Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn gãy kín trên lỗi cầu xương cánh tay bằng kéo nắn đặt nẹp cánh cẳng tay ở trẻ em

Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
Research Paper  
Evaluate the Treatment Effect of Paediatric Supracondylar  
Humerus Closed Fractures by Stretching and Arm Cast Brace  
Hoang Hai Duc*, Phung Cong Sang, Nguyen Vu Hoang, Nguyen Thu Ha,  
Nguyen Thu Huong, Nguyen Thi Ha  
Vietnam National Children’s Hospital, No 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam  
Received 05 January 2021  
Revised 10 February 2021, Accepted 17 February 2021  
Abstract  
Bachground/Purpose: We studied to improve the technique of placing the arm cast brace  
to treat paediatric supracondylar humerus fractures to reduce the disadvantages of the arm  
cast. This study is to review the clinical and X-ray characteristics of paediatric  
supracondylar humerus fractures. Evaluate the treatment effect of closed fracture on  
degree II and III by stretching and arm cast brace.  
Methods: Retrospective descriptive study was carried out from 1/2016 to 12/2017 at the  
Pediatric Orthopedic Department of the Vietnam National Children’s Hospital on the  
number of children diagnosed paediatric supracondylar humerus fractures of degree II, III.  
Results: Mainly seen at the age of under 6 years old, male is higher than female, left hand  
has a higher rate. 22 children with pain and swelling, no blisters, 1 child with numbness at  
the time of examination, with grade II fractured in 10 children (33.33%), grade III in 20  
children (66.67%). After a week, there were 4 children in pain, 3 children had swelling,  
and 1 child blisters. After 4 weeks of 100% re-examination, the results of a good bone  
healing on X-ray, the cast brace was removed and the rehabilitation was instructed.  
Judging results after 6 months, 12 months and 24 months, good was 71.67%, fair was  
20%, average was 6.67% and bad was 1.67% according to Flynn's standard.  
Conclusions: The arm cast brace applied to paediatric supracondylar humerus closed  
fractures improves the treatment quality by the feature of the lightweight brace, which  
holds the limb during immobility, with the elasticity of the elastic band ensures a close  
grip on the cast, which reduces the pressure on the front of the elbow.  
Keywords: Paediatric supracondylar humerus closed fractures.  
*
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: hghaiduc@gmail.com  
17  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn gãy kín trên lỗi cầu xương  
cánh tay bằng kéo nắn đặt nẹp cánh cẳng tay ở trẻ em  
Hoàng Hải Đức*, Phùng Công Sáng, Nguyễn Vũ Hoàng, Nguyễn Thị Thu Hà,  
Nguyễn Thu Hường, Nguyễn Thị Hà  
Bệnh viện Nhi Trung ương, Số 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 05 tháng 1 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 10 tháng 2 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 2 năm 2021  
Tóm tắt  
Mở đầu: Từ thực tiễn lâm sàng, chúng tôi nghiên cứu cải tiến kỹ thuật đặt nẹp bột cánh  
cẳng bàn tay điều trị gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em nhằm hạn chế những nhược  
điểm của bó bột cánh cẳng bàn tay.  
Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng và X-Quang của trẻ bệnh gãy trên lồi cầu xương  
cánh tay. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín trên lồi cầu xương cánh tay độ II, III bằng  
phương pháp kéo nắn đặt nẹp bột cánh cẳng bàn tay.  
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả từ 1/2016 đến 12/2017 tại khoa Chỉnh hình nhi  
Bệnh viện Nhi Trung ương trên số trẻ bệnh được chẩn đoán gãy kín trên lồi cầu xương  
cánh tay di lệch độ II, III được điều trị bằng kéo nắn nẹp bột cánh cẳng bàn tay tại khoa  
chỉnh hình nhi Bệnh viện Nhi Trung ương.  
