Điều trị ung thư đại - trực tràng di căn

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG DI CĂN  
1
1
2
NGUYỄN MINH QUÂN , PHAN VŨ ĐĂNG KHOA , PHẠM HÙNG CƯỜNG  
TÓM TẮT  
Ung thư đại-trực tràng (UTĐTT) là một trong năm ung thư thường gặp nhất tại Việt Nam. Khoảng 50 -  
60% bệnh nhân UTĐTT sẽ có di căn xa, và 80 - 90% các bệnh nhân này sẽ có di căn gan không thể cắt  
bỏ được. Điều trị UTĐTT di căn chủ yếu là điều trị toàn thân. Các thuốc nhắm trúng đích, như  
bevacizumab hoặc cetuximab, kết hợp với hóa trị dùng điều trị các bệnh nhân UTĐTT di căn ngay từ bước  
một đã nâng thời gian sống còn trung bình lên đến 30 tháng. Phẫu thuật và các điều trị tại chỗ đã giúp cải  
thiện sống còn một số bệnh nhân UTĐTT di căn gan hoặc phổi hơn nữa. Di căn gan hoặc phổi lúc đầu  
không cắt được có thể cắt được.  
Chọn lựa phương pháp và thời điểm điều trị UTĐTT di căn thay đổi tùy theo từng bệnh nhân và cần  
được phối hợp đa chuyên khoa.  
thân có thời gian sống còn 5 năm là 9%, nhưng nếu  
được cắt di căn gan lại có tỉ lệ sống còn 5 năm và 10  
năm lần lượt là 42% và 25%[1].  
Theo Globocan năm 2018, ung thư đại - trực  
tràng (UTĐTT) là ung thư (UT) thường gặp hàng thứ  
năm tại Việt Nam với 14.733 ca mới[6]. Theo kết quả  
ghi nhận UT quần thể tại TPHCM năm 2016, UT  
đại-trực tràng là UT thường gặp đứng hàng thứ ba ở  
nam và thứ tư ở nữ với xuất độ chuẩn theo tuổi lần  
Chúng tôi xin trình bày một trường hợp UTĐTT  
di căn gan điều trị tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM.  
lượt là 26,4 và 14,7/100.000 dân[13]  
.
TÓM TẮT TRƯỜNG HỢP BỆNH  
Bệnh sử  
Khoảng 20% bệnh nhân UTĐTT có di căn xa ở  
thời điểm chẩn đoán và khoảng 20% bệnh nhân còn  
Bệnh nhân nam, 59 tuổi, nhập viện ngày  
18/6/2019 vì đau bụng âm ỉ thượng vị vài tháng nay.  
lại sẽ xuất hiện di căn xa trong thời gian theo dõi[4,11]  
.
Các bệnh nhân UTĐTT di căn có thời gian sống còn  
trung bình chỉ khoảng 8 - 12 tháng[5].  
Tiền căn  
Tăng huyết áp. Bệnh nhân không có tiền căn  
nội ngoại khoa nào khác.  
Điều trị UTĐTT di căn trong quá khứ chủ yếu là  
hoá trị, phối hợp các hóa chất như oxaliplatin hoặc  
irinotecan với 5-FU + leucovorin hoặc capecitabine  
(các phác đồ FOLFOX, FOLFIRI hoặc CAPEOX,...)  
đã giúp nâng thời gian sống còn trung bình lên 18  
tháng. Trong vài thập niên gần đây, các thuốc nhắm  
trúng đích, như bevaczumab hoặc cetuxumab, kết  
hợp với hóa trị dùng điều trị các bệnh nhân UTĐTT  
di căn ngay từ bước một đã giúp cải thiện khả năng  
sống còn rõ rệt, với thời gian sống còn trung bình lên  
đến 30 tháng[5].  
Tiền căn gia đình  
Trong gia đình không có người bị ung thư.  
Thăm khám  
Bệnh tỉnh, sinh hiệu ổn định.  
Chiều cao: 160cm, cân nặng: 60 kg, KPS 90.  
Bụng mềm. Khám hậu môn: Không sờ chạm  
bướu.  
Điều trị UTĐTT di căn hiện nay không chỉ là  
điều trị toàn thân mà là điều trị phối hợp đa mô thức.  
Các bệnh nhân UTĐTT di căn gan chỉ điều trị toàn  
Kết quả cận lâm sàng  
Ngày nhận bài: 07/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
Địa chỉ liên hệ: Phạm Hùng Cường  
Email: phcuongvn@yahoo.com  
1 Bác sĩ điều trị Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
2 PGS.TS.BSCKII. Phó Trưởng Bộ môn Ung thư Đại học Y Dược TP. HCM,  
Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
323  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Xét nghiệm máu: CEA: 277ng/ml.  
Siêu âm bụng:  
Bệnh nhân được điều trị với phác đồ FOLFIRI -  
Cetuximab chu kỳ 8 - 12.  
Trực tràng dày thành không đều, bề dày 15mm.  
Đánh giá điều trị:  
Lâm sàng: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, lâm sàng ổn.  
