Nghiên cứu xây dựng mô hình mô phỏng lũ lưu vực sông Kone

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH MÔ PHỎNG LŨ  
LƯU VỰC SÔNG KONE  
Đỗ Anh Đức  
Viện Thủy Điện và Năng lượng tái tạo  
Trần Thị Tuyết, Ngô Lê An  
Trường Đại học Thuỷ lợi  
Tóm tắt: Lũ lụt có xu hướng diễn ra ngày càng phức tạp về cả quy mô và cường độtrong những  
năm gần đây. Gây thiệt hại lớn đối với nhiều khu vực trên cả nước cũng như lưu vực sông Kone  
nói riêng. Vì vậy, việc mô phỏng tốt các trận lũ sẽ góp phần đáng kể trong việc đưa ra các giải  
pháp chống lũ và kiểm soát lũ. Bài báo trình bày kết quả xây dựng thành công một mô hình thông  
số phân bố có xét đến sự thay đổi theo không gian của các đặc trưng lưu vực, có khả năngcập nhật  
trực tiếp dữ liệu mưa vàmô phỏng dòng chảy lũ. Mô hình gồmmô đun mưa-dòng chảy mô phỏng  
dòng chảy từ mưa và mô đun diễn toán dòng chảy trên sông. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình  
có thể ứng dụng trong mô phỏng lũ lưu vực sông Kone Bình Định với chỉ số Nashđạt NS>0,5. Việc  
phát triển mô hình không những áp dụng mô phỏng lũ cho các lưu vực, đồng thời có thể tích hợp  
các hồ chứa phục vụ cho công tác dự báo lũ trên lưu vực sông.  
Từ khóa: Mô hình thông số phân bố, dòng chảy lũ, lưu vực sông Kone…  
Summary: Currently, flood occurs more frequently in term of both magnitude and intensity  
causing heavy damages in Vietnam including the Kone river basin. Flood simulation is an efficient  
tool for flood management and control. This paper studies to develop a distributed model for flood  
simulation for the Kone river basin. The model includes two moduls: a rainfall-runoff modul for  
flow simulation in the sub-basins and a routing flow modul to route the flow in channels. The  
application of the model for 11 historical events shows that the model can simulate well the  
floodwith the Nash coefficient higher than 0.5. This model can be applied for other basins with  
reservoir simulation modul in order to have a flood forecasting tool.  
Key words: Distributed model, flood, Kone river basin …  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*  
vụ phát triển kinh tế. Vì vậy, vai trò công tác dự  
báo lũ rất quan trọng, được xem là một trong  
Trong những năm gần đây, những trận mưa lớn  
những biện pháp hiệu quả giảm thiểu thiệt hại,  
liên tục xuất hiện gây ra hiện tượng lũ lớn và  
giúp cho những nhà quản lý, người dân có thể  
diễn biến phức tạp trên lưu vực sông tại các tỉnh  
lường trước được các mối nguy hại do lũ để chủ  
miền Trung, trong đó có lưu vực sông Kone.  
Với diện tích lưu vực khoảng 3.810 km2chiếm  
động phòng tránh. Các phương pháp dự báo lũ  
hiện nay chủ yếu dựa vào thông tin mưa bao  
phần lớn ranh giới hành chính của tỉnh Bình  
gồm từ các mạng lưới quan trắc trực tiếp và từ  
Định. Là một lưu vực có vai trò quan trọng  
các vệ tinh hoặc mô hình khí hậu, sau đó sử  
trong phát triển kinh tế ở khu vực, nhiều hồ  
dụng các mô hình thuỷ văn mô phỏng và dự báo  
chứa thuỷ lợi và thuỷ điện đã được xây dựng  
dòng chảy lũ.  
nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên nước phục  
Ngày nhận bài: 03/5/2019  
Ngày duyệt đăng: 12/6/2019  
Ngày thông qua phản biện: 05/6/2019  
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Dựa trên việc mô tả hệ thống thuỷ văn, các mô  
hình thuỷ văn thường được phân chia thành hai  
nhóm: các mô hình thông số tập trung và các  
mô hình thông số phân bố (WMO, 2013). Mô  
hình thông số tập trung coi cả lưu vực như là  
một đơn vị đồng nhất, các đặc tính vật lý của  
lưu vực được xác định bằng giá trị trung bình  
như lượng mưa, độ ẩm đất, cường độ thấm…  
Mô hình mô phỏng dòng chảy tại duy nhất ở  
điểm cửa ra của lưu vực mà không mô phỏng  
dòng chảy tại các điểm nằm bên trong lưu vực.  