Kết quả: Chủ yếu là gặp ở lứa tuổi dưới 6 tuổi, nam nhiều hơn nữ, tay trái gặp tỷ lệ cao  
hơn. 22 trẻ đau và sưng nề, không có trẻ nào bị phỏng nước, có 1 trẻ tê bì lúc vào viện  
khám, gãy độ II có 10 trẻ (33,33%), độ III có 20 trẻ (66,67%). Sau 1 tuần còn 4 trẻ đau, 3  
trẻ sưng nề, 1 trẻ phỏng nước. Sau 4 tuần 100% khám lại, kết quả chụp Xquang cal xương  
ổ gãy tốt, được tháo nẹp bột và hướng dẫn tập phục hồi chức năng. Đánh giá kết quả sau 6  
tháng, 12 tháng và 24 tháng theo tiêu chuẩn Flynn tỉ lệ tốt 71,67%, khá 20%, trung bình  
6,67% và xấu 1,67%.  
Kết luận: Nẹp bột cánh cẳng bàn tay áp dụng cho gãy kín trên lồi cầu xương cánh tay ở  
trẻ bước đầu đã cải thiện được chất lượng điều trị bởi tính năng của nẹp nhẹ, ôm sát chi  
thể trong suốt thời gian bất động, với sự bổ sung của băng thun có tính đàn hồi tốt đảm  
bảo việc ôm sát của nẹp bột vào tay, làm cho mặt trước khuỷu giảm bị tỳ đè chèn ép.  
Từ khóa: Gãy kín trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em.  
khuỷu ở trẻ em. Độ tuổi hay gặp nhất là  
khoảng từ 5 đến 6 tuổi, chiếm khoảng 3%  
1. Đặt vấn đề*  
các gãy xương [1] và chiếm khoảng 60%  
các gãy xương vùng khuỷu [2],[3]. Điều trị  
gãy trên lồi cầu xương cánh tay bảo tồn hay  
Gãy trên lồi cầu xương cánh tay là tổn  
thương hay gặp nhất trong gãy xương vùng  
phẫu thuật tùy vào mức độ di lệch, tổn  
thương kèm theo. Điều trị bảo tồn gãy kín  
trên lồi cầu xương cánh tay kinh điển là  
phương pháp nắn chỉnh bó bột cánh cẳng  
_______  
*
Tác giả liên hệ.  
E-mail address: hghaiduc@gmail.com  
18  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
bàn tay, để bột 4 tuần đủ thời gian liền  
xương. Bó bột tròn kín hoặc rạch rọc dễ bị  
di lệch thứ phát, nguyên nhân do bột nặng,  
khi tay giảm sưng nề ổ gãy không còn được  
cố định vững  
Từ thực tiễn trên, chúng tôi nghiên cứu  
cải tiến kỹ thuật đặt nẹp bột cánh cẳng bàn  
tay điều trị GTLCXCT nhằm hạn chế  
những nhược điểm của bó bột. Qua 30 ca  
nghiên cứu thực hiện tại Khoa Chỉnh hình  
nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương trong 2 năm  
2016 và 2017 với đề tài: “ Đánh giá kết quả  
điều trị bảo tồn gãy kín trên lồi cầu xương  
cánh tay bằng kéo nắn đặt nẹp bột cánh  
cẳng bàn tay ở trẻ em”  
2. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín  
trên lồi cầu xương cánh tay độ II, III bằng  
phương pháp kéo nắn đặt nẹp bột cánh  
cẳng bàn tay.  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ  
1/2016 đến 12/2017 tại khoa chỉnh hình nhi  
bệnh viện Nhi trung ương với 30 trẻ bệnh.  
