Mối tương quan giữa nồng độ IL-6, IL-10 và TNF-α huyết thanh với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

                                                      
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA  
NỒNG ĐỘ IL-6, IL-10 VÀ TNF-α HUYẾT THANH VỚI  
CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG KHÁC  
Ở BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP DẠNG THẤP  
Phùng Anh Đức1, Nguyễn Đình Khoa1, Đoàn Văn Đệ2  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Nghiên cứu mối tương quan giữa nồng độ interleukin-6 (IL-6), IL-10 và TNF-α với  
các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng khác ở bệnh nhân (BN) viêm khớp dạng thấp (VKDT). Đối  
tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm 129 BN (115 nữ và 14 nam) được  
chẩn đoán VKDT theo tiêu chuẩn ACR 1987, điều trị tại Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ  
Rẫy. Xét nghiệm định lượng nồng độ IL-6 và TNF-α được thực hiện bằng phương pháp định  
lượng bằng công nghệ biochips, phát hóa - quang miễn dịch. Kết quả: Nhóm BN có tuổi trung  
bình 54,84 11,38. Nồng độ trung bình và trung vị của IL-6 (pg/ml) là 29,59 40,36 và 13,52  
[4,75 - 37,03]. Nồng độ trung bình và trung vị của IL-10 (pg/ml) là 22,86 52,12 và 4,74 [2,47 -  
20,46]. Nồng độ trung bình và trung vị c ủa TNF-α (pg/ml) là 29,53 71,54 và 8,44 [3,88 -  
22,90]. Tỷ lệ BN có t ăng IL-6, IL-10 và TNF-α lần lượt là 94,57%; 80,62% và 43,41%. IL-6 có  
mối tương quan với DAS28-VS (r = 0,189; p = 0,032). IL-10 có mối tương quan với SKĐ28 (r =  
0,185; p = 0,036), VS (r = 0,266; p = 0,003), CRP (r = 0,273; p = 0,002), DAS28-VS (r = 0,227;  
p = 0,002), DAS28-CRP (r = 0,235; p = 0,008), RF (r = 0,471; p = 0,000) và anti-CCP (r = 0,227;  
p = 0,011). TNF-α có mối tương quan với VS (r = 0,213; p = 0,015), RF (r = 0,469; p = 0,000) và  
anti-CCP (r = 0,266; p = 0,003). Không có mối tương quan giữa nồng độ IL-6, nồng độ RF và  
anti-CCP. Kết luận: Nồng độ IL-6, IL-10 và TNF-α huyết thanh tăng cao ở BN VKDT. Nồng độ  
IL-6 và IL-10 huyết thanh có mối tương quan đến tình trạng hoạt động của bệnh.  
* Từ khóa: Viêm khớp dạng thấp; Interleukin-6; TNF-α; DAS28.  
Correlation between Serum IL-6, IL-10 and TNF-  
α
Levels and  
other Clinical and Laboratory Characteristics in Patients with  
Rheumatoid Arthritis  
Summary  
Objectives: To study the levels of serum IL-6, IL-10 and TNF-α in correlation with other  
clinical and laboratory charateristics in rheumatoid arthritis (RA) patients. Subjects and  
methods: A cross sectional study was carried out on 129 RA patients (115 females, 14 males),  
who met the ACR 1987 citeria, treated at Cho Ray Hospital. The serum IL-6, IL-10 and  
TNF-α level were measured by chemiluminescent immuno assay with biochip array technology.  
Results: The average age of patients was 54.84 11.38. The mean and median of serum IL-6  
levels were 29.59 40.36 and 13.52 [4.75 - 37.03]. The mean and median of serum IL-10 levels  
1Bệnh viện Chợ Rẫy  
2Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y  
Người phản hồi: Phùng Anh Đức ([email protected])  
Ngày nhận bài: 26/3/2021  
Ngày bài báo được đăng: 19/4/2021  
62  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
were 22.86 52.12 and 4.74 [2.47 - 20.46]. The mean and median of serum TNF-α levels were  
29.53 71.54 and 8.44 [3.88 - 22.90]. The rates of patients with increased IL-6, IL-10 and  
TNF-α levels were 94.57%, 80.62% and 43.41%, respectively. IL-6 level correlated with DAS28-VS  
(r = 0.189; p = 0.032). IL-10 level correlated with the number of tender joint 28 (r = 0.185;  
p = 0.036), VS (r = 0.266; p = 0.003), CRP (r = 0.273; p = 0.002), DAS28-VS (r = 0.227;  
p = 0.002), DAS28-CRP (r = 0.235; p = 0.008), RF (r = 0.471; p = 0,000) and anti-CCP (r = 0.227;  
p = 0.011). TNF-α level correlated with VS (r = 0.213; p = 0.015), RF (r = 0.469; p = 0.000) and  
anti-CCP (r = 0.266; p = 0.003). There were no correlation of serum IL-6 level to antibody  
(RF and anti-CCP) level. Conclusion: The serum IL-6, IL-10 and TNF-α levels increased in  
rheumatoid arthritis patients. The serum IL-6 and IL-10 correlated with the disease activity.  
