Đánh giá các phương pháp đo lường độ trễ thị giác của não người

Nguyễn Trọng Kiên  
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO  
LƯỜNG ĐỘ TRỄ THỊ GIÁ C CỦA NàO  
NGƯỜI  
Nguyễn Trọng Kiên  
Học viện Cô ng nghệ Bưu chính Viễn thô ng  
Tuy nhiên, trong hệ thống thị giác não người, việc độ  
trễ thị giác vẫn còn chưa được xác định rõ ràng. Do đó,  
nó rất quan trọng để khám khá rằng thời gian di chuyển  
của một tín hiệu nhận được từ võng mạc thị giác đến  
vùng não người là bao lâu. Hay nói cách khác, một  
phương pháp để đo lường thời gian trễ thị giác là rất quan  
trọng. Những nghiên cứu trước đây đã thực hiện đo lường  
độ trễ thị giác bằng điện thế gợi thị giác ổn định (Steady-  
state visually evoked potentials, SSVEPs) [3]–[13]. Điện  
thế gợi thị giác ổn định được tạo ra từ một kích thích thị  
giác có tính điều hòa, liên tục tại một tần số nhất định. Do  
đó, Điện thế gợi thị giác ổn định là một công cụ ổn định  
và định lượng đáng tín cậy cho việc khám phá các chức  
năng của hệ thống thị giác con người như sự thay đổi về  
biên độ hay lệch pha của tín hiệu phát và tín hiệu nhận  
được. Mặc dù phổ biên bộ của tín hiệu gợi điện thế thị  
giác ổn định có thể đặt được dễ dàng bằng cách phân tích  
phổ truyển thống như biến đổi Fourier, thì việc đo lường  
độ trễ thị giác vẫn còn nhiều thử thách. Đó là vì nó gần  
như không thể đo độ trễ thị giác từ tín hiệu điện thế ổn  
định được gợi lên bởi một tần số kích thích thị giác điều  
hòa. Vì chúng ta không biết được đã có bao nhiêu chu kỳ  
pha xảy ra trong tín hiệu thu được (điện thế gợi điện áp  
ổn định) so với tín hiệu phát kích thích thị giác. Để vượt  
qua khó khăn này, những nghiên cứu trước đây đã cố  
gắng sử dụng đường dốc pha của đáp ứng so với nhiều  
tần số kích thích [3]. Để vẽ độ dốc này, các đáp ứng pha  
của mỗi tần số kích thích được tính bởi biến đổi Fourier  
và được sắp xếp theo thứ tự của tần số kích thích. Tuy  
nhiên phương pháp này phải dựa trên giả định của mối  
quan hệ tuyến tính giữa tần số và pha đáp ứng và kết quả  
chỉ cho ‘độ trễ tương đối’. Do đó nó hoàn toàn không phù  
hợp để áp dụng lên hệ thống điện sinh học của hệ thống  
thị giác khi hệ thống thị giác là phi tuyến và đã chỉ ra ba  
phạm vi đường cong khác nhau của tần số đáp ứng trong  
điện thế gợi thị giác ổn định (Đó là, dưới 15 Hz, từ 15  
đến 25 Hz, và từ 25 đến 60 Hz). Vậy nên một phương  
pháp mới là rất cần thiết. Như một sự cố gắng để giải  
quyết khó khăn này, một nghiên cứu gần đây của nhóm  
tác giả Nguyen et al năm 2019 đã phát triển một phương  
pháp mới để đo lường độ trễ thị giác của não người bằng  
cách sử dụng một kích thích thị giác điều chế biên độ, là  
kích thích chứa tần số sóng mang và tần số đường bao  
[14]. Tín hiệu kích thích thị giác điều chế biên độ này  
cũng đã gợi điện thế thị giác ổn định có chứa hai thành  
phần sóng, là đường bao và sóng mang. Một điểm đáng  
chú ý của nghiên cứu này là họ chỉ trích xuất đường bao  
của tín hiệu đáp ứng và sau đó so sánh với đường bao của  
Tóm tắt: Độ trễ thị giác của con người đóng một vai  
trò quan trọng để hiểu được các chức năng thị giác cơ  
bản, cụ thể là sự phát triển thị giác và cho đánh giá điều  
trị y tế. Tuy nhiên việc đo độ trễ thị giác từ tín hiệu điện  
thế gợi thị giác ổn định (Steady state visually evoked  
potentials, SSVEPs) rất khó khi chúng ta không biết đã  
có bao nhiêu chu kỳ pha xảy ra trước đó trong tín hiệu  
gợi điện thế điện áp ổn định thu được so với tín hiệu kích  
thích thị giác. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu  
gần đây đã đề xuất một phương pháp sử dụng đường bao  
của tín hiệu và đường bao này được trích xuất từ phương  
pháp giải điều chế phức (Complex Demodulation) để đo  
lường độ trễ thị giác từ tín hiệu gợi điện thế ổn định  
(SSVEPs) sinh ra do một kích thích điều chế biên độ.  
