Tài liệu Tập huấn về công nghệ khí sinh học quy mô vừa dạng vòm cầu nắp cố định

BỘ NÔNG NGHIỆP  
NGÂN HÀNG  
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
PHÁT TRIỂN CHÂU Á  
DỰ ÁN HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP CÁC BON THẤP  
TẬP HUẤN VỀ CÔNG NGHỆ KHÍ  
SINH HỌC QUY MÔ VỪA DẠNG VÒM  
CẦU NẮP CỐ ĐỊNH  
1
MỤC LỤC  
2
Công nghệ KSH quy mô vừa có nhiếu loại công trình khác nhau nhưng về cơ bản nó  
có cấu tạo chung giống như công nghệ KSH quy mô nông hộ.  
1. Tình hình phát triển công nghệ KSH quy mô vừa và lớn trên thế giới  
Công nghệ khí sinh học hiện nay đang được phát triển ở cả các nước phát triển  
cũng như các nước đang phát triển. Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia đứng đầu  
về mức độ phát triển công nghệ khí sinh học tại khu vực Châu Á.  
1.1 Trung Quốc  
Trung Quốc bắt đầu sử dụng các công trình tạo KSH từ những năm 1958 trong  
một chiến dịch nhằm khai thác các chức năng đa dạng trong việc sản xuất khí sinh  
học đồng thời giải quyết được vấn đề của việc xử lý phân bón và cải thiện vệ sinh  
môi trường.  
Trong suốt những năm cuối thập niên 1970 và đầu những năm 1980, chính phủ  
Trung Quốc nhận ra giá trị của tài nguyên thiên nhiên tại các vùng nông thôn và đây  
là bước quan trọng đầu tiên trong việc hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Sáu triệu  
công trình KSH đã được xây dựng tại Trung Quốc, và đưa Trung Quốc trở thành  
trung tâm KSH của thế giới với công trình kiểu “Mái vòm Trung Quốc”, mà vẫn  
được sử dụng cho tới ngày nay, đặc biệt là đối với quy mô vừa và nhỏ sử dụng trong  
hộ gia đình.  
Hình 1: Thiêt bị KSH điển hình ở Trung Quốc  
Kế hoạch mang tính quốc gia trong việc thiết kế, thi công các công trình KSH ở  
các vùng nông thôn của Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2010 là tăng số hộ gia  
3
   
đình sử dụng các công trình KSH lên 20 triệu hộ, đạt 20% tổng số hộ gia đình nông  
thôn. Đến cuối năm 2006, tổng số gia đình có sử dụng KSH đạt 22 triệu hộ, với tổng  
lượng KSH sản xuất hàng năm khoảng 8,5 tỷ mét khối. Tính đến năm 2006, Trung  
Quốc có trên 5.200 công trình KSH cỡ lớn và vừa quy mô trang trại. Đến năm 2020,  
khoảng 300 triệu người dân nông thôn sẽ sử dụng KSH như là nhiên liệu chính.  
Trong kế hoạch năm năm lần thứ 10, Trung Quốc đang triển khai khoảng 2200  
dự án KSH sử dụng chất thải từ chăn nuôi thâm canh và gia cầm để xử lý hơn 60  
triệu tấn phân bón một năm. Không những vậy, hiện tại có khoảng 137.000 công  
trình KSH đang được thi công lắp đặt để xử lý nước thải.  
Để phát triển công nghệ KSH, năm 1986, Ủy ban kinh tế quốc gia Trung Quốc  
đã ban hành thông tư “phát triển năng lượng nông thôn” nhằm đưa ra chính sách hỗ  
trợ phát triển năng lượng tái tạo tại các vùng nông thôn. Trong kế hoạch 5 năm lần  
thứ 8 (1991-1995), Chính phủ Trung Quốc đã xác định năng lượng tái tạo là mục tiêu  
quan trọng trong thế kỷ 21. Bên cạnh đó, Trung Quốc nổi lên là nước sớm ban hành  
luật năng lượng tái tạo (năm 2005), tạo ra động lực để phát triển mạnh mẽ các nguồn  
năng lượng tái tạo, trong đó có điện KSH. Luật năng lượng tái tạo đã cung cấp một  
loạt các ưu đãi tài chính: quỹ quốc gia để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cho  
vay, ưu đãi về thuế cho các dự án năng lượng tái tạo; yêu cầu các nhà khai thác lưới  
điện mua các nguyên liệu từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký. Giá điện  
sinh khối sẽ do Chính quyền trung ương quyết định và dựa trên lượng điện nối trên  
lưới quốc gia, doanh nghiệp sản xuất ra điện sinh khối sẽ nhận được hỗ trợ 0,25  
Yên/kwh (năm 2006, 1 USD = 8,07 Yên và năm 2011, 1 USD = 6,62 Yên). Sự kết  
hợp giữa đầu tư và các chính sách ưu đãi đã tạo điều kiện cho những bước tiến lớn  
trong việc phát triển năng lượng KSH của Trung Quốc.  
Nhờ có luật này nên Trung Quốc đã thực hiện những bước tiến đáng  
kể để chuyển sang một chiến lược tăng trưởng sạch dựa trên sự phát triển các nguồn  
năng lượng tái tạo. Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cho thấy một sự tăng đáng kể đầu tư  
vào các lĩnh vực Kinh tế Xanh, đặc biệt là năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng.  
Kế hoạch cũng đề xuất tới năm 2010 giảm lượng tiêu thụ năng lượng xuống 20%  
GDP so với năm 2005. Thêm vào đó, chính phủ Trung Quốc cam kết, đến năm 2012  
năng lượng tái tạo sẽ chiếm 16% tổng năng lượng tiêu thụ. Theo luật này thì các  
công ty điện lực phải mua toàn bộ lượng điện năng sản xuất từ các dạng năng lượng  
tái tạo với mức giá là 0.75 RMB/kWh (khoảng 11.9 UScent/kWh) (đã bao gồm thuế)  
4
cao hơn so với giá điện từ nhiên liệu hóa thạch cao hơn so với giá điện từ nhiên liệu  
hóa thạch. Bên cạnh đó để thúc đẩy việc phát triển các mô hình KSH, năm 2006, Bộ  
Nông nghiệp Trung Quốc đã xây dựng kế hoạch kỹ thuật môi trường năng lượng để  
xử lý chất thải chăn nuôi quy mô trang trại và các quy định về kỹ thuật xây dựng mô  
hình KSH.  