* Keywords: Rheumatoid arthritis; Interleukine-6; TNF-α; DAS28.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
chỗ trong b ệnh VKDT. IL-6 được tạo ra  
bởi nhiều loại tế bào khác nhau, thúc đẩy  
sự biệt hóa tế bào lympho B, T giúp tạo ra  
các tự kháng thể và các chất trung gian  
miễn dịch khác có liên quan đến các đợt  
cấp của VKDT [9]. TNF-α được sản xuất  
chủ yếu bởi các đại thực bào hoạt hóa.  
Trong bệnh VKDT, TNF-α kích thích sự  
gia tăng và biệt hóa các tế bào lympho B,  
T và tế bào NK, kích thích sản xuất các  
cytokine gây viêm khác (IL-1, IL-6, IL-8),  
kích thích tạo ra các chất gây phá hủy  
sụn khớp (stromelysin, collagenase,  
prostaglandin và GM-CSF) [7]. IL-10 hiện  
diện nhiều trong dịch khớp BN VKDT  
tương tự các cytokine gây viêm khác. Sự  
hiện diện của IL-10 trong dịch khớp sẽ ức  
chế t ăng sinh tế bào đơn nhân, ức chế  
sản xuất TNF-α, IL-1 và GM-CSF, giảm  
sự hiện diện của HLA-DR và tăng sự hiện  
diện của CD16, CD64 trên bề mặt tế bào  
[7].  
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là b ệnh  
tự miễn điển hình, thường gặp nhất trong  
số các bệnh viêm khớp mạn tính với tỷ lệ  
lưu hành khoảng 0,5 - 1% dân số [11].  
Đặc điểm chính của bệnh là tình trạng  
viêm mạn tính màng hoạt dịch, dẫn tới  
tổn thương cấu trúc khớp, gây biến dạng  
khớp, mất chức năng và có nguy cơ tàn  
phế cao. Ngoài ra, BN còn có thể có biểu  
hiện toàn thân nặng. Bệnh cần được điều  
trị sớm để ngăn ngừa nguy cơ tàn phế.  
Cơ chế bệnh sinh của VKDT có liên quan  
đến các yếu tố di truyền, môi trường và  
tình trạng rối loạn miễn dịch với vai trò  
quan trọng của tế bào lympho B, T và các  
cytokine. Sự m ất cân b ằng giữa các  
cytokine gây viêm và cytokine có vai trò  
quan trọng dẫn đến tình trạng viêm khớp  
trong bệnh VKDT [7]. Các cytokine có vai  
trò quan trọng trong VKDT bao gồm yếu  
tố hoại tử u (tumor necrotic factor, TNF-α)  
và interleukine-6 (IL-6). Trong khi đó, IL-  
10 là một cytokine quan trọng trong các  
cytokine chống viêm có vai trò trong bệnh  
sinh VKDT [7, 11].  
Đã có nhiều nghiên cứu về IL-6, IL-10  
và TNF-α ở BN VKDT, song cho các kết  
quả rất khác nhau. Tại Việt Nam, nghiên  
cứu về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Do  
vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu về  
các cytokine viêm ở BN VKDT điều trị tại  
Bệnh viện Chợ R ẫy nhằm: 1) Khảo sát  
nồng độ và t ỷ lệ BN VKDT có t ăng IL-6,  
IL-6 được tìm thấy nhiều nhất trong  
dịch khớp và là nguyên nhân chính gây ra  
các triệu chứng toàn thân cũng như t ại  
63  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
IL-10 và TNF-α huyết thanh. 2) Đánh giá  
mối tương quan giữa nồng độ IL-6, IL-10  
và TNF-α với một số yếu tố lâm sàng và  
cận lâm sàng khác liên quan đến hoạt  
động bệnh VKDT.  
