Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình

NHẬN THỨC VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ  
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN  
ĐẤT NGẬP NƯỚC VÂN LONG, NINH BÌNH  
CAO THỊ THANH NGA,  
NGUYỄN THỊ HUYỀN THU, NGUYỄN THỊ NGỌC  
Tóm tắt: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (KBT Vân Long) bao gồm nhiều loại hệ  
sinh thái, trong đó hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và hệ sinh thái đất ngập nước là quan trọng nhất.  
Ngoài bảo tồn được tính nguyên vẹn, nơi đây còn có giá trị cao về đa dạng sinh học, là nơi có điều  
kiện thích hợp cho các loài động vật hoang dã sinh trưởng và phát triển. Sự tham gia của cộng đồng  
là một giải pháp quan trọng và mang ý nghĩa tích cực trong quản lý và bảo vệ các khu bảo tồn, những  
nơi cộng đồng có nhận thức và tham gia vào công tác bảo tồn thì tính đa dạng sinh học được duy trì  
và bảo vệ tốt. Qua khảo sát thực tế tại vùng lõi KBT Vân Long cho thấy, cộng đồng đã có sự nhận  
thức về vai trò của rừng và đa dạng sinh học, đã tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn đa  
dạng sinh học theo một số hình thức nhất định. Bài báo phân tích và đưa ra một số khuyến nghị giải  
pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ rừng và đa dạng sinh học khu vực  
này.  
Từ khóa: đa dạng sinh học, Vân Long, bảo tồn, vai trò cộng đồng  
AWARENESS AND PARTICIPATION OF THE LOCAL COMMUNITY  
INBIODIVERSITY CONSERVATION IN VAN LONG WETLAND NATURE RESERVE,  
NINH BINH PROVINCE  
Abstract: Vân Long Wetland Nature Reserve (Vân Long NR) in Ninh Bình province has several types  
of ecosystems, of which limestone forest ecosystems and wetland ecosystems are the most important.  
In addition to the well-preserved integrity of this region, it also maintains a high level of biodiversity  
and is a place with favorable conditions for wild animals to thrive. Community participation plays an  
important role in the management and protection of protected areas. Lessons from real practices and  
experiences have showed that, where the local community has good awareness and participation in  
conservation, biodiversity is well maintained and protected. Through surveys undertaken in the core  
area of Van Long NR, the local community was found to have good awareness of the role of forests  
and biodiversity and in several ways the community actively participated in forest protection and  
biodiversity conservation activities. This article analyzes solutions and provides recommendations to  
enhance community participation in forest protection and biodiversity in this area.  
Keywords: biodiversity, Van Long, conservation, the role of community  
1. Đặt vấn đề  
toán của các nhà khoa học thì hơn 40% nền kinh  
tế và 80% nhu cầu của người nghèo trên thế giới  
phụ thuộc vào ĐDSH [4]. Vì vậy, bảo tồn ĐDSH  
là việc làm quan trọng và cần thiết. Giải pháp  
bảo tồn dựa vào cộng đồng là một giải pháp hiệu  
Đa dạng sinh học (ĐDSH) đóng vai trò quan  
trọng trong phát triển kinh tế cũng như bảo vệ  
môi trường. Bên cạnh các chức năng sinh thái  
thì ĐDSH còn có giá trị kinh tế rất lớn. Theo tính  
35  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
quả và mang lại nhiều lợi ích. Thực tế hoạt động  
và sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn  
ĐDSH, từ đó đưa ra một số khuyến nghị giải  
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo tồn  
ĐDSH trong khu vực này.  
của các vườn quốc gia cũng như các khu bảo tồn  
cho thấy ở đâu người dân có nhận thức và tham  
gia vào công tác bảo tồn thì ở đó tính ĐDSH  
được duy trì và bảo vệ.  
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên  
cứu  
KBT Vân Long được tỉnh Ninh Bình thành  
lập năm 2001 với tổng diện tích 2.736 ha. Đây  
là khu vực bảo tồn quan trọng với vùng đất ngập  
nước chiếm một phần tư tổng diện tích, cung cấp  
các dịch vụ hệ sinh thái (HST) quan trọng cho  
cộng đồng dân cư xung quanh, bao gồm cả  
nguồn lợi thủy sản và nông nghiệp, chức năng  
điều tiết nước, danh lam thắng cảnh để phát triển  
du lịch sinh thái. Đặc biệt, nơi đây có tính ĐDSH  
cao với 1.194 loài động thực vật sinh sống.  