Trong nỗ lực cung cấp một phương pháp thay thế để đo  
lường độ trễ thị giác, nghiên cứu này đã sử dụng biến đổi  
Hilbert để trích xuất các đường bao dung để đo độ trễ thị  
giác và đánh giá hiệu năng của phương pháp này so với  
phương pháp giải điều chế phức.  
Từ khóa: Điện thế gợi thị giác ổn định, kích thích điều  
chế biên độ, phương pháp giải điều chế phức, biến đổi  
Hilbert, độ trễ đáp ứng thị giác  
I. GIỚI THIỆU  
Mạng lưới thần kinh não của chúng ta là một hệ thống  
có tổ chức và phức tạp bao gồm nhiều đường truyền thông  
tin từ võng mạc thị giác đến các vùng não sơ cấp và thứ  
cấp. Các sợi thần kinh và đường dẫn truyền điện thế này  
khác nhau về tốc độ cho thấy sự khác biệt về mặt giải  
phẫu và sinh lý giữa các mạng lưới thần kinh. Khi một tín  
hiệu thị giác được truyền đến các tế bào hạch võng mạc  
(retinal ganglion cells), nó tiếp tục đi đến vỏ não thị giác  
thông qua nhân gối ngoài (lateral geniculate nucleus) nằm  
trong đồi não (thalamus) [1], [2].  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Trọng Kiên,  
Đến tòa soạn: 9/2020, chỉnh sửa: 11/2020, chấp nhận đăng: 11/2020  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
11  
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG ĐỘ TRỄ THỊ GIÁC CỦA NÃO NGƯỜI  
tín hiệu kích thích để đo độ trễ kích thích. Phương pháp  
này đã thành công trong việc sử dụng đường bao để đo  
lường độ trễ thị giác một cách chính xác. Mặc dù vậy,  
trong nghiên cứu trước đây, tác giả chỉ mới sử dụng một  
phương pháp giải điều chế phức (Complex  
Demodulation) để trích xuất tín hiệu đường bao. Do đó,  
để tiếp tục với nghiên cứu trước, nghiên cứu hiện tại tiếp  
tục cố gắng đề xuất một phương pháp trích xuất đường  
bao khác để tính độ trễ thị giác. Phương pháp được đề  
xuất ở đây là biến đổi Hilbert. Tín hiệu mô phỏng và tín  
hiệu điện thế gợi thị giác ổn định thực tế được sử dụng để  
đánh giá hiệu năng đo lường độ trễ sử dụng biến đổi  
Hilbert và sau đó so sánh hiệu năng với phương pháp giải  
điều chế phức. Hình 1 minh họa giải thuật được sử dụng  
để tín độ trễ thị giác sử dụng hai phương pháp trích  
đường bao này.  
Kể từ khi tần số điều chế (hay tần số đường bao) cần  
tách là nhỏ hơn nhiều tần số sóng mang của kích thích thị  
giác, vì vậy một bộ lọc thông thấp Butterworth bậc 3  
(không dịch pha) với tần số cắt tại 3Hz được sử dụng để  
giữ lại thành phần đường bao (đó là tại 2Hz) trong khi loại  
các thành phần tần số cao không cần thiết và thành phần  
nhiễu. Khi đó, ta tách được thành phần đường A(t) như  
trong biểu thức (4):  
(4)  
A(t) = 2 E filter (t)  
Với Efilter là tín hiệu được giải điều chế của tín hiệu  
điện thế gợi thị giác ổn định.  