Thời gian nghiên cứu: 6/2015 - 10/2019.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
* Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.  
Bệnh nhân được đánh giá các đặc  
điểm lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm:  
Số khớp đau 28 (SKĐ28), số khớp sưng  
28 (SKS28), đánh giá chung của BN v ề  
mức độ bệnh (patient global assessment  
trên thang điểm VAS), tốc độ máu lắng  
(VS), CRP, chỉ s ố DAS28-VS, chỉ s ố  
DAS28-CRP, các liệu pháp điều trị trước  
nhập viện và định lượng nồng độ các  
cytokine bao gồm IL-6, IL-10 và TNF-α  
huyết thanh. Xét nghiệm định lượng nồng  
độ các cytokine được thực hiện bằng  
phương pháp định lượng bằng công nghệ  
biochips, phát hóa - quang miễn dịch  
(máy Randox). Tất cả các xét nghiệm  
được thực hiện tại Khoa Sinh hóa, Bệnh  
viện Chợ Rẫy.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu thu nhận 129 BN bao gồm  
14 nam và 115 nữ. Nghiên cứu loại trừ  
những BN có các b ệnh lý viêm khác có  
thể ảnh hưởng tới nồng độ cytokine (bao  
gồm các bệnh lý nhiễm trùng, các bệnh lý  
gây viêm toàn thân hoặc khu trú mà  
không phải VKDT).  
* Tiêu chuẩn chọn mẫu: BN ≥ 18 tuổi,  
không phân biệt giới tính được chẩn đoán  
xác định VKDT theo tiêu chuẩn ACR 1987  
[4] của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ, điều  
trị tại Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện  
Chợ Rẫy và đồng ý tham gia nghiên cứu.  
* Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS  
20.0.  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Đặc điểm lâm sàng, c ận lâm sàng và nồng độ cytokine huyết thanh của  
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp  
Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm BN nghiên cứu.  
Chỉ tiêu  
Số lượng BN (n)  
X
̅
SD  
Trung vị [tứ phân vị]  
56,00 [49,00 - 62, 00]  
3,00 [1,00 - 8,00]  
Tuổi đời  
129  
129  
129  
66  
54,84 11,38  
5,50 6,71  
Thời gian mắc bệnh (năm)  
Tuổi khởi phát bệnh (năm)  
Liều methylprednisolone (mg/ngày)  
Thời gian dùng corticoid (tháng)  
Liều MTX (mg/tuần)  
49,38 13,13  
7,42 4,54  
50,00 [41,00 - 58,00]  
8,00 [4,00 - 8,00]  
66  
37,80 52,24  
13,98 3,34  
23,73 35,86  
12,00 [6,00 - 51,00]  
12,50 [12,50 -15,00]  
8,50 [2,20 - 24,00]  
80  
Thời gian dùng MTX (tháng)  
80  
X̅ : Trung bình; SD: Độ lệch chuẩn  
64  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
Tuổi BN và tu ổi khởi phát bệnh trung bình và trung vị đều trong độ tuổi trung niên  
(40 - 60 tuổi). Có 51,16% BN đang dùng corticoid với liều trung bình tương đương  
methylprednisolon là 7,42 4,54 và 62,02% BN đang dùng MTX với liều trung bình  
13,98 3,34.  
Bảng 2: Giá trị các chỉ số đánh giá tình trạng hoạt động bệnh.  
Số lượng BN  
Trung vị  
Chỉ tiêu  
SKĐ28  
X
̅
SD  
(n)  
[ tứ phân vị]  
129  
129  
127  
127  
128  
128  
13,37 8,35  
4,86 4,50  
13,00 [6,00 - 19,50]  
3,00 [2,00 - 7,50]  
54,00 [25,00 - 96,00]  
5,99 [5,01- 6,90]  
SKS28  
VS (mm/h)  
DAS28-VS  
CRP (mg/l)  
DAS28-CRP  
61,67 37,60  
5,87 1,36  
68,56 69,81  
5,48 1,23  
52,20 [19,80 - 87,80]  
5,50 [4,70 - 6,40]  
Các chỉ số đánh giá tình trạng hoạt động bệnh bao gồm SKĐ28, SKS28, VS, CRP  
và DAS28 cho thấy tình trạng hoạt động của bệnh là tương đối cao. Giá trị trung bình  
của các chỉ s ố này là SKĐ28 = 13,37; SKS28 = 4,86; VS = 61,67; CRP = 68,56;  
DAS28-VS = 5,87; DAS28-CRP = 5,48.  