Do vậy, mô hình thông số tập trung phù hợp với  
bài toán ước tính dòng chảy trung bình của lưu  
vực với yêu cầu tính toán nhanh. Đồng thời, mô  
hình thông số tập trung cũng đòi hỏi rất nhiều  
các giả thiết mô tả quá trình thuỷ văn như sự  
thay đổi các đặc trưng khí hậu, đặc trưng lưu  
vực như độ dốc, cường độ thấm, đổ ẩm đất là  
giống nhau. Các đặc trưng vật lý như độ dốc,  
thảm phủ, loại đất cũng không thay đổi theo  
thời gian. Do vậy, việc sử dụng mô hình thông  
số tập trung sẽ làm mất tính "biến thiên theo  
không gian" của lưu vực. Vì thế, khi nghiên cứu  
ứng dụng mô phỏng dòng chảy cho các lưu vực  
lớn, việc sử dụng các mô hình thông số tập  
trung sẽ không phù hợp vì chúng không thể mô  
tả chính xác các đặc trưng lưu vực (Smith et al.,  
2004; Moradkhani and Sorooshian, 2009).  
Ngược lại, các mô hình thông số phân bố cố  
gắng mô tả bản chất tự nhiên của lưu vực như  
địa hình, thảm phủ, loại đất cũng như các đặc  
trưng khí tượng thuỷ văn theo không gian. Do  
vậy, mô hình thông số phân bố đòi hỏi dữ liệu  
chi tiết, phân bố theo không gian. Nếu dữ liệu  
không đủ chi tiết, thường phải sử dụng các  
phương pháp nội, ngoại suy để bổ sung. Mô  
hình cũng bị hạn chế bởi độ phân giải của mô  
hình cũng như số liệu, chính vì thế cũng đòi hỏi  
khối lượng tính toán lớn làm thời gian tính toán  
dài (Vaze et al., 2011).  
không phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu sử  
dụng mô hình thông số phân bố mô phỏng lũ  
sông Kone là rất cần thiết. Bài báo trình bày kết  
quả xây dựng một mô hình thuỷ văn mưa-dòng  
chảy thông số bán phân bố có xét đến sự khác  
biệt theo không gian về địa hình, sử dụng đất  
cũng như loại đất để mô phỏng dòng chảy lũ  
cho lưu vực sông Kone nhằm phục vụ cho bài  
toán dự báo dòng chảy lũ thời gian thực.  
Hình 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu và vị trí  
các trạm đo mưa  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Cấu trúc mô hình  
Lưu vực sông Kone được chia thành nhiều lưu  
vực nhỏ. Các tiểu lưu vực được xác định dựa  
trên sự tương đồng của địa hình, độ dốc, thảm  
phủ cũng như là loại đất. Dòng chảy ra tại cửa  
ra từng tiểu lưu vực được mô phỏng bằng mô  
đun mưa - dòng chảy. Dòng chảy truyền từ cửa  
ra các tiểu lưu vực về hạ lưu được mô tả bằng  
các đoạn sông và được mô tả bằng mô đun diễn  
toán dòng chảy trên sông.  
Do lưu vực sông Kone có diện tích lớn, có sự  
biến động mạnh mẽ về địa hình, khí hậu, đồng  
thời cũng có nhiều hồ chứa đang hoạt động, nên  
việc sử dụng mô hình thông số tập trung là  
2.1.1. Mô đun mưa - dòng chảy  
Dòng chảy sinh ra từ mưa tại cửa ra của một  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
lưu vực bao gồm 3 thành phần: dòng chảy mặt, được tính theo công thức:  
Pe = ꢇꢈ ꢀꢁ  
(2)  
dòng chảy sát mặt và dòng chảy ngầm (Hình  
2):  
ꢂ
Trị số S được xác định dựa vào quan hệ kinh  
- Dòng chảy mặt  
nghiệm giữa CN và S như sau:  
ꢊꢋꢋ  
Dòng chảy mặt là dòng chảy tràn trên bề mặt  
đất tới các lòng dẫn, sinh ra từ lượng mưa hiệu  
quả do cường độ mưa vượt cường độ thấm.  