Trong đó có 15 loài thực vật và 12 loài động vật  
nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007. Gỗ nghiến,  
lim xẹt và voọc mông trắng là ba loài đặc hữu  
của Việt Nam được ghi nhận ở khu vực này. Với  
những giá trị sinh thái quan trọng cùng tính độc  
đáo của ĐDSH, năm 2019 KBT Vân Long được  
công nhận là Khu Ramsar (khu đất ngập nước  
có tầm quan trọng quốc tế) thứ 2360 của thế giới  
và là khu thứ 9 của Việt Nam.  
2.1. Cơ sở dữ liệu nghiên cứu  
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ các tài liệu,  
nghiên cứu, số liệu thống kê có liên quan, các  
báo cáo của BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân  
Long và số liệu điều tra, khảo sát thực tế.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu  
Trên cơ sở các tài liệu thu thập, tác giả nghiên  
cứu về tính ĐDSH của khu vực nghiên cứu, hiện  
trạng sinh kế của người dân; từ đó phân tích,  
đánh giá về nhận thức và sự tham gia của cộng  
đồng trong bảo tồn ĐDSH ở KBT Vân Long.  
Phương pháp điều tra xã hội học  
Nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc  
để phỏng vấn, thu thập thông tin trực tiếp từ các  
hộ dân sống trong vùng lõi của KBT Vân Long,  
thuộc 3 xã Gia Hòa, Gia Hưng, Gia Thanh của  
huyện Gia Viễn (Hình 1).  
Hiệu quả của các mô hình cộng đồng tham  
gia bảo tồn ĐDSH và đất ngập nước đã được  
thực tế chứng minh. Điều này thể hiện vai trò  
quan trọng của cộng đồng trong việc bảo vệ, duy  
trì và phát triển những giá trị sinh thái của các  
khu bảo tồn đất ngập nước. Trong Nghị định  
66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019 về bảo tồn và  
sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước cũng  
khẳng định phải “Tăng cường vai trò, sự tham  
gia của cộng đồng dân cư sinh sống trên, xung  
quanh vùng đất ngập nước”.  
Tổng số phiếu điều tra thực hiện trong nghiên  
cứu này được tính theo công thức [7]:  
n = N1+N.e2  
Trong đó, n là kích cỡ mẫu, N là tổng số hộ ở  
khu vực nghiên cứu (688 hộ) và e là xác suất có  
khả năng gặp sai số loại 2 (10%).  
Tổng số mẫu điều tra là 87 hộ. Thông tin thu  
thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản  
20.0.  
Ngoài ra, nghiên cứu này đã thực hiện phỏng  
vấn sâu các cán bộ của BQL KBT rừng đặc dụng  
Hoa Lư - Vân Long và chính quyền địa phương  
để thu thập những thông tin về: thực trạng và vai  
trò của ĐDSH; hiện trạng nhận thức, sự tham gia  
của cộng đồng trong bảo tồn ĐDSH.  
Nhận thức được điều này, chính quyền các  
cấp và Ban quản lý (BQL) KBT Vân Long đã  
triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy sự tham  
gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn ĐDSH.  
Bài viết này tập trung vào nghiên cứu nhận thức  
36  
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …  
Hình 1. Vị trí địa lý KBT Vân Long  
Nguồn: BQL KBT rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, 2020  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
sự đa dạng HST của khu vực, cung cấp nhiều giá  
trị sinh thái quan trọng cho con người và thiên  
nhiên.  
3.1. Đa dạng sinh học của KBT Vân Long  
Địa hình núi đá vôi đã tạo nên HST với hệ  
thống hang động và thảm thực vật đặc trưng cho  
KBT Vân Long, là môi trường sống chính của  
loài Voọc mông trắng - loài linh trưởng đang bị  
đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu, giờ chỉ còn  
ở Việt Nam.  