B. Tách đường bao bằng phương pháp biến đổi Hilbert:  
Để tách đường bao của một tín hiệu sử dụng biến đổi  
Hilbert, tín hiệu gốc trước tiên cần được đưa qua bộ  
lọc thông dải (từ 11 Hz đến 17 Hz, bộ lọc Butterworth  
bậc 3 không dịch pha) để lọc được tín hiệu có tần số  
trung tâm tại 14 Hz. Biến đổi Hilbert sau đó được áp  
dụng trên tín hiệu đã được lọc và có công thức (5) như  
sau:  
Cấu trúc của bài báo này như sau: phần II mô tả lý  
thuyết của hai thuật toán tách đường bao; phần III trình  
bày các kết quả thu được từ dữ liệu mô phỏng và dữ liệu  
thí nghiệm thực tế, Phần IV là kết luận.  
II. ĐỊNH LƯỢNG ĐỘ TRỄ DỰA TRÊN ĐƯỜNG  
BAO  
+  
Mặc dù nhiều bài báo trước đây đã sử dụng giải điều  
chế phức (complex demodulation) trong tín hiệu điện não  
để tách đường bao trong các thí nghiệm phân biệt sự tập  
trung của não người [15]–[18]. Tuy nhiên, một nghiên  
cứu gần đây đã đề xuất phương pháp này để đo lường dộ  
trễ thị giác dựa trên so sánh pha giữa đường bao tín hiệu  
đáp ứng với đường bao của tín hiệu phát kích thích [14].  
Giả sử ta có dạng công thức (1) của tín hiệu điện thế gợi  
thị giác ổn định với tần số song mang là ω, được biểu  
diễn như sau:  
(5)  
x
()  
−t  
1
H[xfilter (t)] = PV  
filter  
d  
−  
Với PV là giá trị chính của Cô-si (Cauchy Principal  
Value). Tín hiệu phân tích phức (complex analytic  
signal) x*(t) đạt được bằng phép cộng của thành phần  
thực (đó là tín hiệu điện thế gợi thị giác ổn định được  
lọc tại 14 Hz) và thành phần ảo (đó là biến đổi Hilbert  
của tín hiệu điện thế gợi thị giác ổn định được lọc).  
Lúc này, tín hiệu phân tích phức x*(t) có thể được  
biểu diễn như công thức (6):  
(1)  
S(t) = A(t)cos(2fct +(t))+ N(t)  
x*(t) = xfilter (t) +iH[xfilter (t)] = A(t)ei(t)  
(6)  
Với t là thời gian tức thời của kích thích, A(t), φ(t) và N(t)  
biểu diễn cho sự thay đổi theo thời gian của biên độ, pha  
và nhiễu tương ứng.  
A(t) = x (t)2 + H[x (t)2  
Với  
thường là tín hiệu đường  
bpf  
bpf  
bao hay tần số điều chế biên độ.  
A. Phương pháp giải điều chế phức (complex  
demodulation):  
C. Đánh giá độ trễ từ đường bao đã tách được:  
Công thức (1) được biểu diễn theo hàm mũ phức, ta được  
công thức (2) như sau:  
Bốn bước chính được thực hiện để tính độ trễ từ  
đường bao như được minh họa trong hình 1 là:  
1. Tách các đường bao của tín hiệu kích thích và tín  
hiệu đáp ứng sử dụng giải điều chế phức  
(Complex Demodulation) và biến đổi Hilbert.  
(2)  
1
E(t) = A(t) ei{t+(t)} +e−i{t+(t)}  
2
+ N(t)  
2. Một bộ lọc thông dải không dịch pha Butterworth  
bậc 3 (tần số cắt từ 1 Hz đến 3 Hz) được áp dụng  
trên các đường bao này để trích xuất tín hiệu  
đường bao được lọc tại 2 Hz.  
–
Sau đó, công thức (2) được nhân với hàm mũ phức (e  
i2πft), ta thu được công thức (3) như sau:  
(3)  
E(t) = E(t)e−it  
3. Để lấy pha tức thời từ các đường bao của tín hiệu  
kích thích (φenv_photo) và tín hiệu điện thế gợi thị  
giác ổn định (φenv_ssvep), ta áp dụng biến đổi  
Hilbert.  