Để thực hiện luật này, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng các cơ chế hỗ trợ về  
thuế và giá cho năng lượng tái tạo (Li Junseng, 2004) cụ thể: Chính phủ sẽ khấu trừ  
10% thuế thu nhập cho các doanh nghiệp bán điện KSH đồng thời hỗ trợ chi phí để  
quảng bá phát triển mô hình KSH tại các vùng nông thôn của Trung Quốc.  
Từ năm 2001-2005, Trung Quốc đã phát triển được 120 mô hình KSH quy mô  
trang trại và đến cuối năm 2005, tổng số mô hình KSH của cả nước là 3.500 mô hình  
và đã xử lý được 87.000 tấn chất thải chăn nuôi. Mỗi trang trại phát triển mô hình  
KSH, tùy vào công suất, mỗi chủ trang trại cũng nhận được tiền trợ giá từ chính phủ,  
với mức từ 0,7-1,3 triệu NDT cho việc xây dựng mô hình, hệ thống phân phối KSH  
và hỗ trợ từ chính quyền địa phương là 25% tổng chi phí phát triển mô hình. Như vậy  
để xây dựng mô hình KSH xử lý chất thải chăn nuôi trang trại, chủ trang trại chỉ phải  
bỏ ra 50% chi phí, còn lại là tiền hỗ trợ từ chính phủ và chính quyền địa phương. Đến  
năm 2009, mức hỗ trợ từ chính phủ tăng lên đến 45% chi phí đầu tư và chính quyền  
địa phương hỗ trợ thêm từ 5-25% tùy theo từng tỉnh, như vậy mức hỗ trợ cao nhất  
cho một mô hình KSH xử lý chất thải chăn nuôi trang trại là 70% chi phí đầu tư. Do  
có những chính sách hỗ trợ như vậy nên sản lượng KSH của Trung Quốc được sinh  
ra từ mô hình KSH trong giai đoạn 2001-2009 tăng trung bình là 29.1%/năm (sản  
lượng KSH năm 2009 là 12.4 tỷ m3). Số lượng mô hình KSH quy mô vừa và lớn  
trong giai đoạn 2003- 2009 cũng tăng lần lượt là 30% và 46.5% (Yongzhong và cộng  
sự, 2012).  
1.2 Ấn Độ  
Ấn Độ là một nước mà ưu thế về mặt nông nghiệp rất lớn và chăn nuôi là một  
ngành có vai trò rất quan trọng của Ấn Độ. Hệ thống các trang trại chăn nuôi không  
chỉ mang lại sữa và thịt mà còn cung cấp phân, len, trứng,... Theo điều tra về số liệu  
chăn nuôi, tổng số gia súc, gia cầm ở nước này năm 1992 là 470 triệu con và 307  
triệu con nhưng đến năm 2003 thì lượng gia súc gia cầm tương đương nhau và đạt  
xấp xỉ 500 triệu con mỗi loại.  
5
 
Trong những năm gần đây các quy trình công nghệ tiên tiến về sản xuất KSH  
đang tiếp tục được mở rộng như là một giải pháp để xử lý chất thải và giảm thiểu vấn  
đề ô nhiễm môi trường do chất thải hữu cơ. Nhận thức của cộng đồng về KSH tại Ấn  
Độ nói chung là tích cực.  
Hiện nay, chất thải chăn nuôi tại Ấn Độ được quản lý cơ theo ba cách:  
- Thải bỏ và đổ vào các bãi rác thải gần nơi chăn nuôi.  
- Sử dụng cho mục đích năng lượng ở cấp thôn, nơi các chất thải được làm  
thành bánh nhỏ, phơi khô và sau đó được sử dụng như một dạng nhiên liệu cho các  
mục đích nấu nướng.  
- Sử dụng để sản xuất khí me-tan dưới điều kiện kỵ khí. Khí mê-tan được sử  
dụng cho mục đích nấu ăn, cũng như bùn sau khi khai thác để sản xuất khí metan  
được sử dụng như phân bón. Đây là phương pháp hiện đang được sử dụng rộng rãi ở  
Ấn Độ.  
Công nghệ KSH đang được phát triển ở Ấn Độ chủ yếu ở khía cạnh năng lượng,  
xuất phát từ tình hình cung cấp năng lượng thiết yếu cho người dân trong nước. Bên  
cạnh Trung Quốc, Ấn Độ là quốc gia nơi mà sự phát triển của các công trình khí sinh  
học đơn giản cho các vùng nhiệt đới được bắt đầu vận hành có hiệu quả với số lượng  
lớn. Kể từ thập kỷ 50, các công trình KSH đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và  
bắt đầu ứng dụng cho hộ gia đình nông thôn, nhưng đây là sự phát triển tự phát, sự  
tiến bộ thực sự đạt được vào thập kỷ 70. Năm 1980 có 100.000 công trình KSH quy  
mô nhỏ đã được xây dựng. Với sự khởi đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 6 vào năm  
1981, Dự án Quốc gia về Phát triển Khí sinh học ra đời sau đó là sự phổ biến rộng  
lớn các công trình KSH quy mô hộ gia đình và cũng bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính.  
