Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình
NHẬN THỨC VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
ĐẤT NGẬP NƯỚC VÂN LONG, NINH BÌNH
CAO THỊ THANH NGA,
NGUYỄN THỊ HUYỀN THU, NGUYỄN THỊ NGỌC
Tóm tắt: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (KBT Vân Long) bao gồm nhiều loại hệ
sinh thái, trong đó hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và hệ sinh thái đất ngập nước là quan trọng nhất.
Ngoài bảo tồn được tính nguyên vẹn, nơi đây còn có giá trị cao về đa dạng sinh học, là nơi có điều
kiện thích hợp cho các loài động vật hoang dã sinh trưởng và phát triển. Sự tham gia của cộng đồng
là một giải pháp quan trọng và mang ý nghĩa tích cực trong quản lý và bảo vệ các khu bảo tồn, những
nơi cộng đồng có nhận thức và tham gia vào công tác bảo tồn thì tính đa dạng sinh học được duy trì
và bảo vệ tốt. Qua khảo sát thực tế tại vùng lõi KBT Vân Long cho thấy, cộng đồng đã có sự nhận
thức về vai trò của rừng và đa dạng sinh học, đã tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn đa
dạng sinh học theo một số hình thức nhất định. Bài báo phân tích và đưa ra một số khuyến nghị giải
pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ rừng và đa dạng sinh học khu vực
này.
Từ khóa: đa dạng sinh học, Vân Long, bảo tồn, vai trò cộng đồng
AWARENESS AND PARTICIPATION OF THE LOCAL COMMUNITY
INBIODIVERSITY CONSERVATION IN VAN LONG WETLAND NATURE RESERVE,
NINH BINH PROVINCE
Abstract: Vân Long Wetland Nature Reserve (Vân Long NR) in Ninh Bình province has several types
of ecosystems, of which limestone forest ecosystems and wetland ecosystems are the most important.
In addition to the well-preserved integrity of this region, it also maintains a high level of biodiversity
and is a place with favorable conditions for wild animals to thrive. Community participation plays an
important role in the management and protection of protected areas. Lessons from real practices and
experiences have showed that, where the local community has good awareness and participation in
conservation, biodiversity is well maintained and protected. Through surveys undertaken in the core
area of Van Long NR, the local community was found to have good awareness of the role of forests
and biodiversity and in several ways the community actively participated in forest protection and
biodiversity conservation activities. This article analyzes solutions and provides recommendations to
enhance community participation in forest protection and biodiversity in this area.
Keywords: biodiversity, Van Long, conservation, the role of community
1. Đặt vấn đề
toán của các nhà khoa học thì hơn 40% nền kinh
tế và 80% nhu cầu của người nghèo trên thế giới
phụ thuộc vào ĐDSH [4]. Vì vậy, bảo tồn ĐDSH
là việc làm quan trọng và cần thiết. Giải pháp
bảo tồn dựa vào cộng đồng là một giải pháp hiệu
Đa dạng sinh học (ĐDSH) đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế cũng như bảo vệ
môi trường. Bên cạnh các chức năng sinh thái
thì ĐDSH còn có giá trị kinh tế rất lớn. Theo tính
35
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
quả và mang lại nhiều lợi ích. Thực tế hoạt động
và sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn
ĐDSH, từ đó đưa ra một số khuyến nghị giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo tồn
ĐDSH trong khu vực này.
của các vườn quốc gia cũng như các khu bảo tồn
cho thấy ở đâu người dân có nhận thức và tham
gia vào công tác bảo tồn thì ở đó tính ĐDSH
được duy trì và bảo vệ.
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên
cứu
KBT Vân Long được tỉnh Ninh Bình thành
lập năm 2001 với tổng diện tích 2.736 ha. Đây
là khu vực bảo tồn quan trọng với vùng đất ngập
nước chiếm một phần tư tổng diện tích, cung cấp
các dịch vụ hệ sinh thái (HST) quan trọng cho
cộng đồng dân cư xung quanh, bao gồm cả
nguồn lợi thủy sản và nông nghiệp, chức năng
điều tiết nước, danh lam thắng cảnh để phát triển
du lịch sinh thái. Đặc biệt, nơi đây có tính ĐDSH
cao với 1.194 loài động thực vật sinh sống.
