp US EPA 1613B [17].  
Phân tích PCDD/PCDF bằng sắc ký khí phân giải cao (HRGC, Aligent  
7890A) ghép nối phổ khối phân giải cao (HRMS, AutoSpec Premier, Water).  
Chương trình nhiệt độ: 150ºC trong 2 phút, tăng từ 150ºC lên 220ºC với 20ºC/phút,  
220ºC trong 16 phút, từ 220ºC đến 320ºC với 5ºC/phút và ở 320ºC cho đến khi kết  
thúc. Nhiệt độ buồng bơm: 280ºC, buồng kết nối: 290ºC. Khí mang Heli: 1,0  
ml/phút. Cột phân tích DB-5MS: dài 60 m, đường kính trong 0,25 mm, độ dày màng  
phim 0,25µm. Độ phân giải MS ≥ 10000 xen phủ 10%, ion hóa electron dương.  
Giới hạn phát hiện (LOD) của phương pháp: 0,2 pg/mẫu đối với  
TetraCDD/CDF, 0,5 pg/mẫu đối với Pen- đến Hepta-CDD/CDF và 1,0 pg/mẫu đối  
với OCDD/OCDF.  
2.5. Xử lý số liệu  
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2013 và phân tích bằng phương pháp so  
sánh One-way Anova trên phần mềm IBM SPSS Statistics 20. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê được xác định khi p < 0,05.  
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
PAS đã được minh chứng và ứng dụng để quan trắc POP trong không khí ở  
các vùng khí hậu ôn đới [1-11]. Việc ứng dụng PAS ở các khu vực có khí hậu nhiệt  
đới, nhiệt độ cao, độ ẩm lớn tương tự như Việt Nam còn hạn chế và cần phải được  
kiểm chứng. Độ tin cậy, độ chính xác của phương pháp phát triển này được đánh giá  
thông qua hiệu suất lưu giữ các chất chuẩn đồng hành đánh dấu đồng vị 13C-  
PCDD/PCDF trên các phin lọc PUF trong quá trình lấy mẫu và sự khác biệt về hàm  
lượng PCDD/PCDF ở các mẫu PAS song song tại hiện trường (field duplicate).  
3.1. Đánh giá sự lưu giữ các chất đồng hành 13C-PCDD/PCDF trên PUF  
13  
Theo phương pháp phân tích truyền thống, các chất chuẩn định lượng C-  
PCDD/PCDF được thêm vào nền mẫu môi trường, sinh học… chỉ ở công đoạn  
chuẩn bị mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm. Đối với phương pháp US EPA  
1613B, yêu cầu về hiệu suất thu hồi 13C-PCDD/PCDF trong quá trình chuẩn bị mẫu  
13  
cần đạt từ 17% đến 185% [17]. Do các chất PCDD/PCDF tự nhiên và đồng vị C-  
PCDD/PCDF có tính chất hóa-lý tương đồng nhau nên phương pháp phát triển đã sử  
13  
dụng các chất chuẩn C-PCDD/PCDF làm chất đồng hành thêm lên PUF ngay từ  
khi bắt đầu lấy mẫu nhằm mục đích: (1) là chất chuẩn định lượng như các phương  
pháp phân tích truyền thống, (2) kiểm soát được đồng thời sự lưu giữ các chất đồng  
hành, các chất PCDD/PCDF tự nhiên trên PUF trong quá trình lấy mẫu và hiệu suất  
thu hồi trong quá trình chuẩn bị mẫu; (3) xác định được chính xác hàm lượng  
PCDD/PCDF trong không khí ngay trong quá trình lấy mẫu PAS.  
64  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Giai đoạn 2012-2020, nghiên cứu này đã thực hiện liên tục 70 mẫu PAS tại Hà  
13  
Nội và 88 mẫu PAS tại Đà Nẵng. Hiệu suất lưu giữ các chất chuẩn đồng hành C-  
PCDD/PCDF được tổng hợp trong bảng 1. Biến động hiệu suất lưu giữ các chất  
đồng hành theo mùa minh họa trên hình 2, 3.  