Phương pháp chỉ số đường cong SCS  
(Department of Agriculture, 2004) được sử  
dụng vì có khả năng xét được sự khác biệt về  
thảm phủ, loại đất cũng như độ dốc.  
S = 254ꢈ ꢉ  
- 1ꢎ  
(3)  
ꢌꢍ  
CN có giá trị biến đổi trong khoảng từ 0-100,  
với giá trị 100 là bề mặt không thấm được nước,  
còn với bề mặt tự nhiên có giá trị nhỏ hơn  
100.CN được xác định từ bảng tra lập sẵn.  
- Dòng chảy sát mặt  
Tại tầng đất sát mặt khoảng từ 2-10m, một phần  
nước dòng chảy sát mặt xuất hiện khi độ dẫn  
thủy lực theo phương ngang lớn hơn phương  
thẳng đứng, một phần nước bị bốc hơi trở lại  
khí quyển, một phần bị giữ lại tại các lỗ rổng  
của đất, một phần bị thấm xuống tầng sâu bổ  
cập cho dòng chảy ngầm. Để mô tả quá trình  
trao đổi ẩm ở tầng đất này, giả thiết xem kho  
nước dưới dạng bể chứa nước, với lỗ vòi tại các  
thành bên và đáy chính là lượng nước chảy ra  
tại cửa ra lưu vực và lượng nước bổ cập cho  
dòng chảy ngầm.  
Hình2: Cấu trúc mô đun mưa dòng chảy  
Phương pháp này giả thiếttỷ số giữa 2 đại  
lượnglà lượng nước thấm xuốngthực tế (lượng  
nước trữ trong đất) trên lưu vực Fa (trong mô  
hình này sẽ là XB) với lượng nước thấm tối đa  
(lượng trữ tối đa) S bằng tỷ số giữa mưa hiệu  
quả Pe với dòng chảy tiềm năng P- Ia (lượng  
mưa P sau khi loại bỏ thành phần tổn thất ban  
đầu Ia) thể hiện bằng phương trình (1):  
M.Sugawara (Sugawara, 1995) cho rằng lượng  
dòng chảy ra ở các lỗ vòi của bể chứa y(t) là  
hàm tuyến tính của lượng trữ X(t) với hệ số k:  
y(t)= k X(t)  
(4)  
Do vậy, lượng dòng chảy ra tại cửa bên YB1:  
(
)
ꢒꢐ − ꢓꢐ ꢐꢊ ꢔℎꢕ ꢒꢐ > ꢓꢐ  
ꢏꢐꢊ = ꢑ  
(5)  
0
ꢔℎꢕ ꢒꢐ ≤ ꢓꢐ  
ꢀꢁ  
ꢃꢄ  
Trong đó XB là lượng ẩm tại tầng sát mặt tại  
thời điểm tính toán và giá trị này phụ thuộc vào  
lượng nước thấm từ tầng mặt, lượng ẩm truyền  
xuống tầng ngầm và lượng nước bốc hơi theo  
phương trình cân bằng nước (6):  
=
(1)  
ꢂ
ꢃꢅꢆꢁ  
Theo Baltas et al (Baltas, Dervos and Mimikou,  
2007) tỷ số Ia/S khá nhỏtrong bài toán lũ nên để  
thuận tiện trong việc tính toán thì có thể bỏ qua  
tổn thất ban đầu (Ia = 0). Khi đó dòng chảy mặt  
∑ꢗꢒꢐꢘꢅꢊ + ꢇꢘ − ꢙꢘ − ꢇꢚꢘ − ꢏꢐꢊꢘꢅꢊ − ꢏꢐꢋꢘꢅꢊꢛ ꢔℎꢕ ∑ > 0  
(6)  
ꢒꢐ = ꢖ  
0
ꢔℎꢕ ∑ ≤ 0  
Trong trường hợp lượng ẩm tính toán XB lớn hơn lượng chứa ẩm tối đa S thì XB = S.  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Mô hình mưa dòng chảy được xây dựng bao  
gồm các thông số chính là:  
Với P là lượng mưa rơi xuống lưu vực trong  
thời đoạn tính toán; Z là lượng bốc hơi; ΔT thời  
đoạn tính toán; YB0,YB1 dòng chảy tại cửa ra  
thành bên và tại đáy.  