Trong đó có 15 loài thực vật và 12 loài động vật
nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007. Gỗ nghiến,
lim xẹt và voọc mông trắng là ba loài đặc hữu
của Việt Nam được ghi nhận ở khu vực này. Với
những giá trị sinh thái quan trọng cùng tính độc
đáo của ĐDSH, năm 2019 KBT Vân Long được
công nhận là Khu Ramsar (khu đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc tế) thứ 2360 của thế giới
và là khu thứ 9 của Việt Nam.
2.1. Cơ sở dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ các tài liệu,
nghiên cứu, số liệu thống kê có liên quan, các
báo cáo của BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân
Long và số liệu điều tra, khảo sát thực tế.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu
Trên cơ sở các tài liệu thu thập, tác giả nghiên
cứu về tính ĐDSH của khu vực nghiên cứu, hiện
trạng sinh kế của người dân; từ đó phân tích,
đánh giá về nhận thức và sự tham gia của cộng
đồng trong bảo tồn ĐDSH ở KBT Vân Long.
Phương pháp điều tra xã hội học
Nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc
để phỏng vấn, thu thập thông tin trực tiếp từ các
hộ dân sống trong vùng lõi của KBT Vân Long,
thuộc 3 xã Gia Hòa, Gia Hưng, Gia Thanh của
huyện Gia Viễn (Hình 1).
Hiệu quả của các mô hình cộng đồng tham
gia bảo tồn ĐDSH và đất ngập nước đã được
thực tế chứng minh. Điều này thể hiện vai trò
quan trọng của cộng đồng trong việc bảo vệ, duy
trì và phát triển những giá trị sinh thái của các
khu bảo tồn đất ngập nước. Trong Nghị định
66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019 về bảo tồn và
sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước cũng
khẳng định phải “Tăng cường vai trò, sự tham
gia của cộng đồng dân cư sinh sống trên, xung
quanh vùng đất ngập nước”.
Tổng số phiếu điều tra thực hiện trong nghiên
cứu này được tính theo công thức [7]:
n = N1+N.e2
Trong đó, n là kích cỡ mẫu, N là tổng số hộ ở
khu vực nghiên cứu (688 hộ) và e là xác suất có
khả năng gặp sai số loại 2 (10%).
Tổng số mẫu điều tra là 87 hộ. Thông tin thu
thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản
20.0.
Ngoài ra, nghiên cứu này đã thực hiện phỏng
vấn sâu các cán bộ của BQL KBT rừng đặc dụng
Hoa Lư - Vân Long và chính quyền địa phương
để thu thập những thông tin về: thực trạng và vai
trò của ĐDSH; hiện trạng nhận thức, sự tham gia
của cộng đồng trong bảo tồn ĐDSH.
Nhận thức được điều này, chính quyền các
cấp và Ban quản lý (BQL) KBT Vân Long đã
triển khai nhiều hoạt động để thúc đẩy sự tham
gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn ĐDSH.
Bài viết này tập trung vào nghiên cứu nhận thức
36
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …
Hình 1. Vị trí địa lý KBT Vân Long
Nguồn: BQL KBT rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, 2020
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
sự đa dạng HST của khu vực, cung cấp nhiều giá
trị sinh thái quan trọng cho con người và thiên
nhiên.
3.1. Đa dạng sinh học của KBT Vân Long
Địa hình núi đá vôi đã tạo nên HST với hệ
thống hang động và thảm thực vật đặc trưng cho
KBT Vân Long, là môi trường sống chính của
loài Voọc mông trắng - loài linh trưởng đang bị
đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu, giờ chỉ còn
ở Việt Nam.