Gan: Hai thùy có vài sang thương echo dày,  
rimsign (+), kt = 28 - 110mm, không vôi hóa, không  
tăng sinh mạch máu.  
Xét nghiệm máu (4/11): CEA: 3,89ng/ml.  
Siêu âm bụng (6/1): Hạ phân thùy IV, II có 2  
cấu trúc echo dày, không đồng nhất, giới hạn rõ,  
kích thước 14mm và 17mm. Hạ phân thùy VII - VIII  
có cấu trúc tương tự, kích thước 51mm. Hạ phân  
thùy VIII có cấu trúc tương tự, kích thước 36mm.  
Kết luận: Di căn gan đa ổ hai thùy.  
Nội soi đại tràng:  
Cách bờ hậu môn 16cm có tổn thương bướu  
sùi chiếm 3/4 chu vi lòng, ống soi vẫn qua được.  
Kết quả sinh thiết: Carcinôm tuyến, grad 2.  
CT-scan: Hạ phân thùy VIII có ổ giảm đậm độ  
kích thước 28mm. Tổn thương tương tự hạ phân  
thùy VI kích thước 37mm.  
CT-scan bụng:  
Phân thùy III gan (T), phân thùy V, VI, VII, VIII  
gan (P) có các khối choán chỗ lớn, đậm độ thấp hơn  
nhu mô gan, bờ rõ, bắt tương phản viền, có mạch  
máu tăng sinh.  
Dày thành ống tiêu hóa trực tràng 1/3 trên  
13mm, trên đoạn dài 2 - 3cm.  
Từ tháng 01/2020 đến tháng 02/2020  
Dày thành không đối xứng đoạn đại tràng  
sigma, thâm nhiễm mỡ xung quanh và có hạch kt #  
24mm.  
Bệnh nhân được chỉ định đốt MWA 2 sang  
thương gan (16/1/2020) hạ phân thùy VI và VIII.  
Tường trình MWA: Bướu HPT VI: Đốt 4 lần,  
tổng thời gian 30 phút; Kết quả sinh thiết: Carcinôm  
tuyến di căn gan. Bướu HPT VIII: đốt 3 lần, tổng thời  
gian 22 phút.  
Kết luận: U gan đa ổ nghĩ di căn từ đại tràng.  
X-quang phổi: Trong giới hạn bình thường.  
Xét nghiệm tìm đột biến gen: Không phát hiện đột  
biến gen KRAS; NRAS; BRAF.  
Đánh giá điều trị:  
Lâm sàng: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, lâm sàng ổn.  
Chẩn đoán: Ung thư trực tràng di căn gan (giai  
đoạn IV).  
Xét nghiệm máu (17/02/2020): CEA 2,95ng/ml.  
Điều trị:  
Siêu âm bụng: Đa tổn thương gan đáp ứng tốt  
sau MWA. Hạ phân thùy VIII: Có cấu trúc echo kém,  
tạo phản ứng xơ trung tâm, giới hạn rõ, kích thước  
30 x 18mm, không tăng sinh mạch máu. Hạ phân  
thùy VII cấu trúc tương tự kích thước 36 x 40mm.  
Từ tháng 7, 2019 đến tháng 10, 2019  
Bệnh nhân được điều trị phác đồ FOLFIRI -  
Cetuximab 8 chu kỳ.  
Đánh giá điều trị:  
CT-scan: Hạ phân thùy VIII có ổ giảm đậm độ  
không đồng nhất kích thước 27mm. Tổn thương  
tương tự hạ phân thùy VI - VII kích thước 32mm.  
Sang thương giảm đậm độ không đồng nhất nền sau  
hạ phân thùy II kích thước 12mm.  
Lâm sàng: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, lâm sàng ổn.  
Xét nghiệm máu (23/9): CEA: 7,4ng/ml.  
Siêu âm bụng: Gan: 2 thùy có vài sang thương  
echo dày, rimsign (+), kích thước 20 x 53mm, không  
vôi hóa, không tăng sinh mạch máu.  
Dày vách trái 1/3 trên trực tràng 13mm.  
Kết luận: Sang thương gan phải nghĩ không hoạt động.  
CT-scan bụng: Gan: sang thương đa ổ giảm  
đậm độ phân thùy II, VI, VII, VIII kích thước 39 x  
54mm.  
Nội soi đại tràng: Cách bờ hậu môn 16cm niêm  
mạc còn phù nề, không thấy bướu.  
Dày thành trực tràng phần cao, thành dày  
khoảng 10mm, trên đoạn dài khoảng 30mm, thâm  
nhiễm mỡ xung quanh, nốt mô cạnh sang thương  
kích thước 12 x 8mm.  
Từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020  
Bệnh nhân được chỉ định hóa trị duy trì với  
phác đồ Irinotecan - Cetuximab 4 chu kỳ.  
Đánh giá điều trị:  
Lâm sàng: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt.  
Từ tháng 11, 2019 đến tháng 12/2019  
324  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
26/3: Xuất hiện ít nhiễm trùng da cẳng chân,  
ói nhiều.  