1
=
A(t) ei(t) + e−i{2t+(t)}  
2
+ N(t)e−it  
4. Sau khi đạt được pha tức thời, độ trễ được tính  
theo công thức (7) như sau trong đó tần số fenv có  
giá trị bằng 2 Hz:  
Bằng cách nhân với hàm mũ phức trong công thức (3),  
tần số toàn phở sẽ bị dịch ω về gốc không của phổ tần số.  
Kết quả từ phép nhân này là một véc tơ.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
12  
Nguyễn Trọng Kiên  
(7)  
gần với độ trễ lí thuyết 100ms và có thể so sánh với  
kết quả được ở trường hợp 1.  
1000difference  
2fenv  
Timelag =  
Hì nh 2. Độ trễ đo được từ đường bao của tí n hiệu  
khô ng nhiễu  
Hì nh 1. Lưu đồ thuật toá n  
III. KẾT QUẢ  
A. Các kết quả mô phỏng  
Phần trước đã giới thiệu hai phương pháp để tách các  
đường bao. Các đường bao được tách này sau đó  
được sử dụng để tính độ trễ. Để đánh giá sự hiệu quả  
các phương pháp này trong việc đo độ trễ, trong phần  
này, chúng tôi đã sử dụng các tín hiệu mô phỏng  
trong ba trường hợp chính sau  
Trường hợp 1:  
Tín hiệu phát S (đường màu đen) được tạo ra bởi  
phép nhân của hai tín hiệu điều hòa, mà trong đó tín  
hiệu sóng mang là 14 Hz và tín hiệu điều chế là 1 Hz.  
Cần lưu ý rằng đường bao của tín hiệu này có tần số  
gấp đôi tín hiệu điều chế (đó là, fenv = 2*f1 = 2 Hz).  
Trong trường hợp này, tín hiệu đáp ứng R (đường  
màu đỏ) được tạo ra với độ trễ lí thuyết 100ms và  
không thêm nhiễu. Các đường bao của tín hiệu phát  
và đáp ứng được tách ra sử dụng hai phương pháp đã  
đề xuất. Đó là giải điều chế phức (complex  
demodulation) và biến đổi Hilbert. Kết quả từ hình 2  
chỉ ra rằng độ trễ ước tính từ hai phương pháp (giải  
điều chế phức với 99.6ms và biến đổi Hilbert với 99.3  
ms) là rất gần với độ trễ lí thuyết được tạo ra, điều  
này cho thấy hiệu năng của cả hai phương pháp đạt  
được là rất cao mặc dù hiệu năng từ biến đổi Hilbert  
kém hơn hiệu năng của phương pháp giải điều chế  
phức một chút.  
Hì nh 3. Độ trễ đo được từ đường bao của tín hiệu  
nhiễu mạnh  
Trường hợp 3:  
Các phương pháp này sau đó được kiểm chứng bằng  
các tín hiệu, giống với trường hợp 1 và 2, nhưng có  
độ trễ khác nhau từ 100 ms tới 180 ms với mỗi bước  
trễ cách nhau 20ms (Hình 4). Bảng 1 tóm tắt kết quả  
đạt được và chỉ ra rằng các phương pháp cho độ chính  
xác cao cho việc đo độ trễ tại các bước trễ khác nhau  
trong trường hợp không nhiễu và cả nhiễu mạnh. Mặc  
dù độ chính xác có giảm đi trong trường hợp có nhiễu  
mạnh (tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu là -2 dB) so với trường  
hợp tín hiệu không nhiễu. Tuy nhiên các giá trị độ trễ  
đo được vẫn được duy trì gần với độ trễ lí thuyết. Cụ  
thể là trong trường hợp không nhiễu, sử dụng phương  
pháp giải điều chế phức tính độ trễ có mức chính xác  
trung bình là 99.36% còn độ chính xác của biến đổi  
Hilbert là 99.10%. Trong trường hợp nhiễu (SNR = -  
2), độ chính xác của phương pháp giải điều chế phức  
giảm xuống còn 97.55% trong khi độ chính xác của  
biến đổi Hilbert là 97.34%.  