Công nghệ KSH đã liên tục được hỗ trợ bởi chính phủ Ấn Độ. Năm 1982, Ấn  
Độ đã thành lập một Sở chuyên trách về các nguồn năng lượng không chính thống  
thuộc Bộ Năng lượng để thực hiện việc điều khiển tập trung phổ biến công nghệ  
KSH. Hiện tại, có khoảng 12 triệu các công trình KSH ở Ấn Độ, trong đó 70-80%  
được coi là đang hoạt động có hiệu quả. Các thiết bị KSH ở Ấn Độ được phân thành  
2 nhóm: Các công trình cỡ nhỏ có công suất từ 1 đến 15m3/ngày đêm và các công  
trình cỡ lớn có công suất từ 15 đến 140 m3/ ngày đêm.  
Thiết kế của một thiết bị KSH phổ biến ở Ấn Độ là dạng hình trống nắp nổi với  
dung tích trung bình của bể phân giải từ 7-35 m3 được sử dụng tại các trang trại chăn  
nuôi gia súc từ năm 1956. Công trình KSH này có cấu trúc gọn, chiếm ít diện tích  
6
xây dựng nhưng giá thành thường cao ngoài ra chất lượng của nắp nổi cũng là một  
vấn đề cần quan tâm do dễ bị rỉ sét, vận hành phức tạp… Ngoài ra một dạng thiết bị  
KSH khác cũng được sử dụng tương đối phổ biến là thiết bị dạng hình cầu nắp cố  
định xây bằng gạch hoặc bê tông cốt thép. Một số mô hình KSH cỡ lớn hiện đang  
được nghiên cứu triển khai tại Ấn Độ tuy nhiên vẫn chưa thực sự thành công do đó  
vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi.  
1.3 Thái Lan  
Năng lượng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đã tăng ở mức  
cao trong nhiều năm qua. Do vậy Thái Lan đã thông qua Đạo luật tăng cường bảo vệ,  
tiết kiệm năng lượng (ENCON Act), năm 1992 đạo luật này bắt đầu có hiệu lực theo  
đó các văn kiện của chính phủ trong việc xác định các biện pháp quy định, thúc đẩy  
sử dụng hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo cũng được ban hành. Theo đạo  
luật này, quỹ khuyến khích tiết kiệm năng lượng được thành lập tạo cung cấp vốn lưu  
động để tạo ra nguồn tài chính hoặc hỗ trợ để tiết kiệm, bảo vệ các nguồn năng lượng  
và các hoạt động liên quan đến năng lượng tái tạo. Dự án tái tạo, dưới sự thúc đẩy  
của đạo luật ENCON, có mối quan tâm chủ yếu là trong việc sử dụng năng lượng tái  
tạo, ít tác động xấu đến môi trường, và hỗ trợ cho các hoạt động công nghiệp nông  
thôn, góp phần bảo tồn năng lượng, cả trong lĩnh vực nông nghiệp và trong ngành  
công nghiệp. Sự tăng cường sẽ được chú trọng vào việc đề xuất các quy định, phổ  
biến và chuyển giao công nghệ năng lượng tái tạo, và về hiệu suất năng lượng ngày  
càng tăng của công nghệ đã được kiểm chứng, bao gồm các dự án sử dụng chất thải  
từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (ví dụ như bã mía và trấu gạo), hoặc chất thải từ  
chăn nuôi (như phân từ chăn nuôi) để sản xuất năng lượng. Một trong những thành  
công nhất của dự án phát triển năng lượng tái tạo ở Thái Lan là khí sinh học cho mô  
hình năng lượng trong các dự án triển khai ở các trang trại nuôi lợn.  
7
 
Hình 2: Thiết bị KSH điển hình ở Thái Lan  
Ở Thái Lan, chăn nuôi đã được phát triển nhanh chóng trong những năm gần  
đây. Song song với số lượng ngày càng tăng của vật nuôi, nguồn phân gia súc thải ra  
tăng, khối lượng nước thải được xử lý không đúng cách cũng tăng và do đó gây ô  
nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các trang trại chăn nuôi. Theo truyền thống các  
trang trại chăn nuôi lợn ở Thái Lan thường tự quản lý chất thải chăn nuôi của mình  
(ví dụ như phân và nước tiểu) bằng cách đổ chúng vào một ao hoặc loạt các ao mà  
không áp dụng các biện pháp xử lý triệt để.  
Chương trình thử nghiệm đầu tiên của hệ thống khí sinh học cho các trang trại  
tại Thái Lan được thành lập vào năm 1992. Từ năm 1995, văn phòng chính sách và  
kế hoạch năng lượng (EPPO) của Thái Lan đã đẩy mạnh việc thực hiện các hệ thống  
khí sinh học tại Thái Lan, được gọi là dự án tăng cường khí sinh học tạo ra năng  
lượng tại các trang trại chăn nuôi giai đoạn I (1995-1998). Đối với các trang trại chăn  
nuôi, chủ yếu là trại nuôi lợn, dự án cung cấp trợ cấp trực tiếp cho nông dân cho chi  
phí đầu tư và tất cả các chi phí trước đầu tư. Trong giai đoạn này của dự án, có  
khoảng 6000 công trình KSH được xây dựng. Chính sách này sau đó được áp dụng  
cho giai đoạn II của dự án từ năm 1997-2003 và tiếp theo là giai đoạn III, 2002-2009.  
Hiện nay, khi mà giá năng lượng tăng cao, lợi ích của việc sản xuất năng lượng  
từ khí sinh học có thể thuyết phục các trang trại ở Thái Lan dễ dàng hơn trong việc  
8
đầu tư vào các dự án này, với khoản trợ cấp khoảng 33% tổng chi phí đầu tư cho chủ  
trang trại.  
Nhờ sự trợ cấp từ chính phủ, công nghệ khí sinh học ứng dụng trong việc xử lý  
chất thải đã được chấp nhận ở Thái Lan trong hơn 20 năm, đặc biệt trong các trang  
trại nuôi lợn. Những lợi ích mang tới cho nông dân bao gồm việc giảm những tác  
động môi trường do chất thải, nước thải, giảm ô nhiễm do mùi, sử dụng ít đất và thu  
nguồn năng lượng tái chế từ việc sản sinh khí sinh học.  