Về thành phần loài, KBT Vân Long có đa
dạng hệ động thực vật, có nhiều loài nằm trong
Sách đỏ Việt Nam. Với 2.002,6 ha rừng tự nhiên
trên núi đá vôi (chiếm 97,1% tổng diện tích rừng)
đã tạo nên khu hệ động vật với 472 loài thuộc 180
chi và 42 họ (Bảng 1). Trong đó, côn trùng có số
lượng loài nhiều nhất với 132 loài (chiếm 27,9%
tổng số loài); đứng thứ hai là chim với 101 loài
(chiếm 21,4%); tiếp theo là các loài giáp xác thân
mềm dưới nước với 60 loài (chiếm 12,7%); cá
với 54 loài (chiếm 11,4%); thân mềm chân bụng
trên cạn với 48 loài (chiếm 10,2%); thú có 39 loài
(chiếm 8,3%) và ít nhất là bò sát, ếch nhái với 38
loài (chiếm 8,1%).
Đầm Vân Long là vùng đất ngập nước nội địa
nguyên vẹn còn sót lại của đồng bằng sông
Hồng, bao gồm các dòng sông, hồ nước nông và
thảm thực vật ngập nước phong phú, mang lại
tính đa dạng đặc thù và tạo nên cảnh quan thiên
nhiên độc đáo. Vì vậy, đầm Vân Long trở thành
nơi cư trú quan trọng của nhiều loài thủy sinh và
các loài chim nước quan trọng. Ngoài ra, nơi đây
còn có các HST bãi cỏ, hang động... đã tạo nên
37
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
Bảng 1. Thành phần động vật của KBT Vân Long
STT
1
Các nhóm động vật
Số bộ
Số họ
19
Số loài
39
Thú
8
13
3
2
Chim
39
101
38
3
Bò sát, Ếch nhái
Cá
17
4
5
16
54
5
Côn trùng
10
3
47
132
48
6
Loài thân mềm chân bụng trên cạn
Loài giáp xác thân mềm ở dưới nước
Tổng số
22
7
-
20
60
42
180
472
Nguồn: BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long, 2020
KBT Vân Long đã ghi nhận được 722 loài
thực vật thuộc 476 chi 163 họ (Bảng 2). Trong
đó, thực vật ngành Hạt kín (ngành Ngọc lan) giữ
vai trò quan trọng nhất trong hệ thực vật với 659
loài, chiếm 91,2% tổng số loài. Thực vật cung
cấp gỗ, củi cho người dân trong vùng. Bên cạnh
đó, giá trị của thực vật có thể dùng làm thuốc
chữa bệnh (411 loài). Đặc biệt, trong tổng số 722
loài, có 15 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam
năm 2007, trong đó có 3 loài thuộc mức nguy
cấp Endangered (E), 11 loài thuộc mức sẽ nguy
cấp Vulnerable (V) và 1 loài thuộc mức ít nguy
cấp (LR).
Bảng 2. Thành phần thực vật của KBT Vân Long
STT
1
Các nhóm thực vật
Số họ
Số chi
Số loài
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta Angiospermae)
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
Ngành Thông đất (Lycopodiophyta)
Ngành Thông (Pinophyta Gymnospermae)
Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta)
Ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta)
Tổng số
137
19
3
463
6
659
51
5
2
3
3
4
2
2
5
5
1
1
1
6
1
1
1
163
476
722
Nguồn: BQL rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long (2020)
Có thể thấy, KBT Vân Long có giá trị ĐDSH
cao, với nhiều kiểu HST và các loài động thực
vật đặc hữu, quan trọng. ĐDSH cung cấp nhiều
giá trị sinh thái cho con người như sản xuất nông
nghiệp, điều tiết nước, cảnh quan thiên nhiên và
giá trị du lịch khám phá cho du khách.
dân và cộng đồng gắn với bảo vệ rừng là một
trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo vệ
và phát triển rừng. Đây là giải pháp “khôn
ngoan” để đạt được trạng thái cân bằng giữa
cuộc sống của người dân với việc bảo vệ rừng;
Các sinh kế bao gồm:
3.2. Hiện trạng sinh kế cộng đồng trong
KBT Vân Long
- Khai thác sản phẩm trong khu bảo tồn
Cộng đồng có thể khai thác gỗ, củi và các lâm
sản khác, chăn thả gia súc ở các bãi cỏ trong
KBT để phát triển chăn nuôi, góp phần phát triển
sinh kế (Bảng 3).