- CN: là hệ số không thứ nguyên phụ thuộc vào  
loại đất và tình hình sử dụng đất, hệ số CN càng  
dòng chảy mặt càng lớn do điều kiện mặt đệm  
có khả năng thấm thấp, lượng trữ tối đa của  
dòng chảy mặt thấp dẫn đến lượng nước sinh ra  
dòng chảy mặt càng cao và ngược lại.  
Dòng chảy ở cửa đáy thấm xuống bể dưới:  
YB0= XB*B0 (7)  
- Dòng chảy ngầm  
Do nước ở sâu trong đất chuyển động rất chậm,  
dòng chảy ra của nước ngầm vào trong lòng dẫn  
- B0, B1: lần lượt là hệ số cửa ra tại đáy và thành  
bên của bể chứa sát mặt (0≤B1 ≤ 1). Hệ số B1  
có thể chậm sau một vài ngày hoặc có khi tới càng lớn nước sinh dòng chảy sát mặt càng lớn  
như vậy khi tăng hệ số dòng chảy mặt đồng thời  
chân lũ xuống sẽ càng dốc do có sự bổ sung của  
dòng chảy mặt. Hệ số cửa ra tại đáy ảnh hưởng  
đến khả năng bổ cập cho dòng chảy ngầm, hệ  
số càng lớn lượng bổ cập càng lớn và ngược lại.  
Đây là 2 thông số quan trọng của bể sát mặt ảnh  
hưởng trực tiếp đến lượng ẩm của bể sát mặt  
cũng như tổng lượng của dòng chảy lũ.  
hàng năm kể từ khi xuất hiện mưa. Theo Arnold  
và nnk (Arnold, Allen and Bernhardt, 1993),  
lượng dòng chảy từ tầng nước ngầm được tính  
theo công thức:  
YCt =YCt-1 ꢚ  
ꢅꢜ∆ꢝ+Rc (1- ꢚꢅꢜ∆ꢝ) (8)  
Trong đó:  
- YCt,YCt-1 lần lượt là dòng chảy ra của tầng  
ngầm tại thời điểm tính toán và thời điểm trước  
đó, ΔT là bước thời gian tính toán, Rc là lượng  
- HB1: Ngưỡng cửa ra của thành bên bể chứa  
tầng sát mặt (mm). Hệ số này thể hiện khả năng  
nước bổ cập xuống tầng (trong mô hình này sẽ giữ nước của đất. Thông số càng lớn, lượng  
nước chảy ra từ bể chứa sát mặt tại cửa ra của  
lưu vực sẽ càng thấp và ngược lại.  
là YB0); ꢞ là hệ số triết giảm phụ thuộc vào thời  
gian trễ được tính theo phương trình (9)  
(Smedema and Rycroft, 1983):  
ꢊ
- BFD: thời gian chảy trễ của dòng chảy ngầm  
đến vị trí cửa ra (ngày). Đối với các lưu vực bé  
thời gian để nước di chuyển tới cửa ra của lưu  
vực càng ngắn, đối với những lưu vực lớn thời  
gian này có thể kéo dài hàng tháng.  
ꢞ=2,3  
(9)  
ꢟꢀꢠ  
BFD (đơn vị là ngày) là thời gian trễ để nước  
chảy ra từ các tầng ngầm tới dòng chảy trên  
sông, hệ số này được xác định thông qua mối  
quan hệ giữa thời gian chảy trễ và diện tích lưu  
vực(Bevans, 1986):  
- XB0: Lượng ẩm ban đầu của tầng sát mặt  
(mm).  
- YC0: Lượng dòng chảy ngầm ban đầu (mm).  