+ Điều trị toàn thân hiện nay giúp giảm kích  
thước bướu nguyên phát đáng kể, nên khả  
năng xảy ra các biến chứng do bướu tiến  
triển không nhiều.  
Xét nghiệm máu (23/4/2020): CEA 3,13ng/ml.  
Siêu âm bụng: Hạ phân thùy VIII có cấu trúc  
echo kém không đồng nhất, có phản ứng tạo xơ  
trung tâm, giới hạn rõ, kích thước 34 x 28mm.  
Hạ phân thùy VII có cấu trúc tương tự kích thước  
45 x 33mm.  
Trong trường hợp bệnh nhân của chúng tôi, do  
không có triệu chứng tại bướu nguyên phát và di căn  
gan đa ổ với kích thước lớn, nên chúng tôi đã không  
xử lý cắt bướu nguyên phát mà điều trị toàn thân  
trước. Với phác đồ FOLFIRI - Cetuximab, sau 12  
chu kỳ, bướu nguyên phát đã biến mất hoàn toàn  
trên nội soi đại tràng.  
CT-scan bụng: Hạ phân thùy VIII có ổ giảm đậm  
độ không đồng nhất kích thước 27mm. Tổn thương  
tương tự hạ phân thùy VI - VII kích thước 32mm.  
Nốt giảm đậm độ nền sau hạ phân thùy II kích thước  
< 12mm.  
Điều trị di căn  
Điều trị toàn thân  
Điều trị UTĐTT di căn chủ yếu là điều trị toàn  
thân. Di căn xa thường xuất hiện trong vòng 3 năm  
từ khi chẩn đoán, với trung vị sống còn < 10%. Điều  
trị toàn thân giúp: Kiểm soát bệnh, giảm triệu chứng  
và kéo dài thời gian sống còn. Hóa trị và gần đây kết  
hợp với các thuốc nhắm trúng đích đã làm tăng  
trung vị sống còn của các bệnh nhân UTĐTT di căn  
lên gần 30 tháng.  
Kết luận: Sang thương gan phải nghĩ không  
hoạt động.  
BÀN LUẬN  
Điều trị bướu nguyên phát  
Nói chung, khi UTĐTT đã di căn xa, điều trị toàn  
thân nên được dùng trước tiên, lúc này phẫu thuật  
chỉ giới hạn trong việc điều trị triệu chứng các khối u  
gây tắc nghẽn hoặc chảy máu. Phẫu thuật không  
triệt để không giúp bệnh nhân sống còn lâu hơn mà  
có thể còn làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân  
và giảm cả sự chấp nhận điều trị toàn thân[7].  
Vài vị trí di căn dường như ít đáp ứng với điều  
trị toàn thân, như di căn xương hoặc buồng trứng.  
- Phác đồ với fluoropyrimidines làm nền là trụ  
cột chính cho hóa trị toàn thân trong điều trị UTĐTT  
di căn với sự khởi đầu của 5-FU từ những năm 1960  
và tiếp theo là capecitabine vào cuối những năm  
1990.  
Theo Hướng dẫn của Hội UTĐTT Nhật[9], lựa  
chọn điều trị bướu nguyên phát tùy vào bướu  
nguyên phát có triệu chứng hay không và tổn  
thương di căn có thể cắt được hay không.  
Trong thập niên vừa qua, sự xuất hiện của  
irinotecan và oxaliplatin đã giúp cải thiện một cách  
có ý nghĩa hiệu quả điều trị bước một và bước hai  
đối với UTĐTT di căn.  
Nếu tổn thương di căn có thể phẫu thuật hoặc  
có tiềm năng phẫu thuật thì ta có thể điều trị mạnh  
tay cho tổn thương di căn và bướu nguyên phát với  
mục đích chữa khỏi cho bệnh nhân.  
Các thuốc nhắm trúng đích thường kết hợp với  
các phác đồ hóa trị có fluoropyrimidines, irinotecan  
và oxaliplatin là bevacizumab hoặc cetuximab, tùy  
thuộc vào tình trạng đột biến KRAS của bướu.  
Nếu tổn thương di căn không thể phẫu thuật thì  
điều trị chính bằng liệu pháp toàn thân với mục tiêu  
kéo dài sự sống và tăng chất lượng sống.  
Theo Ayez[3],  
- Các phối hợp thuốc oxaliplatin hoặc irinotecan  
với FU/LV cho kết quả sống còn tốt hơn các điều trị  
đơn chất. Không có dữ liệu nào cho thấy FOLFOX,  
FOLFIRI hoặc FOLFOXIRI là tốt hơn hẳn trong điều  
trị bước một. Tuy nhiên, 5-FU nếu truyền liên tục thì  
tốt hơn bơm trực tiếp, phác đồ IFL thường không  
được khuyên dùng. FOLFOX thường gây giảm bạch  
cầu và bệnh lý thần kinh ngoại biên, trong khi  
FOLFIRI thường gây rụng tóc và các độc tính trên  
đường tiêu hóa. Capecitabine có thể thay thế 5-FU  
trong các phối hợp thuốc với oxaliplatin. Capecitabin  
và irinotecan cùng có độc tính trên đường tiêu hóa  
nên thường không dùng phối hợp với nhau.  