Theo khảo sát, có 86/87 hộ (chiếm tỉ lệ 98,9%
tổng số hộ phỏng vấn) thuộc vùng lõi KBT Vân
Long có sinh kế chủ yếu phụ thuộc vào rừng và
khu bảo tồn. Do vậy, cải thiện sinh kế cho người
38
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …
Bảng 3. Một số sản phẩm được khai thác trước khi thành lập KBT Vân Long
STT
1
Các hoạt động
Khai thác gỗ, củi đun
Tỉ lệ % so với tổng số người được hỏi
36,3
7,5
3,8
25
2
Khai thác gỗ để bán
3
Săn, bắn động vật rừng
Chăn thả gia súc
4
5
Thu hái các lâm sản ngoài gỗ
Khai thác đá xây dựng
Khai thác cây cảnh
7,5
2,5
5
6
7
8
Khai thác thủy sản trong đầm
6,3
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm tác giả, 2021
Có thể thấy, hoạt động khai thác gỗ, củi của
người dân diễn ra nhiều nhất với tỉ lệ 36,3%; tiếp
đến là hoạt động chăn thả gia súc; khai thác gỗ
và các lâm sản ngoài gỗ và hoạt động khai thác
đá xây dựng có tỉ lệ thấp nhất (2,5%). Các hoạt
động này đã góp phần ổn định kinh tế của các
hộ gia đình sống xung quanh KBT.
ĐDSH mà còn góp phần cải thiện thu nhập cho
người dân.
Tuy nhiên, đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng
tại Ninh Bình hiện đang ở mức thấp so với mặt
bằng chung của cả nước. Theo Quyết định số
38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ
tướng Chính phủ thì mức khoán quản lý bảo vệ
rừng bình quân 300.000 đồng/ha/năm (mức cụ
thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định). Tại
KBT Vân Long cũng như toàn tỉnh Ninh Bình,
đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng là
100.000đ/ha/năm. Điều này, phần nào làm hạn
chế sự tham gia của cộng đồng địa phương với
nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.
Hàng năm, Ban quản lý KBT kết hợp với lực
lượng kiểm lâm địa phương và chính quyền xã
nghiệm thu tình trạng rừng được bảo vệ. Sau đó
căn cứ vào tình trạng rừng, khả năng và nhu cầu
của các hộ để kí tiếp hợp đồng nhận khoán trông
coi, bảo vệ rừng.
Những hoạt động và các sản phẩm khai thác
được người dân thực hiện theo đúng các qui định
của pháp luật. Trong năm 2020, cán bộ của BQL
rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long đã phối hợp
tốt với lực lượng kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm
liên huyện Hoa Lư - Gia Viễn, Ban lâm nghiệp
các xã và hộ nhận khoán bảo vệ rừng thường
xuyên tuần tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời
những hành vi vi phạm xảy ra trong hai khu rừng
đặc dụng. Vì vậy, trong năm 2020 không xảy ra
tình trạng vi phạm, khai thác trái phép rừng đặc
dụng [2].
- Nhận khoán trông coi, bảo vệ rừng
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Kể từ khi thành lập KBT Vân Long, cộng
đồng ở đây đã được tham gia nhận khoán bảo vệ
rừng. Số liệu điều tra cho thấy, có 21 hộ gia đình
(chiếm 24,1%) tổng số hộ điều tra có nhận
khoán bảo vệ rừng. Năm 2020, tổng số tiền các
hộ nhận được khi tham gia nhận khoán trông coi
bảo vệ rừng là 49 triệu đồng. Hoạt động này
không chỉ góp phần vào công tác bảo vệ rừng và
Trước khi thành lập KBT người dân đã vào
vùng lõi sinh sống theo chương trình khuyến
khích định cư của nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó
đời sống của người dân rất khó khăn, sinh kế
không ổn định. Từ khi thành lập KBT (năm
2001) rừng được bảo vệ tốt hơn. Nhờ đó mà
nguồn nước được điều tiết và duy trì ổn định, tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân sản xuất nông
39
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
nghiệp. Kết quả điều tra cho thấy có 91,9% số
- Tuyến 3 đi bộ: từ bến du lịch Vân Long,
theo bờ đê đến Đầm Cút thăm chùa Thanh Sơn
Tự. Rời chùa tới thôn Cọt (xã Gia Hưng) thăm
vườn cây ăn trái, theo đường mòn lên núi qua
đền Thung Lá rồi vào thăm khu rừng trong
Thung Quèn Cả.
người được hỏi cho biết hoạt động sản xuất và
thu nhập của họ ổn định và nâng cao do có được
nguồn nước ổn định để phục vụ sản xuất.