- Dòng chảy mặt (QOF) được tính theo công  
thức:  
2.1.2. Mô đun diễn toán dòng chảy trên sông  
Diễn toán dòng chảy cho từng đoạn sông được  
tính toán sử dụng phương pháp Muskingum  
(Cunge, 1969), theo đó lưu lượng dòng chảy ra  
ở mặt cắt dưới Q thời đoạn j+1 được xác định  
dưa theo lưu lượng dòng chảy tại mặt cắt trên  
Ivà mặt cắt dưới Q theo công thức:  
QOF = Pe * F / ΔT (10)  
- Dòng chảy sát mặt (QIF) được tính theo  
công thức:  
QIF = YB1 * F / ΔT (11)  
- Dòng chảy ngầm (QBF) được tính theo công  
thức  
ꢡꢢꢣꢊ = ꢤꢋꢥꢢꢣꢊ + ꢤꢊꢥꢢ + ꢤꢦꢡꢢ (13)  
Phương trình (13) là phương trình diễn toán của  
QBF = YC * F / ΔT (12)  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Muskingum, với:  
lớn từ năm 1986-1999 được lấy từ 5 trạm đo: An  
Hòa, Bình Tường,Vĩnh Kim, Hoài Ân, Quy  
Nhơn. Số liệu dòng chảy trong lưu vực được lấy  
từ trạm thuỷ văn Bình Tường (Hình 1).,  
ꢧꢝꢅꢦꢨꢩ  
ꢤꢋ =  
(14)  
(15)  
(16)  
ꢦꢨꢅꢦꢨꢩꢣꢧꢝ  
ꢧꢝ ꢣ ꢦꢨꢩ  
ꢤꢊ =  
ꢦꢨꢅꢦꢨꢩꢣꢧꢝ  
2.1.2 Dữ liệu không gian  
ꢤꢦ = ꢦꢨꢅꢦꢨꢩꢅꢧꢝ  
ꢦꢨꢅꢦꢨꢩꢣꢧꢝ  
Dữ liệu địa hình được lấy từ bản đồ số độ cao  
(DEM) có độ phân giải 90m SRTM (CGIAR-  
CSI)  
Điều kiện: C0 + C1 +C2 =1  
Trong đó: X và Klà thông số của mô đun, ΔT là  
(http://srtm.csi.cgiar.org/SELECTION/inputC  
oord.asp). Các số liệu về thảm phủ, loại đất  
được thu thập từ tổ chức Nông lâm Thế giới  
(FAO) có độ phân giải 1km x 1km.  
thời đoạn tính toán.  
2.2. Dữ liệu  
2.1.1 Dữ liệu khí tượng, thuỷ văn thực đo  
Số liệu mưa và bốc hơi thực đo trong các trận lũ  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
Sông  
#* Tram Thuy Van  
Lúa  
*# Tram Thuy Van  
Sông  
Tuong  
Tuong  
*#Binh  
*#Binh  
#* Binh  
Tuong  
Màu  
*# Tram Thuy Van  
Sông  
Độ cao (m)  
-1 - 150  
Rừng sản xuất  
Rừng phòng hộ  
Rừng dân dụng  
Cây CN lâu năm  
Đất khác  
Loại đất  
ACRISOL  
FERRALSOLS  
GLEYS  
150 - 350  
350 - 650  
650 - 850  
850 - 1,421  
0
2.5  
5
10  
15  
20  
Ki-lô-mét  
0
2.5  
5
10  
15  
20  
Ki-lô-mét  
0
2.5  
5
10  
15  
20  
Ki-lô-mét  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
108°40'0"E  
109°0'0"E  
Hình 3: Bản đồ DEM, loại đất và tình hình sử dụng đất lưu vực  
ꢴ ꢅꢴ  
ꢵꢵ  
ꢵꢶx 100  
(19)  
2.3 Chỉ tiêu đánh giá  
ꢲꢳ =  
ꢴ
ꢵꢶ  
- Chỉ số Nash (EI) được tính theo công thức  
sau:  
3. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MÔ PHỎNG  
DÒNG CHẢY LŨ SÔNG KONE  
ꢭ
ꢬ
EI= 1 -∑∑  
(17)  
(ꢩ ꢅ ꢫ )  
ꢪ
ꢪ
ꢪꢮꢯ  
ꢭ
ꢬ
ꢰ
(ꢩ ꢅ ꢩ )  
ꢪ
3.1. Sơ đồ mô phỏng dòng chảy  
ꢪꢮꢯ  
Trong đó: - Xi và Yi lần lượt là giá trị thực đo và  
tính toán tại thời điểm I;  
Căn cứ vào số liệu địa hình, mạng lưới sông  
ngòi, toàn bộ lưu vực sông Kone được chia  
thành 48 lưu vực con, sơ đồ mô phỏng dòng  
chảy lũ tính đến điểm khống chế là trạm thủy  
văn Bình Tường (minh họa Hình 5). Dòng chảy  
mô phỏng từ mưa tại các tiểu lưu vực được tính  
bằng tổng của dòng chảy mặt, dòng chảy sát  
mặt và dòng chảy ngầm. Đối với những tiểu lưu  
vực nằm trên sông dòng chảy ra của lưu vực sẽ  
ꢱ
- ꢒ giá trị trung bình của chuỗi số liệu thực đo.  