- Các lý do ủng hộ cắt bướu nguyên phát trước  
khi điều trị toàn thân:  
+ Ngăn ngừa các biến chứng do bướu tiến  
triển (tắc ruột, thủng bướu, chảy máu).  
+ Theo một số nghiên cứu, cắt bướu nguyên  
phát là yếu tố tiên lượng độc lập sống còn  
của các bệnh nhân UTĐTT di căn.  
- Các lý do không ủng hộ:  
+ Biến chứng sau mổ cắt bướu nguyên phát  
(đặc biệt là trực tràng) có thể trì hoãn điều  
trị toàn thân.  
FOLFOX hoặc FOLFIRI thường được dùng  
phối hợp với bevacizumab trong điều trị bước một  
325  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
tại Hoa Kỳ. Ở các bệnh nhân không có đột biến RAS  
điều trị với kháng VEGF (như bevacizumab) và hóa  
trị cho kết quả không khác biệt đáng kể với kháng  
EGFR (như cetuximab) và hóa trị.  
cũng tương tự như trong trường hợp di căn gan. Một  
ghi nhận trong 378 bệnh nhân được cắt khối di căn  
phổi, tỉ lệ không tái phát trong 3 năm đạt 28%, sống  
còn toàn bộ 3 năm đạt 78%.  
Nếu dùng các phác đồ có oxaliplatin (như  
FOLFOX) thì oxaliplatin nên ngưng ngay (hoặc thậm  
chí trước) khi có có độc tính thần kinh. Nên xem xét  
chuyển qua hóa trị duy trì với 5-FU/LV (hoặc  
capecitabine) và bevacizumab cho đến khi bệnh tiến  
triển. Tùy theo tình trạng đột biến RAS/RAF mà  
chuyển qua dùng kháng EGFR hoặc tiếp tục  
bevacizumab với phối hợp hóa trị khác.  
Việc cắt khối u đại - trực tràng và di căn gan có  
thể thực hiện trong cùng cuộc mổ hoặc trong hai  
cuộc mổ riêng biệt. Thông thường nếu tiến hành hai  
cuộc mổ riêng biệt thì phẫu thuật cắt khối u đại-trực  
tràng sẽ được thực hiện trước và sau đó sẽ phẫu  
thuật cắt di căn gan. Tuy nhiên hiện nay việc cắt bỏ  
u gan trước u đại-trực tràng sau đó hóa trị hỗ trợ đã  
được chấp nhận. Ngoài ra, hóa trị tân hỗ trợ sau đó  
cắt di căn gan rồi tới cắt u đại - trực tràng có thể có  
lợi ở vài bệnh nhân mặc dù chưa được chứng minh  
qua nhiều nghiên cứu.  
Đối với các bệnh nhân cần bướu giảm kích  
thước nhanh như trong các trường hợp di căn gan  
có thể cắt gan, có thể dùng phác đồ FOLFOXIRI kết  
hợp với bevacizumab hoặc không; hoặc phác đồ hai  
thuốc với kháng EGFR (nếu không có đột biến  
RAS).  
Ở những bệnh nhân di căn phúc mạc, phẫu  
thuật giảm nhẹ như cắt đoạn đại tràng, nối tắt hoặc  
làm HMNT được xem xét khi có tình trạng tắc ruột  
hoặc có nguy cơ tắc ruột trong tương lai, sau đó sẽ  
Các bệnh nhân lớn tuổi (>70) và có tổng trạng  
ECOG 2 vẫn có thể chịu được các phác đồ thuốc  
điều trị toàn thân[10]  
.
điều trị toàn thân như các bệnh nhân trẻ[10]  
.
Các điều trị tại chỗ khác  
Ngoài phẫu thuật, các điều trị tại chỗ khác cũng  
đã được dùng điều trị các tổn thương di căn.  
Xác định tình trạng đột biến RAS/RAF ở những  
bệnh nhân UTĐTT di căn giúp lựa chọn những bệnh  
nhân có thể hưởng lợi từ điều trị kháng EGFR. Các  
thuốc kháng EGFR như cetuximab, panitumumab  
được chỉ định ở những bệnh nhân có bướu nguyên  
Hủy u tại chỗ (ablation)  
Những bệnh nhân di căn gan hoặc phổi đơn  
độc có thể cân nhắc hủy u tại chỗ, đặc biệt trong  
những trường hợp không thuận lợi để phẫu thuật.  
Các phương pháp hủy u tại chỗ: đốt bằng sóng cao  
phát bên trái và RAS/RAF tự nhiên[12]  
.
Mới đây, liệu pháp miễn dịch với  
pembrolizumab đã được FDA chấp thuận trong điều  
tần (RFA), vi sóng (MWA), đốt lạnh và đông điện[12]  
.
trị UTĐTT di căn có MSI-H[12]  
.