Về thành phần loài, KBT Vân Long có đa  
dạng hệ động thực vật, có nhiều loài nằm trong  
Sách đỏ Việt Nam. Với 2.002,6 ha rừng tự nhiên  
trên núi đá vôi (chiếm 97,1% tổng diện tích rừng)  
đã tạo nên khu hệ động vật với 472 loài thuộc 180  
chi và 42 họ (Bảng 1). Trong đó, côn trùng có số  
lượng loài nhiều nhất với 132 loài (chiếm 27,9%  
tổng số loài); đứng thứ hai là chim với 101 loài  
(chiếm 21,4%); tiếp theo là các loài giáp xác thân  
mềm dưới nước với 60 loài (chiếm 12,7%); cá  
với 54 loài (chiếm 11,4%); thân mềm chân bụng  
trên cạn với 48 loài (chiếm 10,2%); thú có 39 loài  
(chiếm 8,3%) và ít nhất là bò sát, ếch nhái với 38  
loài (chiếm 8,1%).  
Đầm Vân Long là vùng đất ngập nước nội địa  
nguyên vẹn còn sót lại của đồng bằng sông  
Hồng, bao gồm các dòng sông, hồ nước nông và  
thảm thực vật ngập nước phong phú, mang lại  
tính đa dạng đặc thù và tạo nên cảnh quan thiên  
nhiên độc đáo. Vì vậy, đầm Vân Long trở thành  
nơi cư trú quan trọng của nhiều loài thủy sinh và  
các loài chim nước quan trọng. Ngoài ra, nơi đây  
còn có các HST bãi cỏ, hang động... đã tạo nên  
37  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Bảng 1. Thành phần động vật của KBT Vân Long  
STT  
1
Các nhóm động vật  
Số bộ  
Số họ  
19  
Số loài  
39  
Thú  
8
13  
3
2
Chim  
39  
101  
38  
3
Bò sát, Ếch nhái  
Cá  
17  
4
5
16  
54  
5
Côn trùng  
10  
3
47  
132  
48  
6
Loài thân mềm chân bụng trên cạn  
Loài giáp xác thân mềm ở dưới nước  
Tổng số  
22  
7
-
20  
60  
42  
180  
472  
Nguồn: BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, 2020  
KBT Vân Long đã ghi nhận được 722 loài  
thực vật thuộc 476 chi 163 họ (Bảng 2). Trong  
đó, thực vật ngành Hạt kín (ngành Ngọc lan) giữ  
vai trò quan trọng nhất trong hệ thực vật với 659  
loài, chiếm 91,2% tổng số loài. Thực vật cung  
cấp gỗ, củi cho người dân trong vùng. Bên cạnh  
đó, giá trị của thực vật có thể dùng làm thuốc  
chữa bệnh (411 loài). Đặc biệt, trong tổng số 722  
loài, có 15 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam  
năm 2007, trong đó có 3 loài thuộc mức nguy  
cấp Endangered (E), 11 loài thuộc mức sẽ nguy  
cấp Vulnerable (V) và 1 loài thuộc mức ít nguy  
cấp (LR).  
Bảng 2. Thành phần thực vật của KBT Vân Long  
STT  
1
Các nhóm thực vật  
Số họ  
Số chi  
Số loài  
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta Angiospermae)  
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)  
Ngành Thông đất (Lycopodiophyta)  
Ngành Thông (Pinophyta Gymnospermae)  
Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta)  
Ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta)  
Tổng số  
137  
19  
3
463  
6
659  
51  
5
2
3
3
4
2
2
5
5
1
1
1
6
1
1
1
163  
476  
722  
Nguồn: BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long (2020)  
Có thể thấy, KBT Vân Long có giá trị ĐDSH  
cao, với nhiều kiểu HST và các loài động thực  
vật đặc hữu, quan trọng. ĐDSH cung cấp nhiều  
giá trị sinh thái cho con người như sản xuất nông  
nghiệp, điều tiết nước, cảnh quan thiên nhiên và  
giá trị du lịch khám phá cho du khách.  
dân và cộng đồng gắn với bảo vệ rừng là một  
trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo vệ  
và phát triển rừng. Đây là giải pháp “khôn  
ngoan” để đạt được trạng thái cân bằng giữa  
cuộc sống của người dân với việc bảo vệ rừng;  
Các sinh kế bao gồm:  
3.2. Hiện trạng sinh kế cộng đồng trong  
KBT Vân Long  
- Khai thác sản phẩm trong khu bảo tồn  
Cộng đồng có thể khai thác gỗ, củi và các lâm  
sản khác, chăn thả gia súc ở các bãi cỏ trong  
KBT để phát triển chăn nuôi, góp phần phát triển  
sinh kế (Bảng 3).  