Bảng 1. Hiệu suất lưu giữ (%) các chất chuẩn đồng hành trên phin lọc PUF  
Hà Nội (n = 70)  
Đà Nẵng (n = 88)  
Chất đồng hành  
Min Ave Max %RSD Min  
Ave  
Max  
139,7  
185  
%RSD  
14,1  
23,8  
21,1  
16,5  
19,9  
30,4  
18,7  
21,5  
24,7  
26  
13C-2378-TCDD  
38,4 93,3 140,6 18,2  
40,1 103,3 166,4 25,5  
55,7 91,5  
47,7 108,7  
21,6 87,9  
13C-12378-PeCDD  
13C-123478-HxCDD  
13C-123678-HxCDD  
33,9 86,8 115,2  
21  
127,9  
124,8  
117,2  
142,5  
145,4  
39,2 87,9 117,6  
13C-1234678-HpCDD 46,7 87,1 118,9 20,4  
18  
23,7  
88  
24,3 87,9  
23,8 79,8  
37,9 86,1  
13C-OCDD  
13C-2378-TCDF  
39,7 80,1 136,4 28,3  
36,5 87,6 137,7 21,4  
49,9 108,4 174,8 24,2  
13C-12378-PeCDF  
13C-23478-PeCDF  
13C-123478-HxCDF  
13C-123678-HxCDF  
13C-234678-HxCDF  
13C-123789-HxCDF  
49,8 110,9 164,5  
39,4 89,7  
2,4 74,8  
128  
107  
24,6  
26,2  
23,8  
18,7  
39,2  
24,3  
45,1  
32  
94,2  
72,3  
175  
3,9  
109,8  
118,6  
101,5  
99,9  
6,6 88,3 119,5  
35,1 77,7 99,4  
9,7 39,5 89,5  
20,6 85,4  
20,6  
19,8  
53,3  
28,6  
67,6  
23  
73,7  
31,2  
2,3  
13C-1234678-HpCDF 19,4  
13C-1234789-HpCDF 10,1 36,2 78,3  
63  
99,1  
12,5 59,3  
1,7 28,4  
106,2  
123,3  
Ave: Trung bình, RSD: Độ lệch chuẩn tương đối  
Kết quả tổng hợp ở Bảng 1 cho thấy hiệu suất lưu giữ của các chất đồng hành  
13C-PCDD/PCDF tại Hà Nội (n = 70) với khoảng thời gian thu mẫu PAS theo mùa  
(xuân, hạ, thu, đông) đạt từ 2,4% đến 174,8%, trong đó 97,5% tổng số chất đồng  
hành đạt trên 17% với RSD < 28,3%; tại Đà Nẵng (n = 88) với thời gian lấy mẫu  
định kỳ 3 tháng trong cả mùa khô và mùa mưa đạt trong khoảng 1,7% đến 185%,  
trong đó 96,3% tổng số chất đạt trên 17% với RSD < 30,4%. Phương pháp thống kê  
One-way Anova cho thấy không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê về hiệu suất  
lưu giữ của các chất đồng hành 13C-PCDD/PCDF tại Hà Nội và Đà Nẵng.  
Nếu tính chung cho cả hai khu vực, có 96,9% tổng số các chất đồng hành đạt  
hiệu suất lưu giữ từ 17% đến 185%, nghĩa là đáp ứng ngay được yêu cầu của  
phương pháp US EPA 1613B về hiệu suất thu hồi ở công đoạn chuẩn bị mẫu trong  
phòng thí nghiệm [17]. Khoảng 3,1% tổng số các chất đồng hành thuộc về 13C-  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
65  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
123478-HxCDF, 13C-123789-HxCDF, 13C-1234789-HpCDF có hiệu suất lưu giữ  
dưới 17% là chấp nhận được do phương pháp phát triển đã tính toán cả hiệu suất lưu  
giữ trong quá trình lấy mẫu PAS kéo dài đến 3 tháng trong các điều kiện thời tiết  
khắc nghiệt ngoài hiện trường.  
Hình 2. Hiệu suất lưu giữ các chất chuẩn đồng hành theo mùa tại Hà Nội  
Hình 3. Hiệu suất lưu giữ các chất chuẩn đồng hành theo mùa tại Đà Nẵng  
Hình 2 và 3 cho thấy các chất đồng hành nhóm PCDD và PCDF có hiệu suất  
lưu giữ trung bình rất cao, tại Hà Nội từ 36,2% đến 108,4% với RSD trung bình  
34,4%; tại Đà Nẵng từ 28,4% đến 110,9% với RSD trung bình 37,8%. Chỉ có hai  
chất có hiệu suất lưu giữ trung bình dưới 50% là 13C-123789-HxCDF (31,2% -  
39,5%) và 13C-1234789-HpCDF (28,4% - 36,2%).  