Bảng 3: Phân bố BN theo mức độ dương tính của các kháng thể.  
Kết quả xét nghiệm  
RF (%)  
15,2  
anti-CCP (%)  
Âm tính  
20,1  
8,9  
71  
Dương tính thấp (< 3 lần giới hạn trên bình thường)  
Dương tính cao (≥ 3 lần giới hạn trên bình thường)  
21,6  
63,2  
Tỷ lệ BN có nồng độ kháng thể dương tính cao chiếm tỷ lệ khá cao (63,2% đối với  
RF và 71% đối với anti-CCP).  
Bảng 4: Nồng độ và tỷ lệ gia tăng các cytokine trong huyết thanh.  
Nồng độ cytokine  
Trị số  
Trung vị  
Tỷ lệ tăng  
X̅  
SD  
(pg/ml)  
bình thường  
[tứ phân vị]  
n (%)  
IL-6  
< 1,23  
< 1,90  
< 11,00  
29,59 40,36  
22,86 52,12  
29,53 71,54  
13,52 [4,57 - 37,03]  
4,74 [2,47 - 20,46]  
8,44 [3,88 - 22,90]  
122 (94,57)  
104 (80,62)  
56 (43,41)  
IL-10  
TNF-α  
Nồng độ của IL-6, IL-10 và TNF-α đều tăng cao trong bệnh VKDT với tỷ lệ tăng lần  
lượt là 94,57%, 80,62% và 43,41%.  
65  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
2. Mối tương quan giữa nồng độ cytokine huyết thanh và các yếu tố lâm sàng  
và cận lâm sàng khác  
Bảng 5: Mối tương quan giữa nồng độ cytokine và tình trạng hoạt động bệnh.  
Cytokine (n = 129)  
SKĐ28 SKS28  
VS  
0,116  
0,191  
127  
CRP  
0,053  
0,552  
128  
DAS28-VS  
0,189*  
0,032  
127  
DAS28-CRP  
0,135  
0,128  
128  
r
0,150  
0,090  
129  
0,169  
0,055  
129  
IL-6  
IL-10  
TNF-α  
p
N
r
0,185*  
0,036  
129  
0,155  
0,08  
0,266**  
0,003  
127  
0,273**  
0,002  
128  
0,227**  
0,002  
127  
0,235*  
0,008  
128  
p
N
r
129  
0,157  
0,075  
129  
0,169  
0,056  
129  
0,213*  
0,015  
127  
0,124  
0,162  
128  
0,157  
0,075  
127  
0,144  
0,103  
128  
p
N
n: Số lượng BN; r: Hệ số tương quan Spearman’s; *: p < 0,05; **: p < 0,01  
IL-6 có mối tương quan thuận với DAS28VS (r = 0,189; p = 0,032). IL-10 có mối  
tương quan với SKĐ28 (r = 0,185; p = 0,036), VS (r = 0,266; p = 0,003), CRP (r = 0,273;  
p = 0,002), DAS28-VS (r = 0,227; p = 0,002), DAS28-CRP (r = 0,235; p = 0,008).  
TNF-α có mối tương quan thuận với VS (r = 0,213; p = 0,015). Tất cả các hệ số tương  
quan này đều ở mức ít đến vừa (r < 0,4).  
Bảng 6: Mối tương quan giữa nồng độ cytokine huyết thanh và nồng độ kháng thể  
BN VKDT.  
IL-6  
-0,029  
0,744  
0,033  
0,716  
IL-10  
0,471**  
0,000  
0,227*  
0,011  
TNF-α  
0,469**  
0,000  
r
p
r
RF  
(n = 125)  
0,266**  
0,003  
Anti-CCP  
(n = 124)  
p
r: Hệ số tương quan Spearman’s*: p < 0,05; **: p < 0,01  
Nồng độ IL-10 tương quan thuận với RF (r = 0,471; p = 0,000) và anti-CCP (r = 0,227;  
p = 0,011). TNF-α t ương quan thuận với RF (r = 0,469; p = 0,000) và anti-CCP  
(r = 0,266; p = 0,003). Không có mối quan hệ giữa nồng độ IL-6, nồng độ RF và  
anti-CCP.  