Theo van Amerongen[16], phân tích tổng hợp 20  
nghiên cứu trên 1.060 bệnh nhân được đốt u gan  
bằng RFA và 1.817 bệnh nhân cắt gan do di căn từ  
UTĐTT, RFA so với cắt gan thì ít biến chứng hơn  
nhưng tái phát nhiều hơn và sống còn kém hơn.  
Phẫu thuật  
Khoảng 50 - 60% bệnh nhân được chẩn đoán  
UTĐTT sẽ tiến triển di căn, và 80 - 90% những bệnh  
nhân này sẽ có di căn gan không cắt được. Khối di  
căn thường xuất hiện sau khi điều trị UTĐTT, với  
gan là vị trí thường gặp nhất. Tuy nhiên khoảng  
20 - 34% UTĐTT phát hiện đồng thời với di căn gan.  
Vài bằng chứng chỉ ra rằng UTĐTT kèm di căn gan  
đồng thời thể hiện bệnh lan tràn và tiên lượng xấu  
hơn so với UTĐTT có di căn gan xuất hiện sau.  
Nút hóa chất động mạch (TACE)  
Nút hóa chất động mạch là kỹ thuật tiêm hóa  
chất vào động mạch nuôi bướu kèm với những phân  
tử làm tắc động mạch cung cấp ôxy, chất dinh  
dưỡng cho bướu. Hiện đang được nghiên cứu trong  
các thử nghiệm lâm sàng điều trị di căn gan, chưa  
được đưa vào hướng dẫn của NCCN[12]  
.
Nhiều nghiên cứu cho thấy phẫu thuật có khả  
năng điều trị triệt để đối với không ít bệnh nhân  
UTĐTT có di căn gan, với sống còn không bệnh 5  
năm gần 20% và thời gian sống còn toàn bộ khoảng  
38%. Hơn nữa, đối với những bệnh nhân di căn gan  
đơn ổ, tỉ lệ sống còn toàn bộ có thể đạt tới 71% sau  
cắt gan. Chính vì vậy việc xem xét chỉ định phẫu  
thuật ở nhóm bệnh nhân UT đại tràng di căn gan là  
vô cùng cần thiết.  
Xạ trị  
Xạ trị vào tổn thương di căn áp dụng cho những  
bệnh nhân không thể phẫu thuật, hủy u tại chỗ hoặc  
các biện pháp điều trị tại chỗ khác. Hiện đang được  
nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng, chưa  
được đưa vào hướng dẫn của NCCN[12]  
.
Các điều trị tại chỗ điều trị UTĐTT di căn gan có  
thể kể đến: hóa trị qua động mạch gan, hóa trị qua  
UTĐTT đôi khi cũng di căn phổi, và phần lớn  
khuyến cáo điều trị trong trường hợp di căn phổi  
326  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
tĩnh mạch cửa, nút mạch phóng xạ với các vi cầu  
Yttrium-90,...  
Các bệnh nhân di căn có tiềm năng phẫu thuật  
Ước tính có khoảng 5 - 15% bệnh nhân UTĐTT  
di căn ban đầu đánh giá thuộc nhóm không thể phẫu  
thuật được nhưng sau khi điều trị với liệu pháp toàn  
thân được đánh giá thuộc nhóm có thể phẫu thuật  
được. Với những bệnh nhân này, mục tiêu là chữa  
khỏi bệnh, khác với nhóm bệnh nhân di căn không  
thể phẫu thuật với mục tiêu chỉ là kéo dài sống còn,  
tăng chất lượng sống. Tuy nhiên, điều trị toàn thân  
cũng có mặt trái của nó như tăng độc tính gan, tăng  
tỷ lệ tử vong chu phẫu với những bệnh nhân sử  
Phối hợp các vũ khí điều trị  
Phối hợp các vũ khí điều trị tùy thuộc vào tình  
trạng di căn có thể mổ cắt gan được hay không.  
Bệnh nhân có thể thuộc một trong những nhóm  
sau: di căn đánh giá từ đầu có thể phẫu thuật, di căn  
có tiềm năng phẫu thuật hoặc di căn xác định không  
thể phẫu thuật.  
Phân nhóm bệnh nhân dựa vào đặc điểm bệnh  
nhân, đặc điểm khối bướu, dấu ấn sinh học phân tử,  
tham khảo ý kiến bệnh nhân.  
dụng nhóm oxaliplatin hoặc irinotecan[12]  
.
Phác đồ tiêu chuẩn cho hóa trị tân hỗ trợ vẫn  
chưa được thống nhất, nhưng những phác đồ có tỷ  
lệ đáp ứng cao thường được lựa chọn.  
- Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, tổng trạng, bệnh  
đồng mắc, hóa trị trước đó. Với bệnh nhân  
tổng trạng kém, nhiều bệnh đồng mắc, chăm  
sóc giảm nhẹ không hóa trị là một sự lựa chọn  
phù hợp.  
Theo NCCN[12], là các phác đồ:  
+ FOLFOX hoặc XELOX hoặc FOLFIRI có  
hoặc không bevacizumab.  
- Đặc điểm khối bướu: kích thước bướu, vị trí  
bướu nguyên phát.  