66  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Do đặc điểm khí hậu nắng nóng, nhiệt độ không khí cao trong mùa hè và mùa  
13  
thu ở Hà Nội cũng như mùa khô (mùa nóng) ở Đà Nẵng nên hiệu suất lưu giữ C-  
PCDD/PCDF trên PUF thấp hơn so với các mùa còn lại. Mùa đông và mùa xuân ở  
Hà Nội đã ghi nhận sự hấp phụ rất tốt và sự ổn định của tất cả các chất đồng hành  
13C-PCDD/PCDF. Mùa đông (n=18) với hiệu suất lưu giữ 13C-PCDD/PCDF trong  
khoảng 26,9%-146,3%, trung bình 83,6%; Mùa xuân (n=18) là 19,3%-166,4%,  
trung bình 85,9% đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của phương pháp US EPA 1613B.  
Trong khi đó mùa hạ (n=17) từ 2,4%-148,2%, trung bình 75,0% và mùa thu (n=17)  
từ 9,7%-174,8%, trung bình 75,9% đều có hiệu suất lưu giữ trung bình thấp hơn. Tại  
Đà Nẵng đã ghi nhận trong mùa mưa (n=42) hiệu suất lưu giữ từ 3,9%-164,5%,  
trung bình 80,9% và mùa khô (n=46) là 1,7%-201,5%, trung bình 77,3%. Sự khác  
biệt đều đạt ý nghĩa thống kê (p<0,05) với hầu hết các chất đồng hành 13C-  
PCDD/PCDF lớn hơn ở mùa xuân và mùa đông so với mùa hạ và mùa thu tại Hà  
Nội, cũng như lớn hơn ở mùa mưa so với mùa khô tại Đà Nẵng.  
Như vậy, việc phát triển phương pháp quan trắc sử dụng kỹ thuật PAS với các  
13  
chất chuẩn đánh dấu đồng vị C-PCDD/PCDF là chất đồng hành trên PUF từ khi  
bắt đầu lấy mẫu và đồng thời là chất chuẩn định lượng PCDD/PCDF hoàn toàn phù  
hợp và đáp ứng được phương pháp US EPA 1613B. Đây là điểm mới chưa thấy các  
tác giả khác công bố. Ưu điểm của phương pháp phát triển là định lượng được các  
chất đồng loại PCDD/PCDF ngay từ khi lưu giữ trên PUF trong suốt quá trình quan  
trắc vì đã loại trừ được sự giải hấp phụ hoặc sự mất mát của chúng do các chất đồng  
hành và chất tự nhiên có tính chất hóa-lý tương tự nhau. Điều thú vị nhận được là  
các chất đồng vị 13C-PCDD/PCDF cơ bản bền vững và hấp phụ tốt trên phin lọc  
PUF trong suốt quá trình quan trắc ở các điều kiện thời tiết khác nhau của Việt Nam.  
3.2. Đánh giá sự khác biệt về hàm lượng PCDD/PCDF trên PUF  
Nghiên cứu này đánh giá độ tin cậy, độ chính xác của phương pháp phát triển  
thông qua tỷ lệ phần trăm sự khác biệt tương đối (RPD) về hàm lượng của từng chất  
PCDD/PCDF trên hai phin lọc PUF lấy mẫu song song ngoài hiện trường (mẫu lặp  
hiện trường - field duplicate) theo hai cách: (1) Lấy mẫu lặp song song nhưng chỉ  
thêm chất chuẩn đồng hành trên một thiết bị PAS, (2) Lấy mẫu lặp song song và  
thêm chất chuẩn đồng hành trên cả hai thiết bị PAS. Để đảm bảo tính đại diện, đã  
lấy mẫu lặp tại Hà Nội và thêm các chất đồng hành trên cả hai PUF (N=16 cặp mẫu)  
liên tục qua 4 mùa (xuân, hạ, thu đông) từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 8 năm 2017  
và tại Đà Nẵng chỉ thêm chất chuẩn đồng hành trên một PUF (N=6) liên tục qua 2  
mùa (mùa khô nóng và mùa mưa) từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014.  