66  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
BÀN LUẬN  
tăng của các cytokine và hoạt động bệnh  
của bệnh VKDT cần phải được nghiên  
cứu thêm. Khi so sánh về giá tr ị c ụ thể  
của nồng độ IL-6, IL-10 và TNF -α trong  
nghiên cứu của chúng tôi với một số tác  
giả trong và ngoài nước cho kết quả rất  
khác nhau [1, 3, 5, 8]. Điều này cho thấy  
nồng độ các cytokine có thể thay đổi rất  
nhiều ở các đối tượng, các trung tâm xét  
nghiệm khác nhau. Việc đánh giá nồng độ  
các cytokine cần được kết hợp với nhiều  
yếu tố khác.  
Tương tự đặc điểm về tuổi và giới  
được ghi trong y v ăn [11], nhóm bệnh  
nhân VKDT trong nghiên cứu đa số là nữ,  
tuổi mắc bệnh chủ yếu là 40 - 50 tuổi. Chỉ  
số DAS28-VS và DAS28-CRP có giá trị  
trung bình là 5,87 1,36 và 5,48 1,23.  
Tỷ lệ BN có mức độ hoạt tính bệnh cao là  
72% đối với DAS28VS và 63,6% đối với  
DAS28CRP. Tỷ lệ này khá cao và có thể  
giải thích là do các BN trong nghiên cứu  
này chủ y ếu là BN n ội trú, nhập viện vì  
tình trạng tiến triển của bệnh.  
Trong bệnh VKDT, tình trạng tiến triển  
của bệnh liên quan đến tình trạng rối loạn  
phản ứng miễn dịch với sự gia tăng của  
các cytokine và các thành phần miễn dịch  
khác. Tuy nhiên, mối tương quan giữa  
nồng độ m ột số cytokine và hoạt động  
bệnh vẫn còn nhiều điều bàn cãi. Theo  
kết quả nghiên cứu của chúng tôi, IL-6 có  
mối tương quan thuận với DAS28-VS;  
IL-10 có mối tương quan thuận với SKĐ28,  
VS, CRP, DAS28-VS, DAS28-CRP;  
TNF-α có m ối tương quan thuận với VS  
(bảng 5). Như v ậy, kết quả nghiên cứu  
của chúng tôi cho thấy nồng độ IL-6 phản  
ánh được một phần tình trạng hoạt động  
bệnh khi có mối tương quan yếu với  
DAS28VS (r = 0,189; p = 0,032). TNF-α  
dường như không phản ánh được tình  
trạng hoạt động bệnh khi chỉ có mối  
tương quan yếu với VS. IL-10 phản ánh  
rõ hơn hoạt động bệnh khi có mối tương  
quan với SKĐ28, VS, CRP, DAS28-VS,  
DAS28-CRP. Kết quả này có một số điểm  
khác so với kết quả của các tác giả khác.  
Tác giả Nguyễn Huy Thông cho thấy  
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lý tự  
miễn gây viêm mạn tính màng hoạt dịch  
với vai trò rất quan trọng của các  
cytokine. Nồng độ c ủa các cytokine này  
đã được nghiên cứu nhiều trong dịch  
khớp cũng như trong huyết thanh của các  
BN VKDT với các kết quả khác nhau.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ  
IL-6, IL-10 và TNF-α lần lượt là 29,59  
40,36; 22,86 52,12 và 29,53 71,54  
(pg/ml). Tỷ lệ tăng của IL-6, IL-10 và TNF-  
α lần lượt là 94,57%, 80,62% và 43,41%.  