+ FOLFOX hoặc FOLFIRI có hoặc không  
panitumumab hoặc FOLFIRI có hoặc không có  
cetuximab (KRAS tự nhiên).  
- Dấu ấn sinh học phân tử: đánh giá tình trạng  
đột biến KRAS/NRAS và BRAF, khuếch đại  
HER2 và tình trạng bất ổn định vi vệ tinh mức  
độ cao MSI-H.  
+
FOLFOXIRI có hoặc không có  
bevacizumab.  
Theo ESMO[17], là các phác đồ:  
- Ý kiến của bệnh nhân: Chất lượng cuộc sống,  
nghề nghiệp, dung nạp độc tính[12]  
.
+ Với bệnh nhân RAS/BRAF tự nhiên: Bộ  
đôi hóa trị (FOLFOX hoặc XELOX hoặc FOLFIRI)  
kết hợp một thuốc kháng EGFR hoặc FOLFOXIRI  
kết hợp bevacizumab. Bộ đôi hóa trị kết hợp với  
bevacizumab ít được ưa chuộng.  
Các bệnh nhân di căn đánh giá từ đầu có thể phẫu  
thuật.  
Theo khuyến cáo của NCCN 6.2020[12]  
+ Với bệnh nhân UTĐTT di căn gan hoặc  
phổi có đồng thời, nên điều trị kiểu TNT (total  
neoadjuvant therapy) gồm hóa trị (mục đích tiêu diệt  
những ổ di căn vi thể) kết hợp với xạ trị ngắn hạn  
hoặc hóa xạ trị dài hạn (mục đích kiểm soát tại chỗ  
trước phẫu thuật), sau đó là phẫu thuật đơn thuần  
hoặc kết hợp với các điều trị tại chỗ khác.  
+ Với bệnh nhân có đột biến RAS, bộ đôi  
hoá trị kết hợp bevacizumab hoặc FOLFOXIRI kết  
hợp bevacizumab.  
Các bệnh nhân di căn xác định không thể phẫu thuật  
Điều trị toàn thân giữ vai trò chính.  
Trong trường hợp bệnh nhân của chúng tôi; do  
bệnh nhân có tổng trạng tốt, không có bệnh lý nội  
khoa nặng, bướu ở trực tràng có đột biến  
RAS/BRAF tự nhiên, di căn gan đa ổ với kích thước  
lớn (11cm); nên chúng tôi đã tiến hành điều trị với  
phác đồ FOLFIRI - Cetuximab. Sau 8 chu kỳ, các di  
căn gan đã giảm kích thước rõ rệt, đến chu kỳ 12  
kích thước các di căn gan tiếp tục giảm có thể can  
thiệp tại gan được. Do bệnh nhân không đồng ý mổ,  
nên chúng tôi đã điều trị hủy u bằng vi sóng dưới  
hướng dẫn của siêu âm. Kết quả ghi nhận các tổn  
thương gan không còn hoạt động, bệnh nhân được  
điều trị duy trì với Irinotecan + Cetuximab.  
+ Phẫu thuật cắt bướu nguyên phát và di  
căn gan có thể thực hiện trong một cuộc mổ hoặc  
cắt trong hai cuộc mổ. Trước đây, người ta hay cắt  
tổn thương nguyên phát trước rồi mới cắt tổn  
thương di căn. Tuy nhiên, từ năm 2006, biện pháp  
cắt tổn thương di căn trước, sau đó mới cắt tổn  
thương nguyên phát đã dần được chấp nhận.  
+ Với di căn xuất hiện sau khi điều trị, phẫu  
thuật cắt di căn trước là một lựa chọn thích hợp. Lợi  
ích của hóa trị tiền phẫu so với phẫu thuật trước  
chưa được biết rõ.  
327  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Điều trị di căn theo cơ quan bị di căn  
gan, các bệnh nhân được cắt cả di căn gan và phổi  
có tỉ lệ sống còn 3 và 5 năm lần lượt là 58% và 26%.  
Điều trị di căn gan  
Theo NCCN, hầu hết khuyến cáo điều trị cho  
tổn thương di căn gan có thể áp dụng cho tổn  
thương di căn phổi.  
Gan là cơ quan thường bị di căn nhất trong  
UTĐTT. Khoảng 50% bệnh nhân UTĐTT có di căn  
gan. Dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị toàn thân  
và kỹ thuật mổ nhưng chỉ có khoảng 20% bệnh nhân  
có thể cắt gan được. Các bệnh nhân UTĐTT di căn  
gan sau cắt gan và điều trị toàn thân có tỉ lệ sống  
còn 5 năm 35 - 55%[2].  
UTĐTT có khả năng di căn đến phổi và sau đó  
là đến hạch vùng N1, và xa hơn N2, N3, giống như  
ung thư phổi nguyên phát. Tiên lượng của những  
bệnh nhân có di căn hạch trung thất thường kém  
nên có thể xem là chống chỉ định trong phẫu thuật  
cắt tổn thương di căn phổi.  
Phẫu thuật được xem là biện pháp duy nhất có  
khả năng chữa khỏi bệnh.  