RPD được vận dụng tính theo công thức của US EPA [18]:  
RPD% = [|C1 - C2| / (C1 + C2)/2] * 100%  
với C1, C2 là hàm lượng PCDD/PCDF trên hai phin lọc PUF.  
Theo US EPA [18], RPD chỉ áp dụng cho các mẫu phân tích lặp lại trong  
phòng thí nghiệm (lab duplicate) và không bao gồm RPD của quá trình thu thập  
mẫu. RPD tùy thuộc vào ngưỡng nồng độ các chất. Theo Gouin, T. [9], các mẫu có  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
67  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
độ lặp lại rất tốt khi hệ số biến thiên (CV) < 35% cho cả quá trình lấy mẫu. Chỉ số  
này tương đương với RPD < 40% đối với policlobiphenyl (PCB), polibromdiphenyl  
ete (PBDE) và chất trừ sâu gốc clo hữu cơ (OC) có hàm lượng từ pg/PUF/ngày đến  
ng/PUF/ngày hoặc pg/m3 đến ng/m3 (10-12 đến 10-9 g/m3). Với nền mẫu không khí,  
hàm lượng PCDD/PCDF thường thấp hơn khoảng 1000 lần, nghĩa là chỉ ở mức từ  
fg/m3 đến pg/m3 (10-15 đến 10-12 g/m3) thì chấp nhận CV < 50% hoặc RPD < 67%.  
Để đảm bảo sự khách quan khi đánh giá độ tin cậy, độ chính xác của phương  
pháp phát triển, nghiên cứu này đã tổng hợp dữ liệu về hàm lượng PCDD/PCDF của  
các mẫu PAS lặp hiện trường nhằm tạo ra các khoảng biến động hàm lượng khác  
nhau với mức độ ô nhiễm trong không khí đúng như thực tế, trong các điều kiện thời  
tiết khác nhau với đủ các mùa và đặc biệt là xem xét đến cả đặc điểm của nguồn ô  
nhiễm từ chất da cam và từ các nguồn khác ở mỗi khu vực. Đặc điểm của các nguồn  
ô nhiễm được khẳng định thông qua 3 chỉ số: (1) T% là tỷ lệ phần trăm của hàm  
lượng TCDD so với tổng TEQPCDD/F, (2) P là tỷ lệ về hàm lượng của PeCDD so với  
TCDD, và (3) R là tỷ lệ của hàm lượng tổng PCDD so với tổng PCDF [19]. Khoảng  
biến động của hàm lượng PCDD/PCDF ở các mẫu PAS lặp hiện trường và mẫu lặp  
trong phòng thí nghiệm (PTN) được tổng hợp ở bảng 2, minh họa trên hình 4. RPD  
của hàm lượng PCDD/PCDF trong các mẫu PAS lặp được tổng hợp trong bảng 3.  
Hình 4 và bảng 2 cho thấy đặc điểm ô nhiễm PCDD/PCDF trong không khí tại  
Hà Nội chủ yếu là từ hoạt động công nghiệp và dân sinh bởi các chất PCDF luôn  
luôn chiếm ưu thế, hàm lượng tổng PCDF cao hơn so với tổng PCDD với R từ 0,093  
đến 0,965 và trung bình chỉ là 0,529; T% rất thấp từ 1,4% đến 32,1%, trung bình  
14,9%; P từ 0,46 đến 28,7 và trung bình: 2,45 (P cơ bản > 1).  
Bảng 2. Hàm lượng PCDD/PCDF của các mẫu PAS lặp song song  
Hà Nội (n = 32)  
Min Max Ave  
Đà Nẵng (n = 12)  
Min Max Ave  
Mẫu lặp PTN (n = 8)  
Min Max Ave  
Hàm lượng  
(pg/PUF/ngày)  
Từng đồng loại 0,003 1,860 0,193 0,013 10,65 0,418 0,015 1,453 0,156  
Tổng TEQ  
Tổng PCDD  
Tổng PCDF  
0,143 0,676 0,302 0,401 2,357 0,973 0,160 0,206 0,172  
0,648 1,845 1,029 3,228 12,70 5,412 1,490 1,895 1,729  
1,275 8,079 2,220 0,824 2,606 1,670 0,751 1,148 0,930  
Tổng TEQ: Tổng độ độc của PCDD/PCDF, các chất không phát hiện được có hàm  
lượng bằng ½ giới hạn phát hiện.  