Tác giả Lưu Văn Ái nghiên cứu trên nhóm  
BN VKDT với chỉ s ố DAS28 = 7,175  
0,892 (cao hơn đối tượng nghiên cứu  
này) có tỷ lệ tăng của IL-6, IL-10 và TNF-  
α lần lượt là 100%, 81,6% và 61,8% (cao  
hơn so với nghiên cứu này) [1]. Tác giả  
Nguyễn Huy Thông nghiên cứu trên nhóm  
BN VKDT với chỉ số DAS28-CRP = 6,19  
1,36 (cao hơn đối tượng nghiên cứu  
này nhưng lại cho tỷ lệ tăng của IL-6 và  
TNF-α thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi  
là 46,3% và 20,7%) [3]. Do đó, nồng độ  
một số cytokine có th ể t ăng trên BN không mối liên quan giữa nồng độ IL-6 và  
VKDT nhưng mối liên quan giữa tỷ l ệ TNF-α với các chỉ số đánh giá hoạt động  
67  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
bệnh [3]. Theo Madhok, IL-6 có mối liên Theo Goldbergova, nồng độ c ủa TNF-α  
tương quan với cả RF (r = 0,245; p = 0,02)  
và anti-CCP (r = 0,2; p = 0,02); nồng độ  
của IL-6 chỉ t ương quan với anti-CCP  
(r = 0,4149; p < 0,001), nồng độ của IL-10  
cũng chỉ t ương quan với anti-CCP  
(r = 0,1789; p = 0,03) [10]. Trên thực tế  
cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu  
đánh giá mối tương quan giữa nồng độ  
các cytokine và các kháng thể. Đây chỉ là  
một nghiên cứu cơ bản của chúng tôi và  
vấn đề này cần phải được nghiên cứu thêm.  
quan chặt chẽ với chỉ số Richie (r = 0,3;  
p = 0,01) [6]. Theo Pavkova Goldbergova,  
nồng độ IL-6 có liên quan đến DAS28  
(r = 5,05; p < 0,001) [10]. Tuy nhiên, tác  
giả này lại kết luận không có mối liên  
quan giữa nồng độ c ủa IL-10 và TNF-α  
với DAS28. Tương tự, tác giả Do Prado  
nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ  
IL-6, IL-10 và TNF-α cho thấy chỉ có nồng  
độ IL-6 huyết thanh tương quan thuận với  
DAS28-VS, DAS28-CRP, VS, CRP và  
SKS28 [13]. Trong khi đó, tác giả Meyer  
lại cho thấy nồng độ của các cytokine IL-6,  
IL-10 và TNF-α cao h ơn ở nhóm BN  
VKDT có hoạt động bệnh cao so với nhóm  
có hoạt động bệnh trung bình [8]. Tác giả  
Xia kết luận rằng cả ba cytokine IL-6,  
IL-10 và TNF-α có tương quan với DAS28  
[12]. Như vậy, các kết quả này cho thấy  
nồng độ m ột số cytokine bao gồm IL-6,  
IL-10 và TNF-α có thể có liên quan đến  
hoạt động bệnh của BN VKDT nh ưng  
điều này vẫn cần được nghiên cứu thêm.  
KẾT LUẬN  
Qua nghiên cứu cắt ngang trên 129 BN  
VKDT (115 nữ và 14 nam, tuổi trung bình  
54,84 11,38) chúng tôi ghi nhận những  
kết quả chính sau:  
1. Nồng độ trung bình và trung vị của  
IL-6 (pg/ml) là 29,59  
40,36 và 13,52  
[4,75 - 37,03]. Nồng độ trung bình và  
trung vị của IL-10 (pg/ml) là 22,86 52,12  
và 4,74 [2,47 - 20,46]. Nồng độ trung bình  
và trung vị của TNF-α (pg/ml) là 29,53  
71,54 và 8,44 [3,88 - 22,90]. Tỷ lệ BN có  
tăng IL-6, IL-10 và TNF-α l ần lượt là  
94,57%; 80,62% và 43,41%.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng  
độ IL-10 và TNF-α có mối tương quan với  
cả RF và anti CCP trong khi nồng độ IL-6  
không có mối tương quan này (bảng 6).  
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hiền cũng  
cho thấy không có mối tương quan giữa  
IL-6 và anti-CCP [2]. Tuy nhiên kết quả  
của Meyer cho thấy cả ba cytokine này  
đều có mối tương quan với các kháng  
thể. IL-6 tương quan với RF (r = 0,3970;  
p = 0,0043) và anti-CCP (r = 0,434;  
p = 0,0016). IL-10 tương quan với RF  
(r = 0,4339; p = 0,0016) và anti-CCP  
(r = 0,3450; p = 0,0142). TNF-α t ương  
quan với RF (r = 0,5667; p = 0,0000) và  
anti-CCP (r = 0,4120; p = 0,0029) [8].  