Theo khảo sát, có 86/87 hộ (chiếm tỉ lệ 98,9%  
tổng số hộ phỏng vấn) thuộc vùng lõi KBT Vân  
Long có sinh kế chủ yếu phụ thuộc vào rừng và  
khu bảo tồn. Do vậy, cải thiện sinh kế cho người  
38  
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …  
Bảng 3. Một số sản phẩm được khai thác trước khi thành lập KBT Vân Long  
STT  
1
Các hoạt động  
Khai thác gỗ, củi đun  
Tỉ lệ % so với tổng số người được hỏi  
36,3  
7,5  
3,8  
25  
2
Khai thác gỗ để bán  
3
Săn, bắn động vật rừng  
Chăn thả gia súc  
4
5
Thu hái các lâm sản ngoài gỗ  
Khai thác đá xây dựng  
Khai thác cây cảnh  
7,5  
2,5  
5
6
7
8
Khai thác thủy sản trong đầm  
6,3  
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm tác giả, 2021  
Có thể thấy, hoạt động khai thác gỗ, củi của  
người dân diễn ra nhiều nhất với tỉ lệ 36,3%; tiếp  
đến là hoạt động chăn thả gia súc; khai thác gỗ  
và các lâm sản ngoài gỗ và hoạt động khai thác  
đá xây dựng có tỉ lệ thấp nhất (2,5%). Các hoạt  
động này đã góp phần ổn định kinh tế của các  
hộ gia đình sống xung quanh KBT.  
ĐDSH mà còn góp phần cải thiện thu nhập cho  
người dân.  
Tuy nhiên, đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng  
tại Ninh Bình hiện đang ở mức thấp so với mặt  
bằng chung của cả nước. Theo Quyết định số  
38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ  
tướng Chính phủ thì mức khoán quản lý bảo vệ  
rừng bình quân 300.000 đồng/ha/năm (mức cụ  
thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định). Tại  
KBT Vân Long cũng như toàn tỉnh Ninh Bình,  
đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng là  
100.000đ/ha/năm. Điều này, phần nào làm hạn  
chế sự tham gia của cộng đồng địa phương với  
nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.  
Hàng năm, Ban quản lý KBT kết hợp với lực  
lượng kiểm lâm địa phương và chính quyền xã  
nghiệm thu tình trạng rừng được bảo vệ. Sau đó  
căn cứ vào tình trạng rừng, khả năng và nhu cầu  
của các hộ để kí tiếp hợp đồng nhận khoán trông  
coi, bảo vệ rừng.  
Những hoạt động và các sản phẩm khai thác  
được người dân thực hiện theo đúng các qui định  
của pháp luật. Trong năm 2020, cán bộ của BQL  
rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long đã phối hợp  
tốt với lực lượng kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm  
liên huyện Hoa Lư - Gia Viễn, Ban lâm nghiệp  
các xã và hộ nhận khoán bảo vệ rừng thường  
xuyên tuần tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời  
những hành vi vi phạm xảy ra trong hai khu rừng  
đặc dụng. Vì vậy, trong năm 2020 không xảy ra  
tình trạng vi phạm, khai thác trái phép rừng đặc  
dụng [2].  
- Nhận khoán trông coi, bảo vệ rừng  
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp  
Kể từ khi thành lập KBT Vân Long, cộng  
đồng ở đây đã được tham gia nhận khoán bảo vệ  
rừng. Số liệu điều tra cho thấy, có 21 hộ gia đình  
(chiếm 24,1%) tổng số hộ điều tra có nhận  
khoán bảo vệ rừng. Năm 2020, tổng số tiền các  
hộ nhận được khi tham gia nhận khoán trông coi  
bảo vệ rừng là 49 triệu đồng. Hoạt động này  
không chỉ góp phần vào công tác bảo vệ rừng và  
Trước khi thành lập KBT người dân đã vào  
vùng lõi sinh sống theo chương trình khuyến  
khích định cư của nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó  
đời sống của người dân rất khó khăn, sinh kế  
không ổn định. Từ khi thành lập KBT (năm  
2001) rừng được bảo vệ tốt hơn. Nhờ đó mà  
nguồn nước được điều tiết và duy trì ổn định, tạo  
điều kiện thuận lợi cho người dân sản xuất nông  
39  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
nghiệp. Kết quả điều tra cho thấy có 91,9% số  
- Tuyến 3 đi bộ: từ bến du lịch Vân Long,  
theo bờ đê đến Đầm Cút thăm chùa Thanh Sơn  
Tự. Rời chùa tới thôn Cọt (xã Gia Hưng) thăm  
vườn cây ăn trái, theo đường mòn lên núi qua  
đền Thung Lá rồi vào thăm khu rừng trong  
Thung Quèn Cả.  
người được hỏi cho biết hoạt động sản xuất và  
thu nhập của họ ổn định và nâng cao do có được  
nguồn nước ổn định để phục vụ sản xuất.  