Đặc điểm ô nhiễm PCDD/PCDF ở sân bay Đà Nẵng chủ yếu là từ nguồn chất  
da cam và có sự khác biệt khá rõ với các nguồn ô nhiễm khác: Các chất PCDD luôn  
luôn chiếm ưu thế với R từ 1,74 đến 7,42 và trung bình: 3,44 (R luôn > 1). Tỷ lệ T%  
từ khá cao 31,7% đến rất cao 92,4%, trung bình: 71,9%. P từ 0,02 đến 0,78, trung  
bình: 0.16 (P luôn < 1).  
68  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình 4. Hàm lượng PCDD/PCDF của các mẫu PAS lặp song song tại hiện trường  
Bảng 3 cho thấy RPD của các chất đồng loại PCDD/PCDF trong mẫu lặp hiện  
trường tại Hà Nội (N = 16) từ 0% đến 68,4%, trong đó có 93,8% tổng số cặp chất có  
RPD không vượt quá 40% và RPD trung bình chỉ từ 7,4% đến 30,5%. RPD của các  
mẫu lặp hiện trường tại Đà Nẵng (N = 6) trong khoảng 0 - 94,7%, trong đó có 85,8%  
tổng số cặp chất có RPD < 40% và RPD trung bình từ 13,1% đến 54,7%.  
Bảng 3. RPD của hàm lượng PCDD/PCDF trong các mẫu PAS lặp song song  
Hà Nội  
Đà Nẵng  
Mẫu lặp PTN  
(PAS lặp, N = 16)  
(PAS lặp, N = 6)  
(N = 4)  
RPD (%)  
Min Ave Max Min Ave  
Max  
40,1  
44,4  
42,9  
30,7  
87,6  
81,6  
33,1  
48,8  
34,7  
45,0  
41,9  
46,5  
Min Ave  
Max  
2378-TCDD  
0
0
0
0
21,0 47,3  
16,3 44,3  
29,1 52,2  
17,3 68,4  
8,4  
1,9  
3,3  
0,9  
0
22,1  
22,0  
25,4  
13,1  
29,1  
26,8  
23,2  
24,2  
6,9  
6,5  
4,3  
0
13,2  
14,6  
16,3  
5,0  
19,7  
30,6  
23,1  
10,5  
15,4  
5,1  
12378-PeCDD  
123478-HxCDD  
123678-HxCDD  
123789-HxCDD  
1234678-HpCDD  
OCDD  
1,9 19,1 45,5  
1,4 10,7 36,4  
0
8,8  
0,6  
0,3  
3,6  
1,9  
1,5  
1,7  
3,0  
2,6  
2,6  
1,7  
3,3  
0
14,5 42,0  
9,7 32,4  
3,4  
3,0  
6,2  
5,7  
2378-TCDF  
0,6  
0,7  
4,3  
12378-PeCDF  
23478-PeCDF  
123478-HxCDF  
123678-HxCDF  
8,3 19,7 11,3 22,0  
8,5  
1,8 10,9 24,3  
0,4 15,3 35,9  
3,5  
0
19,7  
20,1  
7,7  
8,6  
21,1  
13,3  
18,4  
0,7  
7,5 31,7 14,7 23,3  
8,5  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
69  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hà Nội  
(PAS lặp, N = 16)  
Đà Nẵng  
(PAS lặp, N = 6)  
Mẫu lặp PTN  
(N = 4)  
RPD (%)  
Min Ave Max Min Ave  
0,7 10,2 25,9 12,1 24,5  
1,3 27,3 52,5 19,6 48,4  
Max  
49,6  
81,0  
42,6  
94,7  
97,2  
34,3  
27,6  
64,0  
Min Ave  
Max  
19,7  
51,0  
11,2  
48,9  
29,8  
6,6  
234678-HxCDF  
123789-HxCDF  
1234678-HpCDF  
1234789-HpCDF  
OCDF  
7,9  
5,5  
0,8  
12,5  
27,2  
5,3  
2,1 11,0 25,9  
0,5  
27,1  
6,4 30,5 67,3 18,7 54,7  
12,1 30,4  
0
0
20,3 66,7  
8,8 37,9  
1,6  
0
33,2  
18,7  
20,2  
24,8  
5,5  
0
18,2  
3,2  
Tổng TEQ(ND=1/2DL)  
Tổng PCDD  
0,7 10,2 29,8  
0,1 7,4 27,0  
1,7  
8,4  
1,4  
0,6  
3,1  
4,4  
4,4  
Tổng PCDF  