Các thiết bị KSH ở Thái Lan được phân loại thành 2 nhóm: Các thiết bị cỡ nhỏ  
(thể tích từ 12 đến 100 m3) và các thiết bị cỡ lớn (thể tích từ 100 m3 trở lên). Đối với  
các thiết bị KSH cỡ nhỏ, thì phổ biến là thiết bị dạng nắp nổi úp trực tiếp vào dịch  
phân hủy (kiểu Ấn Độ) và thiết bị dạng vòm cầu nắp cố định (kiểu Trung Quốc với  
kích cỡ 12, 16, 30, 50 và 100 m3). Đối với các thiết bị KSH cỡ lớn thì được xây dựng  
phổ biến là các thiết bị KSH dạng ống. Các thiết bị KSH này được sử dụng rộng rãi ở  
các trang trại chăn nuôi tại Thái Lan.  
Để khuyến khích phát triển mô hình KSH xử lý chất thải chăn nuôi trang trại,  
Thái Lan đã xây dựng cơ chế hỗ trợ các trang trại có mô hình KSH từ năm 1998.  
Ngoài cơ chế hỗ trợ, năm 1992 Thái Lan đưa ra Luật Bảo tồn năng lượng và các  
chương trình khuyến khích người dân áp dụng bảo tồn năng lượng và sử dụng hiệu  
quả, phát triển các dạng năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, Bộ Tài Nguyên và Môi  
trường Thái Lan cũng đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật về nước thải trước khi thải vào  
môi trường.  
Đến năm 1995, phòng kế hoạch và chính sách năng lượng được thành lập để  
thực hiện việc phát triển các mô hình KSH tại Thái Lan. Khi mới bắt đầu triển khai  
thì hầu hết các trang trại chăn nuôi gặp khó khăn về vốn do vậy từ năm 1995 đến  
năm 1998, khi các trang trại sử dụng mô hình KSH để xử lý chất thải chăn nuôi thì  
nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ chi trả cho toàn bộ chi phí đầu tư. Tính  
đến hết năm 1998 có tất cả 6 trang trại chăn nuôi lợn xây dựng mô hình KSH. Sau 4  
năm hoạt động, các mô hình này chứng minh được hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội  
thì có rất nhiều các trang trại đến học hỏi và muốn đầu tư. Từ năm 2002 đến năm  
2010, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ các trang trại phát triển mô hình KSH nhưng mức hỗ  
trợ trong thời gian này chỉ bằng 1/3 chi phí đầu tư ban đầu và chủ trang trại chịu  
trách nhiệm thanh toán 2/3 chi phí đầu tư còn lại. Nếu chủ trang trại không đủ chi phí  
để trang trải các chi phí còn lại thì các chủ trang trại này được vay vốn với lãi suất ưu  
9
đãi (4%/năm) trong thời gian 7 năm. Bên cạnh đó khi các chủ trang trại mua các thiết  
bị để phát triển mô hình KSH cũng được ưu đãi về thuế. Tính đến cuối năm 2010 đã  
có 249 trang trại chăn nuôi sử dụng mô hình KSH đã giảm được 698.030 tấn CO2 và  
tính đến cuối năm 2012, có 40% các trang trại chăn nuôi đã có mô hình KSH với  
tổng công suất lắp đặt lên đến 138MW trong đó có 71 mô hình KSH đã được đấu nối  
với lưới điện quốc gia.  
Thái Lan là một trong những quốc gia ở Đông Nam Á sớm chuyển hướng sang  
áp dụng cơ chế giá cố định (Feed in tariff), một chính sách được đề xuất để kích  
thích đầu tư vào dạng năng lượng tái tạo thông qua các thanh toán bổ sung cho máy  
phát điện năng lượng tái tạo bằng cách đưa ra biểu giá dựa trên mức trả thêm (adder).  
Mức trả thêm được áp dụng cho từng dạng năng lượng tái tạo và căn cứ vào quy mô  
công suất và thời gian áp dụng. Phần trả thêm này được dựa vào nhóm đầu của biểu  
giá điện từ nguồn điện truyền thống trên thị trường điện bán buôn. Những chính sách  
này đã tạo ra một cơn sốt năng lượng tái tạo ở Thái Lan. Theo Palang Thai (2006),  
việc Chính phủ Thái Lan đồng ý trả thêm cho điện KSH từ 0.3-0.5 Bath/kwh dẫn đến  
giá bán điện KSH là 4.5 Bath/kWh (10 Cent). Theo mục tiêu phát triển điện năng 15  
năm, từ năm 2007 đến năm 2022, Thái Lan sẽ sản xuất được 120 MW điện KSH  
nhưng đến năm 2011, Thái Lan đã sản xuất ra được 98,69 MW điện KSH, đạt  
64.49% so với mục tiêu đã đặt ra (Sopitsuda và Chris, 2013).  
1.4 Đức  
Đức dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ KSH. Các doanh nghiệp Đức có  
thể cung cấp gói dịch vụ trên một phạm vi rộng với các dây truyền sản xuất trọn vẹn,  
từ thiết kế và xây dựng hệ thống khí sinh học đển vận hành và bảo trì chúng.  
Trong vài năm qua, tại Đức, sản xuất điện từ KSH đã được mở rộng đáng kể và  
đã phát triển thành lĩnh vực kinh tế độc lập trong ngành công nghiệp năng lượng sinh  
học. Đến cuối năm 2005, 2700 công trình KSH đã được xây dựng ở Đức, với công  
suất tổng thể về điện là 650 MW. Hiệp hội khí sinh học của Đức (FvB) ước tính rằng  
đến năm 2020, công suất này có thể lên tới 9500 MW.  
Không chỉ chú trọng phát triển mạnh mẽ thị trường trong nước, ngành công  
nghiệp xuất khẩu KSH của Đức cũng đang được đẩy mạnh. Công nghiệp xuất khẩu  
của Đức trong lĩnh vực này là khoảng 27.000.000 € trong năm 2004, tương ứng với  
10  
 
khoảng 10% tổng số doanh thu từ xuất khẩu và dự báo tăng lên đến hơn 30 % trong  
thời gian tới.  