Thu nhập bình quân từ sản xuất nông nghiệp
khoảng 106,2 triệu đồng/hộ/năm. Loại cây trồng
chủ yếu là canh tác lúa nước, cây ăn quả như
bưởi, cam, đào... mang lại thu nhập trung bình
khoảng 35,6 triệu đồng/hộ/năm. Những loại vật
nuôi chính được người dân lựa chọn cho sinh kế
là lợn, bò, dê, gia cầm, cá giống... Thu nhập từ
chăn nuôi khoảng 70,6 triệu đồng/năm (gần gấp
đôi so với trồng trọt). “Trước khi thành lập Khu
bảo tồn thì nguồn nước không có, chặt phá rừng
nhiều nên cạn kiệt nguồn nước. Sau khi thành
lập KBT thì cây rừng được trồng lại, giúp giữ
nước. Cuộc sống người dân chúng tôi đã thay
đổi rất nhiều. Hoạt động trồng trọt, chăn nuôi
phát triển và mang lại thu nhập cao” (PVS ông
N.Q.V - trưởng thôn Đồi Ngô, xã Gia Hòa,
huyện Gia Viễn).
- Tuyến 4 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long,
đi dọc dãy núi Đồng Quyển để quan sát đàn
Voọc mông trắng (có thể quan sát được đàn
Voọc mông trắng vào sáng sớm và hoàng hôn).
Người dân tham gia vào hoạt động du lịch sẽ
chịu trách nhiệm hướng dẫn tại chỗ và đưa
khách đi tham quan, cung cấp dịch vụ lưu trú và
tổ chức các hoạt động cho du khách. Nhờ vậy,
các hoạt động du lịch sinh thái đã tạo việc làm
cho một bộ phận lực lượng lao động của địa
phương, cải thiện sinh kế và mang lại thu nhập
cho người dân.
3.3. Nhận thức và sự tham gia của cộng
đồng về bảo tồn đa dạng sinh học
3.3.1. Nhận thức của cộng đồng về bảo tồn
đa dạng sinh học
- Hoạt động du lịch
Với những ưu đãi được thiên nhiên ban tặng,
hệ thống núi đá vôi được bao bọc xung quanh
bởi các sông hồ, cùng với sự đa dạng của HST
đất ngập nước, du lịch sinh thái đã và đang phát
triển tại KBT Vân Long. Đây là loại hình du lịch
dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương, phù
hợp với điều kiện tại địa phương. Hiện nay, có
4 tuyến tham quan du lịch đã được tổ chức phục
vụ du khách:
Người dân địa phương đã có nhận thức tương
đối đầy đủ về bảo tồn ĐDSH. Theo kết quả
phỏng vấn, có 53/87 hộ (chiếm tỉ lệ 60,9% số hộ
được hỏi) cho biết, ĐDSH được hiểu là tất cả
các loài sinh vật, bao gồm các cây, con trong
KBT. Họ cũng khẳng định ĐDSH đóng vai trò
rất quan trọng. Từ đó, họ cho rằng có nhiều hoạt
động của con người làm ảnh hưởng đến rừng và
ĐDSH (Bảng 4).
- Tuyến 1 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long
tới hang Vồng, rồi tiếp tục đi thuyền dọc dãy núi
Đồng Quyển lần lượt qua cửa Đồng Thày, hang
Bóng, Kẽm Trăm tới Đập Mới rồi quay lại.
- Tuyến 2 đi thuyền: từ bến du lịch Vân Long
tới chùa Bái Vọng, rồi tiếp tục đi thuyền dọc dãy
núi Mèo Cào lần lượt qua hang Bà Nghiệp,
Vườn Thị tới hang Cá rồi quay lại.