8,0  
N: số cặp mẫu lặp, Ave: Trung bình, RPD%: phần trăm sự khác biệt tương đối  
RPD của các mẫu PAS lặp hiện trường tại Hà Nội nêu trên là hoàn toàn chấp  
nhận được khi so sánh với các mẫu PAS tương tự nhưng chỉ được phân tích lặp lại  
trong phòng thí nghiệm (lab duplicate, N=4) ghi ở bảng 3 với RPD ở từ 0% đến 51%  
và trung bình từ 3,0% đến 30,4%; trong đó có 95% tổng số cặp chất có RPD dưới  
40%. RPD của tổng TEQ, tổng PCDD và tổng PCDF tại Đà Nẵng là lớn hơn có ý  
nghĩa thống kê so với tại Hà Nội và trong phòng thí nghiệm với p lần lượt là: pĐN-HN  
= 0,038, pĐN-PTN = 0,018; pĐN-HN = 0,031, pĐN-PTN = 0,006; pĐN-HN = 0,004 và pĐN-PTN  
= 0,012. Điều này minh chứng độ tin cậy của PAS khi sử dụng các chất chuẩn đánh  
dấu đồng vị 13C-PCDD/PCDF làm chất đồng hành trên PUF để định lượng  
PCDD/PCDF ngay từ khi bắt đầu lấy mẫu.  
Nếu tính chung cho cả hai khu vực lấy mẫu PAS lặp hiện trường tại Hà Nội và  
Đà Nẵng (N = 22) sẽ có 91,6% và 98,4% tổng số cặp chất của PCDD/PCDF đạt  
RPD < 40% và RPD < 67% tương ứng, hoặc 93,2% và 96,4% tổng số cặp chất có  
CV < 35% và CV < 50% tương ứng. Với 8,4% tổng số cặp chất PCDD/PCDF có  
RPD > 40% là chấp nhận được vì hàm lượng của chúng trong không khí rất thấp, chỉ  
từ 10-15 đến 10-12 g/PUF/ngày. RPD và CV của nghiên cứu này có sự tương đương  
và tốt hơn so với nghiên cứu của Gouin, T. ở khu vực Great Lakes Bắc Mỹ nơi có  
khí hậu ôn đới với 81% số mẫu lặp của PCB, PBDE và OC có CV < 35% và 91% số  
mẫu lặp của PCB và OC có CV < 50% [9].  
RPD phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm của các chất, sự khác biệt về hàm lượng  
sẽ giảm đi (RPD sẽ nhỏ hơn) khi mức độ ô nhiễm các chất tăng lên và ngược lại. Dữ  
liệu RPD ở bảng 3 nhìn chung phù hợp với đặc trưng của hai nguồn ô nhiễm. Hàm  
lượng tổng PCDD tại Đà Nẵng chiếm ưu thế hơn so với tổng PCDF nên RPD của  
nhóm PCDD thấp hơn. Tương tự, hàm lượng tổng PCDF tại Hà Nội chiếm ưu thế  
hơn so với tổng PCDD thì RPD của nhóm PCDF thấp hơn. Những kết quả thu được  
cũng cho thấy phương pháp phát triển đảm bảo độ tin cậy khi ứng dụng quan trắc ở  
các nguồn ô nhiễm khác nhau với mức độ ô nhiễm và khoảng biến động hàm lượng  
của các chất PCDD/PCDF rất khác nhau.  
70  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
4. KẾT LUẬN  
- Đã phát triển thành công phương pháp lấy mẫu không khí thụ động sử dụng  
các chất chuẩn đồng vị đánh dấu 13C-PCDD/PCDF làm chất đồng hành trên PUF  
ngay từ khi bắt đầu lấy mẫu để quan trắc PCDD/PCDF từ các nguồn ô nhiễm khác  
nhau với mức độ ô nhiễm khác nhau trong điều kiện thực tế của khí hậu nhiệt đới  
nắng nóng, nhiệt độ cao, độ ẩm lớn tại Việt Nam.  