- Sai số đỉnh (%):  
ꢲꢡ = ꢫ ꢅ ꢩꢪ x 100  
(18)  
ꢪ
ꢩ
ꢪ
- Sai số thời gian xuất hiện đỉnh lũ  
- Sai số về tổng lượng(%):  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
bao gồm dòng chảy được diễn toán theo phương mùa lũ tập trung vào các tháng xuất hiện mưa  
pháp Muskingum của tiểu lưu vực nằm ở và lũ lớn từ tháng 10 đến tháng 12, dựa vào số  
thượng lưu và tổng dòng chảy mặt dòng chảy liệu dòng chảy thực đo tại trạm Bình Tường qua  
sát mặt và dòng chảy ngầm của lưu vực tính các năm, tiến hành hiệu chỉnh và kiểm định mô  
toán (Hình 4).  
hình theo thời gian bắt đầu và kết thúc trận lũ  
khác nhau.  
3.2. Kết quả mô phỏng lũ  
Để đánh giá khả năng mô phỏng lũ của mô  
hình, nghiên cứu trích xuất 8 trận lũ bao  
gồm các trận lũ lớn, vừa và nhỏ từ mô phỏng  
liên tục trong mùa lũ các năm đã hiệu chỉnh  
và kiểm định, kết quả đánh giá (Bảng 1).  
Trên lưu vực sông Kone chỉ có trạm đo dòng  
chảy là Bình Tường hoạt động từ năm 1981. Từ  
giai đoạn 2000 trở về sau, dòng chảy tại các  
trạm đo bị ảnh hưởng bởi hồ chứa điều tiết nên  
không còn tính tự nhiên. Dòng chảy được mô  
phỏng liên tục với bước tính toán 1 giờ trong  
Hình 4: Nguyên lý tính toán dòng chảy trên sông  
Hình 5: Sơ đồ mô phỏng lũ đến trạm  
thủy văn Bình Tường  
Hình 6: Dòng chảy tính toán  
và thực đo giai đoạn hiệu chỉnh  
(27/X/86 17:00-31/XII/86 23:00)  
Hình 7: Dòng chảy tính toán  
và thực đo giai đoạn kiểm định  
(31/X/87 20:00-17/XII/87 19:00)  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 8: Dòng chảy tính toán  
và thực đo giai đoạn kiểm định  
(02/X/93 1:00- 31/XII/93 23:00)  
Hình 9: Dòng chảy tính toán  
và thực đo giai đoạn kiểm định  
(01/X/96 20:00-31/XII/96 23:00)  
Bảng 1: Chỉ tiêu đánh giá kết quả mô phỏng  
Chỉ tiêu  
Nash  
0,79  
0,73  
0,85  
0,55  
0,45  
0,80  
0,47  
0,74  
ΔQ (%)  
5,47  
ΔT (h)  
9
ΔW (%)  
Trận số 1  
Trận số 2  
Trận số 3  
Trận số 4  
Trận số 5  
Trận số 6  
Trận số 7  
Trận số 8  
-5,51  
-4,57  
-9,42  
-1,21  
1,16  
-40,54  
-25,68  
-19,60  
20,83  
5,03  
-3  
-1  
-8  
-7  
-1  
1,56  
-12,06  
24,26  
-5  
-22,87  
1,84  
2
3.3. Nhận xét, đánh giá kết quả tính toán  
nhiều so với dòng chảy thực đo, đối với các năm  
1996 (Hình 8) trị số mô phỏng thấp hơn thực  
đo.  