Trường hợp 2:  
Tín hiệu mô phỏng giống với trường hợp 1 được lặp  
lại với việc thêm nhiễu (tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu là -2)  
vào tín hiệu đáp ứng. Kết quả được chỉ ra ở hình 3 đã  
minh họa rằng, mặc dù độ chính xác của độ trễ đo  
được trong hai trường hợp đã bị giảm đi, tuy nhiên  
những giá trị đo được với điều kiện nhiễu này vẫn rất  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
13  
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG ĐỘ TRỄ THỊ GIÁC CỦA NÃO NGƯỜI  
Trường hợp 4:  
Ba trường hợp ở trên đều đánh giá trên tín hiệu mô  
phỏng tuyến tính, do vậy ở trường hợp này hiệu năng  
của các phương pháp được đánh giá trên tín hiệu phi  
tuyến (Hình 5).  
Hì nh 4. Tín hiệu mô phỏng với các độ trễ khác nhau.  
Bá ng 1. Hiệu suất của hai phương pháp đo độ trễ với tín hiệu không nhiễu và nhiễu mạnh.  
Kết quả từ hình 5 cho thấy rằng độ trễ ước tính từ  
phương pháp giải điều chế phức là 99.03ms và biến  
đổi Hilbert là 98.67 ms. Kết quả này là rất gần với độ  
trễ lí thuyết được tạo ra ở 100ms, điều này cho thấy  
hiệu năng của cả hai phương pháp đạt được là rất cao  
mặc dù độ chính xác có giảm nhẹ so với trường hợp 1  
(đó là 99.6 ms và 99.3 ms tương ứng với phương  
pháp giải điều chế và biến đổi Hilbert).  
B. Kết quả từ thí nghiệm:  
Ở phần này, thay vì sử dụng tín hiệu mô phỏng, tín  
hiệu điện não đo được từ thí nghiệm người đang sử  
dụng điện thế gợi thị giác ổn định để phân tích và  
đánh giá khả năng tính độ trễ thị giác của các phương  
pháp đã đề xuất. Độ trễ thị giác được tính toán từ điện  
thế gợi thị giác ổn định từ một người thí nghiệm nhận  
kích thích thị giác điều chế biên độ (amplitude-  
modulated flicker) vào cả hai mắt và được đo tại kênh  
đo tại thùy chẩm sau (Oz channel, occipital lobe). Dữ  
liệu này được lấy từ dữ liệu gốc đã được báo cáo từ  
bài báo Nguyen et al., (2019). Cụ thể của thí nghiệm  
này như sau, những người làm thí nghiệm khỏe mạnh  
được yêu cầu nhìn vào hai ống phát quang có chiều  
dài 13 cm, mỗi mắt nhìn một ống trong vòng 2.5 giây.  
Hì nh 5. Độ trễ đo được từ đường bao của tí n hiệu phi  
tuyến khô ng nhiễu  
Mỗi ống sẽ có đèn LED trắng được bao bởi một cái  
hộp vuông 4x4 cm được đặt ở đáy ống để tạo một tầm  
nhìn thị giác lên đến 18.2 độ và độ sang trung bình  
lên đến 39.2 cd/m2. Hình 6, dưới chỉ ra kết quả đo  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
14  
Nguyễn Trọng Kiên  
điện thế gợi thị giác ổn định (SSVEPs) và các đường  
bao được tách ra từ hai phương pháp (màu xanh là từ  
phương pháp giải điều chế phức, màu đỏ là từ phương  
pháp biến đổi Hilbert). Vòng tròn phân bố pha và độ  
trễ thị giác giữa tín hiệu thu được và tín hiệu phát của  
hai tín hiệu được thể hiện gần giống nhau. Hai  
phương pháp đã thành công trong việc đo lường độ  
trễ thị giác dù có một chút khác nhau về giá trị độ trễ.  
(đó là 88ms cho phương pháp giải điều chế phúc và  
88.6 ms cho phương pháp biến đổi Hilbert). Từ các  
kết quả điện não và mô phỏng này, kết luận của  
nghiên cứu được tóm tắt trong phần tiếp theo.  