Thu nhập bình quân từ sản xuất nông nghiệp  
khoảng 106,2 triệu đồng/hộ/năm. Loại cây trồng  
chủ yếu là canh tác lúa nước, cây ăn quả như  
bưởi, cam, đào... mang lại thu nhập trung bình  
khoảng 35,6 triệu đồng/hộ/năm. Những loại vật  
nuôi chính được người dân lựa chọn cho sinh kế  
là lợn, bò, dê, gia cầm, cá giống... Thu nhập từ  
chăn nuôi khoảng 70,6 triệu đồng/năm (gần gấp  
đôi so với trồng trọt). “Trước khi thành lập Khu  
bảo tồn thì nguồn nước không có, chặt phá rừng  
nhiều nên cạn kiệt nguồn nước. Sau khi thành  
lập KBT thì cây rừng được trồng lại, giúp giữ  
nước. Cuộc sống người dân chúng tôi đã thay  
đổi rất nhiều. Hoạt động trồng trọt, chăn nuôi  
phát triển và mang lại thu nhập cao” (PVS ông  
N.Q.V - trưởng thôn Đồi Ngô, xã Gia Hòa,  
huyện Gia Viễn).  
- Tuyến 4 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long,  
đi dọc dãy núi Đồng Quyển để quan sát đàn  
Voọc mông trắng (có thể quan sát được đàn  
Voọc mông trắng vào sáng sớm và hoàng hôn).  
Người dân tham gia vào hoạt động du lịch sẽ  
chịu trách nhiệm hướng dẫn tại chỗ và đưa  
khách đi tham quan, cung cấp dịch vụ lưu trú và  
tổ chức các hoạt động cho du khách. Nhờ vậy,  
các hoạt động du lịch sinh thái đã tạo việc làm  
cho một bộ phận lực lượng lao động của địa  
phương, cải thiện sinh kế và mang lại thu nhập  
cho người dân.  
3.3. Nhận thức và sự tham gia của cộng  
đồng về bảo tồn đa dạng sinh học  
3.3.1. Nhận thức của cộng đồng về bảo tồn  
đa dạng sinh học  
- Hoạt động du lịch  
Với những ưu đãi được thiên nhiên ban tặng,  
hệ thống núi đá vôi được bao bọc xung quanh  
bởi các sông hồ, cùng với sự đa dạng của HST  
đất ngập nước, du lịch sinh thái đã và đang phát  
triển tại KBT Vân Long. Đây là loại hình du lịch  
dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương, phù  
hợp với điều kiện tại địa phương. Hiện nay, có  
4 tuyến tham quan du lịch đã được tổ chức phục  
vụ du khách:  
Người dân địa phương đã có nhận thức tương  
đối đầy đủ về bảo tồn ĐDSH. Theo kết quả  
phỏng vấn, có 53/87 hộ (chiếm tỉ lệ 60,9% số hộ  
được hỏi) cho biết, ĐDSH được hiểu là tất cả  
các loài sinh vật, bao gồm các cây, con trong  
KBT. Họ cũng khẳng định ĐDSH đóng vai trò  
rất quan trọng. Từ đó, họ cho rằng có nhiều hoạt  
động của con người làm ảnh hưởng đến rừng và  
ĐDSH (Bảng 4).  
- Tuyến 1 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long  
tới hang Vồng, rồi tiếp tục đi thuyền dọc dãy núi  
Đồng Quyển lần lượt qua cửa Đồng Thày, hang  
Bóng, Kẽm Trăm tới Đập Mới rồi quay lại.  
- Tuyến 2 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long  
tới chùa Bái Vọng, rồi tiếp tục đi thuyền dọc dãy  
núi Mèo Cào lần lượt qua hang Bà Nghiệp,  
Vườn Thị tới hang Cá rồi quay lại.  