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn trẻ bệnh  
- Trẻ dưới 16 tuổi, đến sớm trước 24h, được  
chẩn đoán gãy kín trên lồi cầu cánh tay độ  
II, III Theo phân loại của Gartland, không  
có biến chứng mạch máu thần kinh đã được  
điều trị bằng kéo nắn nẹp bột cánh cẳng bàn  
tay  
Mục tiêu:  
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và X-  
Quang của trẻ bệnh gãy trên lồi cầu xương  
cánh tay  
IV  
III  
Phân loại gãy trên lồi cầu xương cánh tay theo Gartland [3]  
2.1.2. Trẻ bệnh không nằm trong diện  
nghiên cứu  
Trẻ bệnh không có địa chỉ liên lạc cụ  
3. Kết quả  
Với 30 ca đến khám, điều trị theo phương  
pháp này và tái khám, kết quả chúng tôi thu  
thập được như sau.  
thể, không có khả năng theo dõi tái khám  
theo lịch hẹn tại khoa Chỉnh hình nhi -  
Bệnh viện Nhi Trung ương  
Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trên nền  
xương bệnh lý, tổn thương mạch máu và  
thần kinh kèm theo, đã nắn chỉnh ổ gãy ở cơ  
sở khác.  
3.1. Lâm sàng và Xquang  
3.1.1. Về tuổi, giới  
- Lứa tuổi dưới 6 tuổi có 20 trẻ, nhỏ nhất là  
13 tháng và lứa tuổi trên 6 là 10 trẻ, lớn  
nhất là 10 tuổi  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Nam và nữ tỉ lệ gặp 16 nam 14 nữ.Chủ  
yếu là gặp ở lứa tuổi dưới 6 tuổi , nam  
nhiều hơn nữ.  
Nghiên cứu hồi cứu mô tả với cỡ mẫu thuận  
tiện.  
2.2.1 Phương pháp theo dõi  
Bệnh nhân sẽ được hẹn tái khám để đo  
đạc các chỉ số trên tại các thời điểm: sau bó  
1 tháng, 6 tháng, 12 tháng, > 24 tháng.  
3.1.2. Về độ gãy, tay gãy  
- Gãy độ II có 10 ca chiếm tỷ lệ 33,33%, độ  
3 có 20 ca chiếm tỷ lệ 66,67%.  
19  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
- Tay trái gặp 18 ca chiếm tỷ lệ 60% cao  
hơn tay phải gặp 12 ca chiếm tỷ lệ 40%.  
Phục hồi giải phẫu: đánh giá trên lâm  
sàng và X quang: Góc mang lâm sàng, góc  
mang Xquang (góc cánh tay-khuỷu-cổ tay),  
góc thân hành xương  
3.1.3. Về thời gian đến viện, sơ cứu ban đầu  
- 100% đến viện trong 24 giờ đầu, trong đó  
có 10 ca được sơ cứu đặt nẹp bất động, 2 ca  
uống thuốc giảm đau, 13 BN được chụp  
xquang.  
Đánh giá phục hồi chức năng [4]  
Chức năng, thẩm mỹ vùng khuỷu và kết  
quả cuối cùng của mỗi bệnh nhân được tính  
theo tiêu chuẩn của Flynn (1974). Yếu tố  
chức năng và thẩm mỹ đánh giá riêng. Kết  
quả chung của thẩm mỹ và chức năng được  
tính dựa trên yếu tố có kết quả đánh giá  
thấp hơn.  
3.1.4. Về tình trạng lúc đến viện  
- 22 BN đau và sưng nề, không có BN nào  
bị phỏng nước, có 1 BN tê bì.  
3.2 Kết quả điều trị  
Bảng 1. Đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn của Flynn biến đổi. [5], [6]  
Thay đổi góc mang lâm Mất biên độ vận động gấp duỗi  
Kết quả  
Mức độ  
sàng (thẩm mỹ)  
khuỷu (chức năng)  
Tốt  
Khá  
Trung bình  
Xấu  
00 - 50  
00 - 50  
60- 10°  
60 - 100  
110- 15°  
> 15°  
110 - 150  
> 150  
Không đạt  
Với phương pháp đánh giá phục hồi hồi về giải phẫu và chức năng trên chúng tôi thu được kết  
quả sau  
3.2.1. Về tình trạng khám lại 1 tuần  
Lâm sàng  
Đau  
Sưng nề  
Phỏng nước  
TT mạch  
Tt thần kinh  
máu  
0
Số lượng  
Tỷ lệ%  
4
3
1
0
13%  
10%  
3%  
0%  
0%  
- Sau 1 tuần còn 4 BN đau, 3 BN sưng  
nề, 1 BN phỏng nước và không BN nào tê  
bì.  