Kết quả này cũng phù hợp với nhận định
“Bây giờ nhận thức của người dân về bảo tồn
ĐDSH đã nâng cao lên nhiều. Nhờ hiểu biết và
nhận thức của cộng đồng khá tốt nên người dân
tham gia rất nhiệt tình vào các hoạt động bảo
tồn ĐDSH ở KBT Vân Long” (PVS ông M.V.Q,
Giám đốc KBT rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân
Long).
40
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc - Nhận thức và sự tham gia …
Bảng 4. Nhận thức của cộng đồng về các mối nguy hại đến rừng và ĐDSH
STT
1
Các hoạt động
Số người
Tỉ lệ (%)
96,6
96,6
86,2
86,2
82,8
37,9
82,8
75,9
Khai thác gỗ
Đốt rừng
84
84
75
75
72
33
72
66
2
3
Canh tác, đốt rừng làm rẫy
Săn bắn
4
5
Khai thác các loại lâm sản khác
Nhặt củi
6
7
Cháy rừng
8
Xả rác bừa bãi
Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm tác giả, 2021
3.3.2. Một số hình thức tham gia của cộng
đồng trong bảo vệ rừng và đa dạng sinh học
- Nhận khoán bảo vệ rừng
rừng nghiêm trọng nào” (PVS ông N.V.L, cán
bộ Khu bảo tồn rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân
Long).
- Sự tham gia của người dân vào công tác
phòng chống cháy rừng
Các hộ dân sống trong vùng lõi của KBT Vân
Long đã tham gia nhận khoán bảo vệ rừng theo
các diện tích khác nhau. Trong đó, diện tích
nhận khoán lớn nhất là 30 ha và thấp nhất là 10
ha. Từ năm 2015 - 2019, nhờ tài trợ của một số
tổ chức nước ngoài, 20 người dân được trang bị
máy recoder để ghi lại hành trình tuần tra, giám
sát rừng và những phát hiện về loài động, thực
vật trong khu vực rừng họ nhận khoán. Hợp
đồng nhận khoán bảo vệ rừng được kí theo từng
năm dựa trên kết quả và nhu cầu của từng hộ gia
đình.
Các tổ bảo vệ rừng ở các thôn cũng chính là
lực lượng xung kích phòng chống cháy rừng của
thôn, huy động toàn bộ người dân tham gia chữa
cháy khi có cháy rừng xảy ra. Tổ bảo vệ rừng và
các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức trực
24/24h trong các ngày có báo động ở các khu
vực có nguy cơ cao và những khu vực trọng
điểm cháy rừng. Với sự tham gia của cộng đồng
trong phòng chống cháy rừng, số vụ cháy rừng
trong KBT giảm rõ rệt, từ năm 2018 đến nay
không xảy ra vụ cháy rừng nào.
- Tuần tra bảo vệ rừng
4. Kết luận và kiến nghị
BQL KBT Vân Long phối hợp với chính
quyền các xã nằm trong KBT thành lập các tổ
bảo vệ rừng ở các thôn (mỗi thôn có 1 tổ, mỗi tổ
2 người tiến hành tuần tra mỗi tháng một lần).
Khi phát hiện các vụ vi phạm, các tổ báo cho
BQL để tiến hành xử lý. Bên cạnh đó, qua điều
tra các hộ dân, có tới 56/87 hộ (chiếm tỉ lệ 64,4%
số hộ được hỏi) cho biết, họ thường xuyên tham
gia và phối hợp với BQL trong các hoạt động
bảo vệ rừng. Nhờ vậy mà “việc bảo tồn ĐDSH
ở đây có được nhiều thành quả, nhờ người dân
báo tin về các vi phạm nên KBT được bảo vệ
nghiêm, hai năm qua chưa để xảy ra vụ chặt phá
Cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn
ĐDSH là biện pháp quan trọng, có ý nghĩa về
mặt kinh tế, xã hội và phù hợp với tập quán sinh
hoạt, sản xuất của địa phương. Trước khi thành
lập KBT Vân Long, các hoạt động khai thác
nông lâm sản, săn bắt động vật diễn ra thường
xuyên. Từ khi thành lập KBT thì công tác bảo
vệ rừng và ĐDSH có sự tiến bộ, chất lượng rừng
ngày càng được nâng cao, cơ cấu thu nhập của
người dân thay đổi so với trước khi giao rừng.