Dựa trên số liệu hiện có của ngành chăn nuôi, ở Đức có khoảng 26 triệu con lợn,  
114 triệu gia cầm, khoảng 4 triệu ngựa và cừu, khoảng 16 triệu gia súc khác. Phân  
của chúng ước tính chứa khoảng 57.500 tấn chất hữu cơ khô mỗi ngày và có thể phân  
hủy được. Về mặt kỹ thuật hơn một nửa số phân từ động vật của các trang trại có thể  
được sử dụng hiệu quả trong các công trình KSH quy mô trang trại hoặc tập trung tại  
các công trình KSH quy mô lớn. Sẽ có một nguồn vốn khoảng 50 đến 80 tỷ DM  
(21,7 đến 34,7 tỷ USD) đầu tư vào xây dựng các công trình KSH tập trung cho  
khoảng 220 000 trang trại. Thông qua nguồn vốn đầu tư này, nông dân tại các trang  
trại có thể kiếm được một khoản thu từ trợ cấp miễn phí và qua đó góp phần cải thiện  
đời sống kinh tế ở các vùng nông thôn.  
Tốc độ xây dựng các công trình KSH tăng từ 100 công trình/năm trong những  
năm 1990 lên tới 200 công trình/năm vào năm 2000. Hầu hết các công trình có thể  
tích phân giải từ 1000 tới 1500m3. Hiện tại ở Đức có trên 30 công trình KSH quy mô  
lớn với thể tích phân giải 4000-8000m3. Tính đến năm 2006, tổng số công trình KSH  
quy mô vừa và lớn của Đức lên tới 3700 và là nhà sản xuất năng lượng KSH số 1 thế  
giới.  
Đức là nước dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ KSH. Bằng tầm nhìn  
chiến lược và những bước đi dài hơi, Cộng hòa Liên Bang Đức đã trở thành quốc gia  
đầu tiên trên thế giới xây dựng chiến lược nền kinh tế “năng lượng xanh”. Luật Năng  
lượng tái tạo của Đức (EEG) được xây dựng và có hiệu lực năm 2000, trong đó quy  
định cụ thể mức giá ưu đãi đối với mỗi kWh điện gió. Chính sách này, cùng với mức  
giá ưu đãi về giá điện KSH Chính phủ Đức thực hiện từ năm 1991, đã tác động tích  
cực tới sự phát triển năng lượng KSH của nước này. Trong quá trình thực hiện, EEG  
thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp với thị trường và thực tế phát  
triển công nghệ mới. Các nhà máy KSH có sản lượng 500kwh thì sẽ được hỗ trợ 10  
cent/kwh, nếu nhà máy có sản lượng từ 500kwh đến 5MWh sẽ được hỗ trợ 9  
cent/kwh và trên 5MWh sẽ nhận được hỗ trợ 8.5 cent/kwh. Những chính sách linh  
hoạt và mềm dẻo đó đã giúp nước Đức phát triển thành công thị trường KSH. Trong  
thập kỷ qua, số lượng các mô hình KSH của Đức tăng nhanh chóng, từ 370 mô hình  
năm 1996 lên đến 3891 mô hình năm 2008. Sản lượng điện năng được nối lưới được  
cung cấp từ các mô hình này cũng tăng lên đáng kể, từ 60 kWe năm 1999 đến 350  
11  
kWe năm 2008. Tổng công suất năm 2008 từ các mô hình này là 1400 MW, cung  
cấp 10 triệu Kwh một năm và chiếm 1,6% tổng nhu cầu năng lượng của cả nước  
Đức. Theo đánh giá của Hiệp hội KSH Đức, tổng tiềm năng kỹ thuật KSH của Đức  
là 60 triệu kwh một năm, như vậy lượng điện cung cấp năm 2008 mới chỉ chiếm  
16.7% lượng điện KSH tiềm năng.  
Nhằm phát triển các nguồn năng lượng tái tạo để giảm thiểu ô nhiễm KNK,  
Chính phủ Đức đã đặt mục tiêu đến năm 2010, các nguồn NLTT chiểm 12,5% và đến  
năm 2020 chiếm 20%. Để đáp ứng các mục tiêu này, Chính phủ Đức đã ban hành  
nhiều quy định cũng như chính sách để hỗ trợ việc phát triển các nguồn NLTT, đặc  
biệt là KSH. Ngoài giá hỗ trợ đối với các nguồn điện KSH, các chủ đầu tư còn được  
giảm thuế 1% mỗi năm do cung cấp nguồn năng lượng sạch. Sự ra đời của Luật  
Năng lượng tái tạo là động lực để thu hút đầu tư và tạo cơ hội tài chính cho các chủ  
đầu tư phát triển NLTT. Ngoài Luật NLTT, Chính phủ Đức còn ban hành nhiều  
chính sách nhằm hỗ trợ các khoản vay với lãi suất thấp để phát triển KSH thông qua  
ngân hàng KFW Bankengruppe với khoản vay lên đến 25 triệu euro trong vòng 20  
năm. Một số bang có những chính sách hỗ trợ riêng như bang Bắc Rhine Westphania  
hỗ trợ khoản vay lên đến 50% tương đương với 150.000 Euro để phát triển mô hình  
KSH quy mô lớn.  
2. Tình hình phát triển công nghệ KSH quy mô vừa ở Việt Nam  
Chăn nuôi trang trại phát triển trong những năm gần đây đã thúc đẩy sự phát  
triển các công trình quy mô vừa và lớn. Một số công trình từ vài chục đến vài trăm  
mét khối đã được triển khai xây dựng ở nhiều nơi.  