Kết quả này cũng phù hợp với nhận định  
“Bây giờ nhận thức của người dân về bảo tồn  
ĐDSH đã nâng cao lên nhiều. Nhờ hiểu biết và  
nhận thức của cộng đồng khá tốt nên người dân  
tham gia rất nhiệt tình vào các hoạt động bảo  
tồn ĐDSH ở KBT Vân Long” (PVS ông M.V.Q,  
Giám đốc KBT rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân  
Long).  
40  
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …  
Bảng 4. Nhận thức của cộng đồng về các mối nguy hại đến rừng và ĐDSH  
STT  
1
Các hoạt động  
Số người  
Tỉ lệ (%)  
96,6  
96,6  
86,2  
86,2  
82,8  
37,9  
82,8  
75,9  
Khai thác gỗ  
Đốt rừng  
84  
84  
75  
75  
72  
33  
72  
66  
2
3
Canh tác, đốt rừng làm rẫy  
Săn bắn  
4
5
Khai thác các loại lâm sản khác  
Nhặt củi  
6
7
Cháy rừng  
8
Xả rác bừa bãi  
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm tác giả, 2021  
3.3.2. Một số hình thức tham gia của cộng  
đồng trong bảo vệ rừng và đa dạng sinh học  
- Nhận khoán bảo vệ rừng  
rừng nghiêm trọng nào” (PVS ông N.V.L, cán  
bộ Khu bảo tồn rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân  
Long).  
- Sự tham gia của người dân vào công tác  
phòng chống cháy rừng  
Các hộ dân sống trong vùng lõi của KBT Vân  
Long đã tham gia nhận khoán bảo vệ rừng theo  
các diện tích khác nhau. Trong đó, diện tích  
nhận khoán lớn nhất là 30 ha và thấp nhất là 10  
ha. Từ năm 2015 - 2019, nhờ tài trợ của một số  
tổ chức nước ngoài, 20 người dân được trang bị  
máy recoder để ghi lại hành trình tuần tra, giám  
sát rừng và những phát hiện về loài động, thực  
vật trong khu vực rừng họ nhận khoán. Hợp  
đồng nhận khoán bảo vệ rừng được kí theo từng  
năm dựa trên kết quả và nhu cầu của từng hộ gia  
đình.  
Các tổ bảo vệ rừng ở các thôn cũng chính là  
lực lượng xung kích phòng chống cháy rừng của  
thôn, huy động toàn bộ người dân tham gia chữa  
cháy khi có cháy rừng xảy ra. Tổ bảo vệ rừng và  
các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức trực  
24/24h trong các ngày có báo động ở các khu  
vực có nguy cơ cao và những khu vực trọng  
điểm cháy rừng. Với sự tham gia của cộng đồng  
trong phòng chống cháy rừng, số vụ cháy rừng  
trong KBT giảm rõ rệt, từ năm 2018 đến nay  
không xảy ra vụ cháy rừng nào.  
- Tuần tra bảo vệ rừng  
4. Kết luận và kiến nghị  
BQL KBT Vân Long phối hợp với chính  
quyền các xã nằm trong KBT thành lập các tổ  
bảo vệ rừng ở các thôn (mỗi thôn có 1 tổ, mỗi tổ  
2 người tiến hành tuần tra mỗi tháng một lần).  
Khi phát hiện các vụ vi phạm, các tổ báo cho  
BQL để tiến hành xử lý. Bên cạnh đó, qua điều  
tra các hộ dân, có tới 56/87 hộ (chiếm tỉ lệ 64,4%  
số hộ được hỏi) cho biết, họ thường xuyên tham  
gia và phối hợp với BQL trong các hoạt động  
bảo vệ rừng. Nhờ vậy mà “việc bảo tồn ĐDSH  
ở đây có được nhiều thành quả, nhờ người dân  
báo tin về các vi phạm nên KBT được bảo vệ  
nghiêm, hai năm qua chưa để xảy ra vụ chặt phá  
Cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn  
ĐDSH là biện pháp quan trọng, có ý nghĩa về  
mặt kinh tế, xã hội và phù hợp với tập quán sinh  
hoạt, sản xuất của địa phương. Trước khi thành  
lập KBT Vân Long, các hoạt động khai thác  
nông lâm sản, săn bắt động vật diễn ra thường  
xuyên. Từ khi thành lập KBT thì công tác bảo  
vệ rừng và ĐDSH có sự tiến bộ, chất lượng rừng  
ngày càng được nâng cao, cơ cấu thu nhập của  
người dân thay đổi so với trước khi giao rừng.  