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định cho dòng chảy  
liên tục mùa lũ các năm cho hệ số Nash đạt trên  
0,6 là chấp nhận được, đặc biệt đối với mùa lũ Đối với các trận lũ trích xuất từ mô phỏng dòng  
năm 1986 và 1987 hệ số Nash đạt trên 0,7, riêng chảy lũ liên tục trong mùa lũ cho thấykết quả  
năm 1993 do số liệu thực đo không liên tục mô phỏng khá tốt,riêng trận lũ số 5 cho kết quả  
trong toàn bộ mùa lũ vì vậy để đánh giá mô Nash thấp nhất 0,45. Sai số lưu lượng đỉnh lũ  
phỏng sẽ dựa vào các trận lũ trích xuất. Sai số ΔQ phần lớn đạt dưới 25%, trận lũ số 2 có  
tổng lượng có sự khác nhau giữa các năm mô chênh lệch đỉnh lũ ΔQ khá lớn 40,54%, hầu hết  
phỏng, các năm 1986 và 1987 (Hình 6, 7) có đỉnh lũ mô phỏng xuất hiện muộn hơn giá trị  
tổng lượng mô phỏng lớn hơn thực đo, đặc biệt thực đo, riêng đối với trận số 1 và số 8 thời  
năm 1987 có dòng chảy tính toán cao hơn rất gian xuất hiện đỉnh sớm hơn. Sai số về tổng  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
lượng ΔW không lớn, đa số các trận đạt dưới Trên thực tế thời gian chảy truyền khác nhau  
10%.  
phụ thuộc vào từng trận lũ như sự phân bổ của  
lũ theo không gian, hiện trạng mặt đệm của lưu  
vực...Vì thế, các thông số điều kiện ban đầu của  
lưu vực như lượng ẩm ban đầu, dòng chảy ngầm  
nên được cập nhật theo từng trận lũ.  
Các sai số trong mô phỏng có thể đến từ các  
nguyên nhân như sau:  
- Dữ liệu mưa đầu vào cho mô hình: Các trạm  
đo mưa sử dụng trong mô phỏng còn ít, phân bố  
không đều (chủ yếu ở hạ lưu, ở thượng lưu rất  
ít).Trong khi, số liệu theo trạm đo chỉ thể hiện  
cho mưa tại nơi đặt trạm không phản ánh được  
sự thay đổi của mưa theo không gian đặc biệt  
đối với các trận mưa cường độ lớn xảy ra cục  
bộ. Trên toàn bộ lưu vực và lân cận, chỉ có 3  
trạm mưa đo thời đoạn giờ là An Khê, Ba Tơ và  
Quy Nhơn. Việc thu phóng mưa giờ của các  
trạm mưa trong lưu vực ở thượng nguồn dựa  
vào 2 trạm mưa An Khê và Ba Tơ nằm ngoài  
lưu vực nghiên cứu cũng gây ra sai số giữa mô  
phỏng và thực đo.  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu đã xây dựng mô hình thông số phân  
bố có khả năng mô phỏng lũ theo không gian  
cho lưu vực sông Kone, sử dụng trực tiếp dữ  
liệu mưa tại các trạm đo mưa. Mô hình đã được  
hiệu chỉnh, kiểm định để mô phỏng dòng chảy  
lũ trong quá khứ. Kết quả hiệu chỉnh kiểm định  
tương đối tốt, hệ số Nash đạt trên 0,5 ở hầu hết  
các trận lũ thực đo được lựa chọn. Các sai số về  
tổng lượng, thời gian xuất hiện đỉnh lũ... là chấp  
nhận được thể hiện mô hình xây dựng có khả  
năng mô phỏng dòng chảy theo không gian và  
thời gian.  
- Sai số do số liệu do dòng chảy thực đo: số liệu  
dòng chảy thực đo tại Bình Tường hầu hết được  
đo theo ốp 7h, đối với các trận lũ lớn có thể đo  
với ốp nhỏ hơn tuy nhiên việc đo này không liên  
tục, dẫn đến có thể chưa đo đúng được thời  
điểm đỉnh lũ xuất hiện. Trong khi mô hình mô  
phỏng theo bước tính 1 giờ cũng gây ra sai số  
trong mô phỏng, số liệu dòng chảy thực đo trên  
Hiện nay, khi các hồ chứa đã hoạt động trên  
lưu vực, mô hình có thể được nghiên cứu phát  
triển bổ sung thêm hoạt động của các hồ chứa  
bằng một mô đun vận hành hồ chứa. Đồng  
thời, với khả năng mô tả sự thay đổi của đặc  
trưng lưu vực theo không gian, mô hình này có  
thể cập nhật trực tiếp dữ liệu khí tượng dự báo  
thực tế được ước tính từ đường quan hệ mực từ các mô hình khí hậu, nên hoàn toàn có thể  
nước - lưu lượng cũng có thể chưa chính xác áp dụng mô hình trong dự báo lũ thời gian thực  
cho lưu vực trong giai đoạn hiện nay. Khi ứng  
dụng mô hình trong quá khứ, mạng lưới các  
trạm mưa còn thưa thớt, để nâng cao kết quả  
mô phỏng lũ, cần thu thập thêm dữ liệu mưa  
tại các trạm trong lưu vực, có thể kết hợp với  
các dữ liệu mưa radar để có khả năng thể hiện  
mưa theo không gian, nâng cao chất lượng mô  
phỏng lũ cũng như dự báo lũ của lưu vực.  