Ở Miền Nam do điều kiện khí hậu (nóng quanh năm) nên công nghệ KSH quy  
mô vừa khá phát triển. Một số công trình đã được xây dựng theo nhiều kiểu khác  
nhau thu hồi khí để phát điện tại các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương tuy nhiên quy  
mô các công trình cũng chỉ hạn chế ở thể tích bể phân hủy vài trăm m3. Đáng chú ý  
là khoa chăn nuôi, Thú y của Đại học Nông lâm đã phát triển thành công kiểu bể xây  
dùng màng HDPE che phủ mở ra triển vọng áp dụng công nghệ KSH rộng rãi cho  
các trang trại vì chi phí đầu tư thấp, vận hành đơn giản và phù hợp với điều kiện khí  
hậu Việt Nam. Một số công trình quy mô lớn dạng hồ kỵ khí che phủ hiện cũng đang  
được phát triển ở một số trang trại tại Đồng Nai và Bình Dương.  
12  
 
Ở Miền Bắc tuy điều kiện kém thuận lợi hơn nhưng cũng đã có một số công  
trình quy mô vài chục mét khối được xây dựng và khí được dùng để phát điện. Đáng  
chú ý là công trình kiểu hồ kỵ khí có che phủ theo công nghệ của Thái Lan) được xây  
dựng tại trang trại của công ty khoáng sản Hà Tĩnh. Năm 2007, dự án “ Phát triển các  
loại công trình KSH tiết kiệm năng lượng quy mô công nghiệp” (gọi tắt là Dự án  
KSH công nghiệp) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng Năng lượng tiết  
kiệm và hiệu quả - Bộ Công thương đã được triển khai với mục tiêu phát triển KSH  
quy mô công nghiệp: Các công trình KSH lớn, các trang thiết bị phụ trợ sản xuất  
công nghiệp như vòm chứa khí, bếp, đèn, bình đun nước nóng, máy phát điện, bình  
lọc khí… Dự án này cũng đã triển khai xây dựng mô hình trình diễn kiểu bể xây  
dùng vòm composit tiền chế cỡ 250m3 tại trại lớn của hợp tác xã Đan Hoài (Đan  
Phượng, Hà nội).  
Công nghệ KSH xử lý chất thải chăn nuôi ở quy mô vừa đang có thị trường tiềm  
năng ở Việt Nam trong những năm gần đây. Theo ước tính Việt Nam có thể xây  
dựng được khoảng hơn 10.000 công trình ở quy mô này cho các trang trại nuôi ở quy  
mô công nghiệp. Trong báo cáo “Quy hoạch tổng thể các nguồn năng lượng tái tạo  
đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2025” của Viện Năng lượng cho thấy năng lượng  
KSH đóng góp một tỷ lệ khiêm tốn trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng của  
toàn quốc, tuy nhiên trong giai đoạn hiện tại KSH chủ yếu cấp nhiệt cho các mục  
đích gia dụng, các công trình quy mô vừa và lớn chưa phát triển.  
Ở Việt Nam, các loại công nghệ KSH quy mô vừa hiện đang được áp dung bao  
gồm:  
2.1 Công trình KSH dạng bể nhiều ngăn nắp kín  
Công nghệ dạng này cũng được áp dụng khá phổ biến, dựa trên các nguyên tắc  
phân hủy yếm khí dạng bể phốt.  
Thông thường công trình KSH dạng này có hình chữ nhật, được chia thành  
nhiều ngăn từ 3-7 ngăn tùy theo mục tiêu thiết kế của trang trại. Sơ đồ nguyên tắc  
của công nghệ này như sau:  
Thu KSH  
Nước ra  
hồ chứa  
Ngăn phản  
ứng 3  
Nước thải vào  
Ngăn phản  
ứng 1  
Ngăn phản  
ứng 2  
13  
Thu cặn  
 
Hình 3. Sơ đồ công nghệ công trình KSH dạng nhiều ngăn  
Hình 4. Công trình KSH xây dựng bằng gạch xỉ tại  
Công ty Tổng hợp Hà Nam  
Ưu điểm:  
- Dễ cải tạo, nạo vét bùn cho từng ngăn.  
- Thi công, lắp đặt dễ dàng, đòi hỏi trình độ công nhân không cao.  
- Vật liệu xây dựng đa dạng (gạch thẻ hoặc gạch xỉ) có thể dùng tấm đan, đổ bê  
tông trần hoặc phủ bạt.  
- Vận hành đơn giản ít tắc ngẽn đường ống  
Nhược điểm:  
- Lượng khí thu được rất thấp, có thể do rò rỉ (sau một thời gian nắp bê tông bị  
nứt), không có hệ thống khuấy trộn, phá váng, làm giảm hiệu suất thiết kế (nhất là với  
dung tích bể lớn).  
- Không giữ được nhiệt do diện tích rộng.  
- Khó kiểm soát quá trình thu khí do nhiều ngăn, nếu thu khí tập chung tại một  
điểm thì khả năng thoát khí tại các ngăn khác lại bị hạn chế. Thất thoát khí lớn, nếu là  
nắp bê tông cốt thép hay phủ bạt thường bị hở giữa các mối hàn hay bề mặt bê tông  
và tường xây.  
- Bể thường có kết cấu hình chữ nhật chia nhiều ngăn, tạo nhiều góc chết không  
hoạt động, dòng chảy trong bể tĩnh không làm giảm khả năng đảo trộn, làm giảm hiệu  
suất sử dụng bể.  
- Thời gian lưu nước trong bể lớn 15-20 ngày.  
14  
2.2. Công trình KSH phủ bạt HDPE  
Công nghệ này hiện nay bắt đầu được áp dụng tại Việt nam cho một số loại hình  
xử lý chất thải công nghiệp thực phẩm như: chế biến sắn, bột mỳ chính, sản xuất  
rượu….Với quy mô công trình khá lớn từ 1000- 50.000m3/hồ. Sơ đồ công nghệ của  
loại công trình này như sau:  
Thu KSH  
Nước thải vào  
Nước ra  
Thu cặn  
Hồ phủ  
bạt  
Hồ lắng  
phủ bạt  
Hồ sinh  
học  
Hình 5. Sơ đồ công nghệ công trình KSH phủ bạt HDPE  
Ưu điểm:  
- Thời gian thi công nhanh  
- Hiệu quả thu khí cao, khả năng tích trữ khí tốt do tận dụng được độ co dãn của  
vải phủ.  