2. IL-6 có mối tương quan với DAS28-VS  
(r = 0,189; p = 0,032). IL-10 có mối tương  
quan với SKĐ28 (r = 0,185; p = 0,036),  
VS (r = 0,266; p = 0,003), CRP (r = 0,273;  
p = 0,002), DAS28-VS (r = 0,227;  
p = 0,002), DAS28-CRP (r = 0,235;  
p = 0,008), RF (r = 0,471; p = 0,000) và  
anti-CCP (r = 0,227; p = 0,011). TNF-α  
có mối tương quan với VS (r = 0,213;  
p = 0,015), VKDT (r = 0,469; p = 0,000)  
và anti-CCP (r = 0,266; p = 0,003). Không  
có mối tương quan giữa nồng độ IL-6 với  
nồng độ RF và anti-CCP.  
68  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
7. Mateen S, Zafar A, Moin S, et al.  
Understanding the role of cytokines in the  
pathogenesis of rheumatoid arthritis. Clin  
Chim Acta 2016; 455:161-171.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lưu Văn Ái, Võ Tam. Khảo sát đặc điểm  
lâm sàng, nồng độ tự kháng thể và cytokine  
trên BN viêm khớp dạng thấp. T ạp chí Y  
Dược học - Tr ường Đại học Y Dược Huế  
2015; 24:86-91.  
8. Meyer PW, Hodkinson B, Ally M, et al.  
Circulating cytokine profiles and their relationshpi s  
with autoantibodies, acute phase reactants,  
and disease activity in patients with rheumatoid  
arthritis. Mediators Inflamm 2010; 2010:158514.  
2. Nguyễn Minh Hiền, Đào Quang Minh,  
Trần Thanh Tú. Giá trị của anti-ccp, procalcitonin,  
interleukin-6 trong huyết tương ở BN viêm khớp  
dạng thấp. Tạp chí Y học Lâm sàng 2018.  
9. Narazaki M, Tanaka T, Kishimoto T. The  
role and therapeutic targeting of IL-6 in  
rheumatoid arthritis. Expert Rev Clin Immunol  
2017; 13(6):535-551.  
3. Nguyễn Huy Thông. Nghiên cứu nồng  
độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh ở BN  
viêm khớp dạng thấp. Luận án Tiến sĩ. Học  
viện Quân y 2018.  
10. Pavkova Goldbergova M, Pavek N,  
Lipkova J, et al. Circulating cytokine pattern  
and factors describing rheumatoid arthritis:  
IL-15 as one of the biomarkers for RA?  
Biomarkers 2012; 17(7):655-662.  
4. Arnett FC, Edworthy SM, Bloch DA, et  
al. The American Rheumatism Association  
1987 revised criteria for the classification of  
rheumatoid arthritis. Arthritis Rheum 1988;  
31(3):315-324.  
11. Smolen JS, Aletaha D, Barton A, et al.  
Rheumatoid arthritis. Nat Rev Dis Primers  
2018; 4:18001.  
5. Kokkonen H, Soderstrom I, Rocklov J, et  
al. Up-regulation of cytokines and chemokines  
predates the onset of rheumatoid arthritis.  
Arthritis Rheum 2010; 62(2):383-391.  
12. Xia T, Zheng XF, Qian BH, et al.  
Plasma Interleukin-37 is elevated in patients  
with rheumatoid arthritis: Its correlation with  
disease activity and Th1/Th2/Th17-Related  
Cytokines. Dis Markers 2015: 795043.  
6. Madhok R, Crilly A, Watson J, et al.  
Serum interleukin 6 levels in rheumatoid  
arthritis: correlations with clinical and laboratory  
indices of disease activity. Ann Rheum Dis  
1993; 52(3):232-234.  
13. Do Prado AD, Bisi MC, Piovesan DM,  
et al. Ultrasound power Doppler synovitis is  
associated with plasma IL-6 in established  
rheumatoid arthritis. Cytokine 2016; 83:27-32.  
69  
pdf 8 trang yennguyen 22400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa nồng độ IL-6, IL-10 và TNF-α huyết thanh với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_giua_nong_do_il_6_il_10_va_tnf_huyet_thanh_vo.pdf