Điều trị các di căn ngoài gan khác  
Định nghĩa về những bệnh nhân có di căn gan  
có thể phẫu thuật thay đổi qua các thời kỳ. Tiêu  
chuẩn chọn bệnh nhân có thể phẫu thuật được khác  
nhau tùy từng phẫu thuật viên gan mật, tùy từng  
trung tâm y tế hay từng quốc gia.  
Các cơ quan khác (ngoài gan) có thể bị di căn  
là phổi, phúc mạc, xương, não, buồng trứng, hạch  
sau phúc mạc, hạch trên đòn,...[9,15]  
.
Khoảng 17% bệnh nhân UTĐTT di căn có di  
căn phúc mạc. Mục tiêu chính là điều trị giảm nhẹ  
bao gồm hóa trị, phẫu thuật giảm nhẹ. Những bệnh  
nhân này thường có sống còn thấp hơn những bệnh  
nhân không di căn phúc mạc. Dữ liệu cho thấy có  
thể tăng sống còn ở một nhóm nhỏ bệnh nhân điều  
trị mạnh tay gồm phẫu thuật làm giảm số lượng tế  
bào bướu và kèm với hóa trị trong phúc mạc nhiệt  
độ cao (HIPEC). Tuy nhiên biện pháp điều trị trên chỉ  
áp dụng trong các thử nghiệm lâm sàng, chưa được  
Trước đây, một hội nghị đồng thuận đã định  
nghĩa tổn thương gan không thể cắt được là tổn  
thương lớn hơn 70% thể tích gan hay liên quan đến  
hơn 6 hạ phân thùy gan, bệnh nhân không đủ sức  
khỏe để phẫu thuật hay có di căn ngoài gan không  
thể chữa khỏi.  
Hội nghị đồng thuận liên chuyên khoa hiện đại  
định nghĩa tổn thương đại trực tràng di căn gan có  
thể cắt được chỉ đơn giản là tổn thương gan có thể  
cắt hoàn toàn, chừa lại được phần thể tích gan đủ.  
đưa vào hướng dẫn của NCCN[12]  
.
Phẫu thuật có thể giúp cải thiện chất lượng  
sống ở những bệnh nhân bướu buồng trứng lớn, có  
triệu chứng. Phẫu thuật cũng có thể cân nhắc ở  
những bệnh nhân di căn hạch cạnh động mạch chủ  
bụng đơn độc, dưới tĩnh mạch thận trái, và không  
Chụp MRI trước phẫu thuật, siêu âm trong lúc  
mổ giúp đánh giá chính xác số lượng ổ di căn, kích  
thước, và vị trí so với những mạch máu và đường  
mật quan trọng của gan [NCCN].  
bệnh tiến triển sau điều trị toàn thân[12]  
.
Điều trị di căn phổi  
Phổi là cơ quan thường bị di căn thứ hai trong  
UTĐTT, sau di căn gan. Di căn phổi có thể gặp trong  
KẾT LUẬN  
32 - 47% bệnh nhân UTĐTT tại Thụy Điển[15]  
.
Điều trị ung thư đại-trực tràng (UTĐTT) di căn  
chủ yếu là điều trị toàn thân. Phẫu thuật và các điều  
trị tại chỗ đã giúp cải thiện rõ sống còn một số bệnh  
nhân UTĐTT di căn gan hoặc phổi. Di căn gan hoặc  
phổi lúc đầu không cắt được có thể cắt được.  
Mặc dù chưa có những thử nghiệm ngẫu nhiên  
cho phẫu thuật so với điều trị toàn thân, những báo  
cáo hồi cứu cho thấy phẫu thuật mạnh tay ở những  
bệnh nhân di căn phổi được lựa chọn kỹ có thể có tỷ  
lệ sống còn toàn bộ 3 năm đạt 78%[12]. Theo  
Rapicetta[14], khảo sát trên 344 bệnh nhân UTĐTT di  
căn phổi đơn độc (một ổ di căn), mổ cắt di căn phổi  
(78% cắt phổi hình chêm) giúp 62% bệnh nhân sống  
còn 5 năm.  
Chọn lựa phương pháp và thời điểm điều trị  
UTĐTT di căn thay đổi tùy theo từng bệnh nhân và  
cần được phối hợp đa chuyên khoa.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Adam R., Kitano Y. (2019). “Multidisciplinary  
approach of liver metastases from colorectal  
cancer”. Ann Gastroenterol Surg; 3: 50 - 56.  
Việc xuất hiện tổn thương gan di căn gan cùng  
lúc, hay tổn thương di căn phổi xuất hiện sau khi đã  
điều trị tổn thương di căn gan không phải là chống  
chỉ định cắt tổn thương di căn phổi, miễn là những  
tổn thương di căn đó có thể cắt được. Theo  
Hadden[8], tổng hợp 52 nghiên cứu trên 1936 bệnh  
nhân có cùng lúc di căn gan và một di căn ngoài  
2. Al Bandar M.H., Kim N.K. (2017). “Current status  
and future perspectives on treatment of liver  
metastasis in colorectal cancer (Review)”. Oncol  
Rep; 37(5): 2553 - 2564.  