- Khả năng quan sát và kiểm soát được hoạt động của công trình tốt (thông qua  
độ phồng lên của lớp phủ)  
- Vận hành đơn giản ít tắc ngẽn đường ống  
Nhược điểm:  
- Khả năng giữ nhiệt kém, do thoát nhiệt bề mặt  
- Thời gian lưu lớn 15-30 ngày.  
- Mức độ an toàn thấp, khả năng gây cháy nổ cao.  
- Khó kiểm soát lượng bùn cặn trong hồ, khả năng thu bùn khó khăn.  
- Khó phát hiện các vị trí rò rỉ khí  
- Khó kiểm soát thấm ngấm tại đáy hồ.  
15  
 
Hình 6. Công trình KSH phủ bạt HDPE đang vận hành  
2.3 Công trình KSH dạng ống  
Công trình KSH dạng ống được Viện năng lượng thiết kế và chuyển giao công  
nghệ tới một số trang trại chăn nuôi với mức giá hợp lý cho quy mô tới vài trăm m3.  
Hình 7. Sơ đồ công nghệ công trình KSH phủ bạt HDPE  
Ưu điểm:  
- Thời gian thi công nhanh  
- Hiệu quả thu khí cao.  
- Vận hành đơn giản ít tắc ngẽn đường ống  
- Khả năng giữ nhiệt tốt.  
- Mức độ an toàn cao.  
- Dễ nạo vét bùn cặn.  
Nhược điểm:  
- Thời gian lưu lớn 15-25 ngày.  
- Khó phát hiện các vị trí rò rỉ khí  
- Khó kiểm soát thấm ngấm tại đáy bể.  
Hình 8. Công trình KSH phủ bạt HDPE đang xây dựng  
16  
 
2.4 Công trình KSH nắp cố định  
Công trình khí sinh học dạng vòm cầu nắp cố định được áp dụng khá phổ biến  
tại các trang trại vì nó được phát triển từ công trình KSH quy mô nông hộ.  
Bể phân giải  
Bể nạp  
Bể điều áp  
Hình 9. Sơ đồ công nghệ công trình KSH nắp cố định  
Ưu điểm:  
- Công nghệ này đã được phổ biến và nhân rộng ở quy mô nhỏ (hộ gia đình), đã  
được chuẩn hóa về thiết kế cũng như việc vận hành và bảo dưỡng, nên các trang trại  
áp dụng thường tự học hỏi được.  
- Với quy mô trang trại áp dụng công nghệ này cũng khá biến hóa. Một số trang  
trại nhận thức được các vấn đề khó khăn khi xây dựng công trình >50m3 nên đã chia  
thành nhiều hầm giống nhau tại mỗi chuồng trại.  
- Tỷ lệ thu KSH từ 0,2 - 0,4 m3/m3 bể cao hơn so với công trình KSH dạng nhiều  
ngăn (0,05 – 0,1 m3/m3 bể).  
- Khả năng giữ nhiệt tốt do bề mặt hở nhỏ. Điều này khá quan trọng đối với  
công trình KSH ở khu vực miền Bắc vào mùa đông.  
- Thời gian lưu nguyên liệu trong công trình 15-20 ngày.  
- Khả năng phân bố và đảo trộn nước tự nhiên trong bể khá đều (nhờ bề mặt  
thoáng của dịch phân giải thay đổi liên tục). Do kết cấu hình vòm cầu của bể, không  
tạo nên góc chết, nguyên liệu bên trong bể được phân giải khá triệt để.  
Nhược điểm:  
- Đối với các công trình >100m3 xây dựng phức tạp, đòi hỏi gia công nền móng  
tốt.  
- Khó bảo trì, bảo dưỡng và phát hiện rò rỉ do xây dựng ngầm hoàn toàn.  
17  
 
- Các trang trại xây dựng thường là tự phát, không được hướng dẫn quy trình  
nạp liệu nên thường gây tắc nghẽn đường ống thoát tại bể điều áp và ngăn lạp liệu.  
- Đồng hồ đo áp suất khí trong bể, van khóa nhanh bị hoen rỉ và kẹt do để ngoài  
trời và ăn mòn của KSH.  
- Hạn chế thu cặn vô cơ dưới đáy bể, gây lắng đọng lâu ngày làm giảm thể tích  
hoạt động hiệu dụng của công trình.  
- Việc sử dụng khí KSH để phát điện không có khâu làm sạch khí nên máy phát  
điện chóng hỏng.  
Hình 10. Công trình KSH nắp cố định có thể tích 300m3  
3. Xây dựng công nghệ khí sinh học quy mô vừa nắp cố định  
Các bước xây dựng công trình KSH quy mô vừa nắp cố định giống như các  
bước xây dựng công trình KSH quy mô nhỏ gồm các bước, tuy nhiên trong từng xây  
dựng, thợ xây phải đảm bảo các yếu tố kỹ thuật sau đây:  
3.1 Lựa chọn địa điểm  
Lựa chọn địa điểm thích hợp là việc làm đầu tiên. Để cho công trình hoạt động  
hiệu quả, tuổi thọ lâu dài, dễ dàng thi công, ngoài các yêu cầu giống với yêu cầu khi  
lựa chọn địa điểm xây dựng công nghệ KSH quy mô nhỏ thì kỹ thuật viên và thợ xây  
phải tư vấn cho hộ dân chú trọng các yếu tố quan trọng liên quan đến việc lựa chọn  
địa điểm xây dựng như:  
18  
   
- Cách xa nơi đất trũng để tránh bị nước ngập, xa hồ, ao để tránh nước ngầm,  
thuận tiện khi thi công và giữ cho công trình bền vững lâu dài.  