Nhận thức của người dân về vai trò của rừng và
ĐDSH cũng có sự thay đổi theo hướng có lợi
cho việc quản lý, bảo vệ.
41
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong
thưởng kịp thời các nhóm hộ tích cực trong công
tác quản lý bảo vệ rừng cũng là một động lực
không thể thiếu trong công tác giao khoán này.
- Nâng giá giao khoán, bảo vệ rừng cho người
dân để họ yên tâm bảo vệ rừng. Đơn giá đang
thực hiện hiện nay là quá thấp so với qui định.
Ngoài ra, cần nghiên cứu đưa ra hướng dẫn
những sản phẩm người dân được hưởng lợi khi
nhận giao khoán bảo vệ rừng. Điều này sẽ thúc
đẩy họ tham gia nhận khoán, góp phần vào công
tác bảo tồn ĐDSH.
bảo vệ rừng và bảo tồn ĐDSH hiện nay vẫn còn
nhiều hạn chế. Mức chi trả cho hoạt động khoán
quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp; định mức cho
trồng rừng, chăm sóc rừng cũng còn rất thấp;
người dân địa phương vẫn chưa thực sự hiểu rõ
được vai trò và sự tham gia của mình trong từng
khâu của quá trình quản lý... Do vậy, một số kiến
nghị được đưa ra nhằm tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng và
ĐDSH như sau:
- Các hợp đồng khoán quản lý bảo vệ rừng
cần được xem xét lại trên cơ sở có sự tham gia
của người dân địa phương, phối hợp với BQL
rừng để đạt được sự đồng thuận trong các điều
khoản nội dung quản lý bảo vệ cũng như trách
nhiệm, quyền lợi của các bên nhận khoán, giao
khoán và thời gian của hợp đồng. Việc khen
- Duy trì các hoạt động tuyên truyền về tầm
quan trọng của ĐDSH và những lợi ích có được
khi bảo vệ tốt tài nguyên rừng và ĐDSH. Người
dân ở đây đã có ý thức tốt thì phải duy trì những
hoạt động để nâng cao hơn nữa sự hiểu biết và
tự nguyện tham gia vào công tác bảo tồn.
Bài viết này là một phần kết quả của đề tài cấp cơ sở: Sự tham gia của cộng đồng trong công tác
bảo tồn đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình” do
Viện Địa lí nhân văn chủ trì, ThS. Cao Thị Thanh Nga làm chủ nhiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Quản lý rừng đặc dung Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Thuyết minh thiết kế dự toá n cô ng trì nh lâ m sinh (Hạng mục
thiết kế bảo vệ rừng đặc dụng).
2. Ban Quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Bá o cá o Kết quả công tác năm 2020, phương hướng, nhiệm
vụ công tác năm 2021.
3. Ban Quản lý Khu bảo tồn rừng đặc dụng Hoa Lư - Vâ n Long (2020), Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vâ n
Long, Tài liệu nội bộ.
4. Lê Văn Khoa (2014), Cần khai thá c, sử dụng hợp lý và bảo vệ đa dạng sinh học, Tạp chí Môi trường, số 11/2014.
5. Nghị định 66/2019/CP-NĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước.
6. Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chí nh phủ về việc ban hành một số chí nh
sá ch bảo vệ, phá t triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với cá c cô ng ty nô ng, lâ m
nghiệp.
7. IPCC (2007), Climate Change 2007: Synthesis Report. Contribution of Working Groups I, II and III to the Fourth
Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Core Writing Team, Pachauri, R.K and
Reisinger, A. (eds.)], IPCC, Geneva, Switzerland.
Thông tin tác giả:
Nhật ký tòa soạn
Cao Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Ngọc
- Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâ m Khoa học xã hội Việt Nam
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội
Ngày nhận bài: 08-04-2021
Biên tập: 05-2021
Email: [email protected]m
42
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_thuc_va_su_tham_gia_cua_cong_dong_ve_bao_ton_da_dang_si.pdf