IV. KẾT LUẬN  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đề xuất một  
phương pháp biến đổi Hilbert như một phương pháp có  
khả năng thay thế phương pháp trước đây dung giải điều  
chế phức để tách đường bao, là thành phần rất quan trọng  
trong đo lường độ trễ thị giác. Nghiên cứu này đã đánh  
giá hiệu năng của phương pháp này so với phương pháp  
giải điều chế phức. Các kết quả từ thực nghiệm từ mô  
phỏng có điều khiển tham số  
cho tới tín hiệu điện não thu được dung phương pháp  
biến đổi Hilbert mặc dù có hiệu năng thấp hơn một chút  
so với phương pháp giải điều chế phức. Tuy nhiên, độ trễ  
được tính từ phương pháp này vẫn rất gần với độ trễ lí  
thuyết chỉ ra rằng đây là một công cụ đáng tin cậy trong  
việc đo lường độ trễ và ứng dụng trong y sinh.  
Hì nh 6. Độ trễ thị giác được đo từ điện thế gợi thị  
giá c ổn định từ một người làm thí nghiệm  
Prog. Neurobiol., vol. 90, no. 4, pp. 418–438, 2010,  
doi: 10.1016/j.pneurobio.2009.11.005.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[7]  
[8]  
A. M. Norcia, L. G. Appelbaum, J. M. Ales, B. R.  
Cottereau, and B. Rossion, “The steady-state visual  
evoked potential in vision research: A review,” J. Vis.,  
vol. 15, no. 6, p. 4, 2015.  
[1]  
[2]  
[3]  
W. H. Merigan and J. H. R. Maunsell, “How Parallel  
are the Primate Visual Pathways?,” Annu. Rev.  
Neurosci., vol. 16, no. 1, pp. 369–402, Mar. 1993, doi:  
10.1146/annurev.ne.16.030193.002101.  
B. Falsini and V. Porciatti, “The temporal frequency  
response function of pattern ERG and VEP: changes in  
R. Shapley and V. Hugh Perry, “Cat and monkey  
retinal ganglion cells and their visual functional roles,”  
Trends Neurosci., vol. 9, pp. 229–235, 1986, doi:  
optic  
neuritis,”  
Electroencephalogr.  
Clin.  
Neurophysiol. Potentials Sect., vol. 100, no. 5, pp.  
5597(96)95695-6.  
D. Regan, “Some characteristics of average steady-  
state and transient responses evoked by modulated  
light,” Electroencephalogr. Clin. Neurophysiol., vol.  
20, no. 3, pp. 238–248, 1966, doi: 10.1016/0013-  
4694(66)90088-5.  
[9]  
J. Lee, D. Birtles, J. Wattam-Bell, J. Atkinson, and O.  
Braddick, “Latency measures of pattern-reversal VEP  
in adults and infants: Different information from  
transient P1 response and steady-state phase,” Investig.  
Ophthalmol. Vis. Sci., vol. 53, no. 3, pp. 1306–1314,  
2012.  
[4]  
G. G. Celesia, “STEADY-STATE AND TRANSIENT  
VISUAL EVOKED POTENTIALS IN CLINICAL  
PRACTICE,” Ann. N. Y. Acad. Sci., vol. 338, no. 1, pp.  
[10]  
[11]  
M. C. Morrone, A. Fiorentini, and D. C. Burr,  
“Development of the temporal properties of visual  
evoked potentials to luminance and colour contrast in  
infants,” Vision Res., vol. 36, no. 19, pp. 3141–3155,  
1996, doi: 10.1016/0042-6989(96)00050-8.  
290–305,  
May  
1980,  
doi:  
10.1111/j.1749-  
6632.1980.tb19362.x.  
[5]  
[6]  
D. Regan, “COMPARISON OF TRANSIENT AND  
STEADY-STATE METHODS,” Ann. N. Y. Acad. Sci.,  
vol. 388, no. 1, pp. 45–71, Jun. 1982, doi:  
10.1111/j.1749-6632.1982.tb50784.x.  
S. Sadeghi and A. Maleki, “Character encoding based  
on occurrence probability enhances the performance of  
SSVEP-based BCI spellers,” Biomed. Signal Process.  