328  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
3. Ayez N., Alberda W.J., Verheul H.M., Burger  
J.W. et al (2011). “Surgery of the primary tumour  
in stage IV colorectal cancer with unresectable  
metastases”. Eur Oncol Haematol; 8(1): 27 - 31.  
Philadelphia: Wolters Kluwer; 8th edition, pp.  
356 - 386.  
11. Li Z-N., Zhao L., Yu L-F., Wei M-J. (2020)  
"BRAF and KRAS mutations in metastatic  
colorectal cancer: future perspectives for  
personalized therapy". Gastroenterol Rep (Oxf),  
8(3): 192 - 205.  
4. Bylsma L.C., Gillezeau C., Garawin T.A., Kelsh  
M.A.. et al (2020). "Prevalence of RAS and  
BRAF mutations in metastatic colorectal cancer  
patients by tumor sidedness: A systematic  
review and meta-analysis". Cancer Med;  
9 (3): 1044 - 1057.  
12. NCCN Guidelines: Rectal Cancer, Version  
6.2020. (https://www.nccn.org/).  
13. Phạm Xuân Dũng, Đặng Huy Quốc Thịnh, Bùi  
Đức Tùng, Quách Thanh Khánh và cs (2019).  
"Kết quả ghi nhận ung thư quần thể thành phố  
Hồ Chí Minh 2016". Tạp chí Ung thư học Việt  
Nam; số 5, tr.23 - 29.  
5. Caputo F., Santini C., Bardasi C., Cerma K. et al  
(2019). “BRAF-Mutated Colorectal Cancer:  
Clinical and Molecular Insights”. Int J Mol Sci;  
20: 5369.  
6. Globocan  
2018.  
14. Rapicetta C., Lococo F., Davini F., Carleo F. et  
ons/704-viet-nam-fact-sheets.pdf).  
al  
(2019).  
“Is  
Adjuvant  
Chemotherapy  
Worthwhile After Radical Resection for Single  
Lung Metastasis From Colorectal Cancer? A  
Multicentric Analysis Evaluating the Risk of  
Recurrence”. Front Oncol; 9: 763.  
7. Glynne - Jones R., Brown G., Chau I., Moran  
B.J. (2015). “Colon and rectum”. In: O’Sullivan B.  
(Editor in Chief) UICC Manual of Clinical  
Oncology. John Willey & Sons, Ltd; 9th edition,  
pp. 308 - 326.  
15. Riihimäki M., Hemminki A., Sundquist J.,  
Hemminki K. (2016). “Patterns of metastasis in  
colon and rectal cancer”. Scientific reports;  
6: 29765.  
8. Hadden W.J., de Reuver P.R., Brown K., Mittal  
A. et al (2016). “Resection of colorectal liver  
metastases and extra-hepatic disease:  
a
16. van Amerongen M.J., Jenniskens S.F.M., van  
den Boezem P.B., Fütterer J.J. et al (2017).  
“Radiofrequency ablation compared to surgical  
resection for curative treatment of patients with  
colorectal liver metastases - a meta-analysis”.  
HPB (Oxford); 19(9): 749 - 756.  
systematic review and proportional meta-  
analysis of survival outcomes”. HPB (Oxford);  
18(3): 209 - 220.  
9. Hashiguchi Y., Muro K., Saito Y. et al (2020).  
“Japanese Society for Cancer of the Colon and  
Rectum (JSCCR) guidelines 2019 for the  
treatment of colorectal cancer”. Int J Clin Oncol;  
25: 1 - 42.  
17. Van Cutsem E., Cervantes A., Adam R., Sobrero  
A. et al (2016). “ESMO consensus guidelines for  
the management of patients with metastatic  
colorectal cancer”. Ann Oncol; 27(8): 1386 - 422.  
10. Kasi P.M., Grothey A. (2017). “Gastrointestinal  
Tract Cancers”. In: Chmielowski B., Territo M.  
(Editors)  
Manual  
of  
Clinical  
Oncology.  
329  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
SUMMARY  
Management of metastatic colorectal cancer  
Colorectal cancer (CRC) is one of the most common cancer in Vietnam. Approximately 50 to 60% of  
patients diagnosed with CRC will develop distant metastases, and 80 to 90% these patients have unresectable  
metastatic liver disease. Systemic therapy for metastatic CRC can control the disease, provide substantial  
symptom palliation and to some extent prolong survival. Treatment of patients with metastatic CRC with  
targeted therapies like bevacizumab or cetuximab with the chemotherapy backbone has significantly improved  
overall survival approaching 30 months in modern trials. Surgery and local albative treatments have improved  
overall survival more for a number of patients with hepatic or pulmonary metastases secondary to colorectal  
cancer. Initially unresectable liver or lung metastases can be resected.  
Multidisciplinary tumor boards should critically scrutinize the best treatment options.  
330  
pdf 8 trang yennguyen 22980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều trị ung thư đại - trực tràng di căn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_tri_ung_thu_dai_truc_trang_di_can.pdf