- Tránh những nơi đất có cường độ kém để không phải xử lý nền móng phức tạp  
và tốn kém.  
- Tránh xa không cho rễ tre và cây to ăn xuyên vào công trình làm hỏng công  
trình về sau.  
3.2 Chuẩn bị vật liệu  
Gạch: Cần chọn gạch tốt, mác từ 75 trở lên. Gạch được nung chín đều và có kích  
thước đều đặn. Không sử dụng gạch phồng, gạch non, gạch nứt, méo mó. Bề mặt  
gạch phải sạch, không có đất cát hoặc rêu bám bẩn. Có thể sử dụng gạch lỗ sao cho  
đảm bảo chất lượng như trên. Sơ bộ có thể kiểm tra chất lượng gạch bằng cách: cầm  
2 viên gạch đặt vuông góc nhau ở độ cao khoảng 1m, thả rơi tự do xuống nền cứng  
(gạch hoặc bê tông), nếu gạch không vỡ thì coi như đạt yêu cầu về cường độ.  
Một số tỉnh Miền Nam không có gạch đặc thì nên mua gạch 2 lỗ do nhà máy gạch  
sản xuất.  
Thép: Thép dùng để đổ các nắp thì sử dụng thép xây dựng thông thường, có  
đường kính là 6mm. Chú ý sử dụng đúng lượng thép đã ghi trên bản vẽ kỹ thuật,  
không sử dụng thép để đổ đáy vì nếu sử dụng thép để đổ đáy thì dịch phân giải trong  
bể sẽ làm cho thép bị ăn mòn, dễ bị gãydẫn đến kết cấu của đáybị nứt vỡ.  
3.3 Thi công xây dựng  
3.3.1 Lấy dấu  
Hầu hết các thợ xây có kinh nghiệm đều bỏ qua công đoạn lấy dấu xác định vị trí  
của các bể (phân giải, điều áp và nạp). Nếu không đánh dấu các vị trì của công trình  
dẫn đến khoảng cách các bể quá xa hoặc không đủ diện tích để xây dựng, việc này  
ảnh hưởng hiệu quả hoạt động của công trình. Việc xây dựng công trình KSH quy  
mô vừa sẽ phức tạp hơn việc xây dựng công trình KSH quy mô nhỏ vì nếu bể xây bị  
méo sẽ làm cho bể bị đổ khi vào vòm. Trước tiên, đánh dấu tâm bể phân giải bằng  
một cọc tre, lấy dấu hố cần đào bằng một vòng tròn với bán kính bằng bán kính ngoài  
của bể phân giải cộng thêm ít nhất 25 cm. Vị trí của các bể điều áp và bể nạp được  
xác định thông qua vị trí tương đối đối với bể phân giải và điều kiện mặt bằng.  
19  
     
Công trình cần một cốt chuẩn để xác định cao độ các bộ phận, tuỳ theo thực tế  
mà chọn cốt được lấy làm chuẩn. Cốt ±0 là mốc để xác định các mức như cốt tràn  
(Hxa) và độ sâu của đáy bể phân giải. Cốt ±0 phải bằng hoặc thấp hơn nền chuồng và  
cao hơn mặt sân để nước tự xả chảy ra cống rãnh và nước mưa từ cống rãnh không  
chảy vào bể. Trong trường hợp nếu chuồng lợn đã được xây kiên cố tức là nên  
chuồng đã có sẵn thì ta có thể chọn cốt ±0 là nền chuồng (phải đảm bảo dịch phân  
giải không tràn ngược chuồng). Cốt ± 0 được xác định sẽ được gửi (đánh) vào một vị  
trí cố định không bị thay đổi trong quá trình xây dựng (tường nhà, cây gần đấy). Cao  
độ các bộ phận công trình được xác định căn cứ trên cốt chuẩn này.  
3.3.2 Đào đất  
Nếu bể phân giải có mạch nước ngầm thì nhất thiết phải: 1) Đào rãnh thu nước  
quanh đáy về hố thu nước để dễ dàng bơm nước ra khỏi hố; 2) Tăng chiều dày lớp  
đất chèn xung quanh khối xây để chống lại lực ác - si - mét nâng khối xây lên. Còn  
nếu gặp mạch nước rỉ ngang tì cần dùng đất sét bịt lại.  
3.3.3 Đổ đáy bể phân giải  
Phải nhào trộn bê tông ở trên theo đúng thành phần cấp phối (mác 200), thành  
phần cho 1m3 mác 200 như sau: xi măng PCB30: 357kg, cát vàng: 0,041m3, đá dăm  
hoặc sỏi (1 x 2cm): 0,833m3, nước: 195 lít.  
Sau khi lát hoặc đổ bê tông xong, nếu có nước ngầm, phải múc nước từ hố thu  
nước thường xuyên, ít nhất trong 24 giờ để đảm bảo cho vữa đông kết được.  
Đợi cho đáy đủ chắc (ít nhất sau 1 ngày), tiếp tục xây thành bể phân giải.  
3.3.4 Đổ nắp  
Nắp bể phân giải dày nên không cần cốt thép, chỉ bằng bê tông cát vàng theo tỷ lệ  
xi măng/cát/cốt liệu là 1/3/5. Nắp đổ xong cần che nắng và tưới nước để dưỡng hộ  
cho bê tông đông kết tốt, tránh các vết nứt.  
Nắp bể điều áp và bể nạp nên rộng hơn miệng bể. Những nắp này phải có cốt  
thép để đảm bảo chịu tải trọng tốt. Nắp bể điều áp không cần chia tấm vì nắp to nên  
rất nặng, chỉ cần có cửa thăm, kích thước 70 x 70 cm.  
20  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 35 trang yennguyen 16420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tập huấn về công nghệ khí sinh học quy mô vừa dạng vòm cầu nắp cố định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_tap_huan_ve_cong_nghe_khi_sinh_hoc_quy_mo_vua_dang.pdf