Control, vol. 58, p. 101888, 2020, doi:  
F. B. Vialatte, M. Maurice, J. Dauwels, and A.  
Cichocki, “Steady-state visually evoked potentials:  
Focus on essential paradigms and future perspectives,”  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
15  
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG ĐỘ TRỄ THỊ GIÁC CỦA NÃO NGƯỜI  
Nguyen Trọng Kiên, Tốt nghiệp  
Thạc sĩ Kỹ thuật Viễn thông năm  
2014 tại Học viện Công nghệ Bưu  
chính Viễn thông. Nhận học vị Tiến  
sỹ ngành Khoa học Thần kinh nhận  
thức, chuyên ngành kỹ thuật y sinh  
năm 2020 tại Đài Loan. Hiện là  
giảng viên khoa Kỹ thuật Điện tử 2,  
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn  
thông, cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Xử lý tín hiệu  
y sinh không xâm lấn, thiết kế hệ  
thống nhúng, thiết bị y sinh.  
[12]  
B. Liu, X. Huang, Y. Wang, X. Chen, and X. Gao,  
“BETA: Large Benchmark Database Toward  
SSVEP-BCI Application,” Front. Neurosci., vol. 14, p.  
A
627, 2020, doi: 10.3389/fnins.2020.00627.  
[13]  
B. Wittevrongel and M. M. Van Hulle, “Frequency-  
and Phase Encoded SSVEP Using Spatiotemporal  
Beamforming,” PLoS One, vol. 11, no. 8, p. e0159988,  
Aug.  
2016,  
[Online].  
Available:  
[14]  
K. T. Nguyen, W.-K. Liang, N. G. Muggleton, N. E.  
Huang, and C.-H. Juan, “Human visual steady-state  
responses to amplitude-modulated flicker: Latency  
measurement,” J. Vis., vol. 19, no. 14, p. 14, 2019, doi:  
10.1167/19.14.14.  
[15]  
[16]  
R. Draganova and D. Popivanov, “Assessment of EEG  
frequency dynamics using complex demodulation,”  
Physiol. Res., vol. 48, no. 2, pp. 157–165, 1999.  
Y. Kashiwase, K. Matsumiya, I. Kuriki, and S. Shioiri,  
“Time Courses of Attentional Modulation in Neural  
Amplification and Synchronization Measured with  
Steady-state Visual-evoked Potentials,” J. Cogn.  
Neurosci., vol. 24, no. 8, pp. 1779–1793, 2012.  
[17]  
[18]  
M. M. Müller, S. K. Andersen, and A. Keil, “Time  
course of competition for visual processing resources  
between emotional pictures and foreground task,”  
Cereb. Cortex, vol. 18, no. 8, pp. 1892–1899, 2008,  
doi: 10.1093/cercor/bhm215.  
M. M. Muller, S. Andersen, N. J. Trujillo, P. Valdes-  
Sosa, P. Malinowski, and S. A. Hillyard, “Feature-  
selective attention enhances color signals in early  
visual areas of the human brain,” Proc. Natl. Acad.  
Sci., vol. 103, no. 38, pp. 14250–14254, 2006, doi:  
10.1073/pnas.0606668103.  
AN EVALUATION OF METHODS FOR  
MEASURING THE HUMAN VISUAL LATENCY  
Abstract: The human visual latency plays an  
important role to understand the fundamental visual  
function, specifically in visual development and for  
clinical evaluation. However, it is difficult to measure the  
response latency from a steady-state response since the  
preceding cycles occur in the SSVEP compared to visual  
stimulus are ambiguitous. To address this issue, a recent  
study has proposed a novel method using envelopes of  
signals, which were  
extracted by Complex  
Demodulation, for measuring the response latency from  
the SSVEPs induced by an amplitude-modulated flicker.  
In an attempt to offer an alternative approach to quantify  
the response latency, this study used Hilbert transform to  
extract the envelopes in oder to measure the visual  
response latency and evaluated the performance of this  
approach compared to Complex Demodulation.  
Key words: Steady state visually evoked potentials,  
amplitude-modulated flicker, complex demodulation,  
Hilbert transform, visual response latency.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
16  
pdf 6 trang yennguyen 19660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá các phương pháp đo lường độ trễ thị giác của não người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_cac_phuong_phap_do_luong_do_tre_thi_giac_cua_nao_ng.pdf