13  
- Các chất đồng hành C-PCDD/PCDF đóng vai trò là chất định lượng ngay  
trong quá trình thu thập mẫu theo mùa (xuân, hạ, thu, đông ở miền bắc) hoặc định  
kỳ 3 tháng vào mùa khô và mùa mưa ở miền Trung. Đã ghi nhận 96,9% tổng số các  
chất đồng hành đạt hiệu suất lưu giữ từ 17% đến 185% tương đương với yêu cầu của  
phương pháp US EPA 1613B về hiệu suất thu hồi chỉ ở công đoạn chuẩn bị mẫu  
trong phòng thí nghiệm.  
- Phương pháp phát triển đảm bảo độ tin cậy, độ chính xác với 91,6% tổng số  
các cặp chất PCDD/PCDF có RPD < 40% và RPD trung bình chỉ từ 7,4% đến  
30,5% tính cho cả quá trình lấy mẫu PAS lặp ngoài hiện trường và phân tích trong  
phòng thí nghiệm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
3.  
4.  
Harner T., K. Pozo, T. Gouin, A.M. Macdonald, H. Hung, J. Cainey and A.  
Peters, Global pilot study for persistent organic pollutants (POPs) using PUF  
disk passive air samplers, Environ. Pollut., 2006, 144:445-452.  
Holoubek I., J. Klánová, P. Čupr, P. Kukučka, J. Borůvková, J. Kohoutek, R.  
Prokeš and R. Kareš, POPs in ambient air from MONET network-global and  
regional trends, WIT Trans. Ecol. Environ., 2011, 147:173-184.  
Jaward F.M., N.J. Farrar, T. Harner, A.J. Sweetman and K.C. Jones, Passive  
air sampling of PCBs, PBDEs, and organochlorine pesticides across Europe,  
Environ. Sci. Technol., 2004, 38:34-41.  
Schuster J.K., T. Harner, G. Fillmann, L. Ahrens, J.C. Altamirano, B.  
Aristizábal, W. Bastos, L.E. Castillo, J. Cortés, and O. Fentanes, Assessing  
polychlorinated dibenzo-p-dioxins and polychlorinated dibenzofurans in air  
across Latin American countries using polyurethane foam disk passive air  
samplers, Environ. Sci. Technol., 2015, 49:3680-3686.  
5.  
6.  
Tominaga M., C. Silva, J. Melo, N. Niwa, D. Plascak, C. Souza, and M. Sato,  
PCDD, PCDF, dl-PCB and organochlorine pesticides monitoring in São  
Paulo City using passive air sampler as part of the Global Monitoring Plan,  
Sci. Total Environ., 2016, 571:323-331.  
Bogdal C., M. Scheringer, E. Abad, M. Abalos, B. Van Bavel, J. Hagberg, and  
H. Fiedler, Worldwide distribution of persistent organic pollutants in air,  
including results of air monitoring by passive air sampling in five continents,  
TrAC - Trends Anal. Chem., 2013, 46:150-161.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
71  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
7.  
Pozo K., Harner T., Lee S.C., Wania F., Muir D.C.G., Jones K.C., Seasonally  
resolved concentrations of persistent organic pollutants in the Global  
atmosphere from the first year of the GAPS study, Environ. Sci. Technol.,  
2009, 43(3): 796-803.  
8.  
9.  
Estellano V.H., Pozo K., Harner T., Franken M., Zaballa M., Altitudinal and  
seasonal variations of persistent organic pollutants in the Bolivian Andes  
mountains, Environ. Sci. Technol., 2008, 42(7):2528-2534.  
Gouin T., Harner T., Blanchard P., Mackay D., Passive and active air samplers  
as complementary methods for investigating persistent organic pollutants in  
the Great Lakes basin, Environ. Sci. Technol., 2005, 39:9115-9122.  
10. Jaward F.M., Farrar N.J., Harner T., Sweetman A.J., Jones K.C., Passive air  
sampling of PCBs, PBDEs and organochlorine pesticides across Europe,  
Environ. Sci. Technol., 2004, 38(1):34-41.  