Nhận thức của người dân về vai trò của rừng và  
ĐDSH cũng có sự thay đổi theo hướng có lợi  
cho việc quản lý, bảo vệ.  
41  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong  
thưởng kịp thời các nhóm hộ tích cực trong công  
tác quản lý bảo vệ rừng cũng là một động lực  
không thể thiếu trong công tác giao khoán này.  
- Nâng giá giao khoán, bảo vệ rừng cho người  
dân để họ yên tâm bảo vệ rừng. Đơn giá đang  
thực hiện hiện nay là quá thấp so với qui định.  
Ngoài ra, cần nghiên cứu đưa ra hướng dẫn  
những sản phẩm người dân được hưởng lợi khi  
nhận giao khoán bảo vệ rừng. Điều này sẽ thúc  
đẩy họ tham gia nhận khoán, góp phần vào công  
tác bảo tồn ĐDSH.  
bảo vệ rừng và bảo tồn ĐDSH hiện nay vẫn còn  
nhiều hạn chế. Mức chi trả cho hoạt động khoán  
quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp; định mức cho  
trồng rừng, chăm sóc rừng cũng còn rất thấp;  
người dân địa phương vẫn chưa thực sự hiểu rõ  
được vai trò và sự tham gia của mình trong từng  
khâu của quá trình quản lý... Do vậy, một số kiến  
nghị được đưa ra nhằm tăng cường sự tham gia  
của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng và  
ĐDSH như sau:  
- Các hợp đồng khoán quản lý bảo vệ rừng  
cần được xem xét lại trên cơ sở có sự tham gia  
của người dân địa phương, phối hợp với BQL  
rừng để đạt được sự đồng thuận trong các điều  
khoản nội dung quản lý bảo vệ cũng như trách  
nhiệm, quyền lợi của các bên nhận khoán, giao  
khoán và thời gian của hợp đồng. Việc khen  
- Duy trì các hoạt động tuyên truyền về tầm  
quan trọng của ĐDSH và những lợi ích có được  
khi bảo vệ tốt tài nguyên rừng và ĐDSH. Người  
dân ở đây đã có ý thức tốt thì phải duy trì những  
hoạt động để nâng cao hơn nữa sự hiểu biết và  
tự nguyện tham gia vào công tác bảo tồn.  
Bài viết này là một phần kết quả của đề tài cấp cơ sở: Sự tham gia của cộng đồng trong công tác  
bảo tồn đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình” do  
Viện Địa lí nhân văn chủ trì, ThS. Cao Thị Thanh Nga làm chủ nhiệm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ban Quản lý rừng đặc dung Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Thuyết minh thiết kế dự toá n cô ng trì nh lâ m sinh (Hạng mục  
thiết kế bảo vệ rừng đặc dụng).  
2. Ban Quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Bá o cá o Kết quả công tác năm 2020, phương hướng, nhiệm  
vụ công tác năm 2021.  
3. Ban Quản lý Khu bảo tồn rừng đặc dụng Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vâ n  
Long, Tài liệu nội bộ.  
4. Lê Văn Khoa (2014), Cần khai thá c, sử dụng hợp lý và bảo vệ đa dạng sinh học, Tạp chí Môi trường, số 11/2014.  
5. Nghị định 66/2019/CP-NĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước.  
6. Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chí nh phủ về việc ban hành một số chí nh  
sá ch bảo vệ, phá t triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với cá c cô ng ty nô ng, lâ m  
nghiệp.  
7. IPCC (2007), Climate Change 2007: Synthesis Report. Contribution of Working Groups I, II and III to the Fourth  
Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Core Writing Team, Pachauri, R.K and  
Reisinger, A. (eds.)], IPCC, Geneva, Switzerland.  
Thông tin tác giả:  
Nhật ký tòa soạn  
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc  
- Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâ m Khoa học xã hội Việt Nam  
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 08-04-2021  
Biên tập: 05-2021  
42  
pdf 8 trang yennguyen 18440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_va_su_tham_gia_cua_cong_dong_ve_bao_ton_da_dang_si.pdf