trong quá trình đo đặc biệt tại các trận lũ lớn.  
- Mô hình trong hiệu chỉnh và kiểm định: Mô  
hình hiệu chỉnh rất nhiều thông số tại các tiểu  
lưu vực tuy nhiên chỉ dựa vào dòng chảy thực  
đo tại cửa ra của lưu vực. Ngoài ra việc mô  
phỏng thời gian chảy truyền chỉ có thể đánh giá  
dựa vào vào mô phỏng liên tục một mùa lũ sau  
đó để đơn giản trong quá trình tính toán áp dụng  
cho tất cả mô phỏng còn lại cũng gây ra sai số.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ  
[1] Arnold, J. G., Allen, P. M. and Bernhardt, G. (1993) ‘A comprehensive surface-groundwater  
flow model’, Journal of Hydrology. Elsevier, 142(1–4), pp. 47–69. doi: 10.1016/0022-  
1694(93)90004-S.  
[2] Baltas, E. A., Dervos, N. A. and Mimikou, M. A. (2007) ‘Technical Note: Determination of  
the SCS initial abstraction ratio in an experimental watershed in Greece’, Hydrology and  
Earth System Sciences, 11(6), pp. 1825–1829. doi: 10.5194/hess-11-1825-2007.  
[3] Bevans, H. E. (1986) ‘Estimating stream-aquifer interactions in coal areas of Eastern Kansas  
by using stream flow records’, U.S. Geological Survey, (13), pp. 51–64.  
[4] Cunge, J. A. (1969) ‘On The Subject Of A Flood Propagation Computation Method  
(Musklngum Method)’, Journal of Hydraulic Research. Taylor & Francis Group, 7(2), pp.  
205–230. doi: 10.1080/00221686909500264.  
[5] Department of Agriculture, U. S. (2004) ‘Chapter 4 Storm Rainfall Depth’, in National  
Engineering Handbook.  
[6] Moradkhani, H. and Sorooshian, S. (2009) ‘General Review of Rainfall-Runoff Modeling:  
Model Calibration, Data Assimilation, and Uncertainty Analysis’, in Hydrological  
Modelling and the Water Cycle. Berlin, Heidelberg: Springer Berlin Heidelberg, pp. 1–24.  
doi: 10.1007/978-3-540-77843-1_1.  
[7] Smedema, L. K. and Rycroft, D. W. (1983) Land Drainage: Planning and Design of  
Agricultural Drainage Systems. Edited by C. U. Press. Ithaca: Batsford Academic and  
Educational Ltd, London.  
[8] Smith, M. B. et al. (2004) ‘The distributed model intercomparison project (DMIP):  
motivation and experiment design’, Journal of Hydrology. Elsevier, 298(1–4), pp. 4–26. doi:  
10.1016/J.JHYDROL.2004.03.040.  
[9] Sugawara, M. (1995) ‘Tank Model’, in Singh, V. P. (ed.) Computer models of watershed  
hydrology. Colorado: Water Resources Publications, p. 1130.  
[10] Vaze, J. et al. (2011) Guidelines for RainfallRunoff Modelling - Towards Best Practice  
Model Application.  
[11] WMO (2013) Intercomparison of flood forecasting models. Decision-Support for the Selection  
of Flood Forecasting Models.  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
pdf 9 trang yennguyen 16440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xây dựng mô hình mô phỏng lũ lưu vực sông Kone", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xay_dung_mo_hinh_mo_phong_lu_luu_vuc_song_kone.pdf