12. Harner, T., Su, K., Genualdi, S., Karpowicz, J., Ahrens, L., Mihele, C.,  
Schuster, J., Charland, J.-P., Narayan, J., Calibration and application of PUF  
disk passive air samplers for tracking polycyclic aromatic compounds (PACs),  
Atmos. Environ., 2013, 75:123-128.  
13. Cortes, J., Gonzalez, C.M., Morales, L., Abalos, M., Abad, E., Aristizabal,  
B.H., PCDD/PCDF and dl-PCB in the ambient air of a tropical Andean city:  
passive and active sampling measurements near industrial and vehicular  
pollution sources, Sci. Total. Environ., 2014, 491-492:67-74.  
14. Gao, L., Zhang, Q., Liu, L., Li, C., Wang, Y., Spatial and seasonal  
distributions of polychlorinated dibenzo-p-dioxins and dibenzofurans and  
polychlorinated biphenyls around a municipal solid waste incinerator,  
determined using polyurethane foam passive air samplers, Chemosphere,  
2014, 114:317-326.  
15. Vilavert, L., Nadal, M., Schuhmacher, M., Domingo, J.L., Seasonal  
surveillance of airborne PCDD/Fs, PCBs and PCNs using passive samplers to  
assess human health risks, Sci. Total Environ., 2014, 466:733-740.  
16. Harner T., PUF disk sampler (TE-200 PAS) standard operating procedure,  
Environment Canada, Toronto, Ontario M3H 5T4 Canada, 2006.  
17. U.S. Environmental protection agency, Method 1613B: Tetra- through octa-  
chlorinated dioxins and furans by isotope dilution HRGC/HRMS, Washington,  
D.C., 1994.  
18. U.S. Environmental protection agency, Hazardous waste test methods SW-  
846, Chapter one: Project quality assurance and quality control, Revision 2,  
United States Environmental Protection Agency, Washington, D.C., 2014.  
19. Truong N.X, Sau T.K., Net N.X, Hung L.B, Hue N.D, Huy D.Q, Hang N.M,  
Study and differentiate dioxin from herbicide used in Vietnam war and that  
created from other wastes, Organohalogen Compounds, 2010, 72:896-901.  
72  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
SUMMARY  
DEVELOPING THE PASSIVE AIR SAMPLING METHOD  
FOR MONITORING PCDDs/PCDFs IN TROPICAL CLIMATE CONDITIONS  
Passive air sampling (PAS) method has been successfully developed using  
13  
isotope standards C-labeled PCDDs/PCDFs as surrogates on the PUF disks from  
the beginning of sampling to monitor PCDDs/PCDFs from different sources of  
pollution, with very different levels of PCDDs/PCDFs in ambient air in the actual  
conditions of monsoon tropical climates with hot, wet weather and high  
temperatures in Vietnam.  
The 13C-labeled PCDD/PCDF surrogates acted as quantitative standards in the  
seasonal PAS process (spring, summer, autumn, winter) in the North and/or every 3  
months in the dry and rainy seasons in the Central. At least 96.9% of all surrogates  
had the retention efficiencies of 17% to 185% on PUF disks, which were equivalent  
to that required by US EPA 1613B method for the recovery efficiencies only at  
sample preparation.  
This development method was shown to be reliable with 91.6% of the total  
PCDD/PCDF congeners which their relative percent differences (RPDs) between  
PCDD/PCDF concentrations on the PUF disks of field duplicates were not exceed  
40% and an average RPD of only 7.4% to 30.5% for both PAS process and  
laboratory analysis.  
Keywords: PCDDs/PCDFs, passive air sampling, surrogates, retention  
efficiency, relative percent difference.  
Nhận bài ngày 28 tháng 9 năm 2020  
Phản biện xong ngày 22 tháng 10 năm 2020  
Hoàn thiện ngày 26 tháng 10 năm 2020  
(1) Viện Y sinh nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) Phân viện Hóa - Môi trường, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
73  
pdf 12 trang yennguyen 13780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển phương pháp lấy mẫu không khí thụ động quan trắc PCDD/PCDF trong điều kiện khí hậu nhiệt đới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_phuong_phap_lay_mau_khong_khi_thu_dong_quan_trac.pdf