- Sau 4 tuần 100% khám lại, kết quả  
chụp Xquang cal xương ổ gãy tốt, được  
tháo nẹp bột, bột và hướng dẫn tập phục hồi  
chức năng.  
3.2.3. Về tình trạng khám lại sau 6, 12,  
18, 24 tháng  
- Chụp X-quang khuỷu bên tổn thương  
25 trẻ không di lệch thêm, 5 trẻ di lệch bị di  
lệch thứ phát. Trong 25 trẻ không di lệch  
thêm chúng tôi thay nẹp bột cho 22 trẻ do  
nẹp bột tiếp xúc chi thể không tốt. Có 3 BN  
nẹp tiếp 3 tuần do nẹp bột còn tác dụng cố  
định. Trong 5 trẻ còn lại di lệch được tháo  
nẹp, nắn chỉnh lại và chụp xquang kiểm tra  
lại kết quả đạt, tiếp tục nẹp bột.  
Các trẻ được gọi khám lại đánh giá lâm  
sàng và xquang  
- Có 1 trẻ khám lại sau 6 tháng, 4 BN  
khám lại sau 12 tháng, 9 BN khám lại sau  
18 tháng và 16 BN khám lại sau 24 tháng.  
- Trong 30 BN chúng tôi đánh giá thấy  
12 BN vẹo trong, trong đó 8 BN từ 6 - 10o,  
3.2.2. Về tình trạng khám lại sau 4 tuần  
20  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
3 BN từ 11 - 15o, 1 BN vẹo hơn 15o. Không  
BN nào vẹo ngoài.  
- Theo tiêu chuẩn Flynn tỉ lệ tốt 71,67%,  
khá 20%, trung bình 6,67% và xấu 1,67%.  
Theo tiêu chuẩn Flynn  
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
Tốt  
Khá  
Trung bình  
Xấu  
Thay đổi góc mang lâm sàng  
Biên độ vận động gấp duỗi  
và sấp cẳng tay để giảm nguy cơ di lệch thứ  
phát  
4. Bàn luận  
4.1. Lâm sàng và Xquang  
Chủ yếu là gặp ở lứa tuổi dưới 6 tuổi,  
nam nhiều hơn nữ. Gãy độ II 33,33%, độ III  
66,67%. Như vậy, tỷ lệ trẻ nam cao hơn trẻ  
nữ. Kết quả nghiên cứu này tương tự Sầm  
Văn Hải (66,9/33,1%) [7], Ngô Hữu Tẫn  
(70,7%/29,2%) [8], Phan Quang Trí  
(63%/37%) [9] Egemen Turhan và cộng sự  
[10] nam chiếm 49/68(72%), nữ chiếm  
19/69 (28%).  
- Luồn tất lót vào chi thể tổn thương  
Khi trẻ đến khám có 22 trẻ đau và sưng  
nề, không có trẻ nào bị phỏng nước, có 1  
BN tê bì. Đặc điểm lâm sàng của gãy trên  
lồi cầu xương cánh tay là sưng nề rất nhanh  
làm cho việc thăm khám lâm sàng khó  
khăn, trục của khuỷu tay biến dạng. Triệu  
chứng hay gặp nhất lần lượt là đau (với trẻ  
nhỏ thường hay biểu hiện bằng quấy khóc  
và bất lực vận động khớp khuỷu) (100,0%),  
giảm và mất cơ năng (83,4%), lệch trục  
(80,0%) và sưng nề bầm tím (77,7%) [11]  
- Đặt nẹp bột từ nếp gấp thấp nhất của lòng  
bàn tay (khớp liên bàn ngón tay) tới mỏm  
cùng vai bên tổn thương với lớp bông mỡ  
quay vào mặt trong và vuốt bột sao cho ôm  
sát chi thể.  
4.2. Kết quả điều trị  
- Tiếp tục dải bột tăng cường cho vùng  
khuỷu  
- Quấn băng thun ngoài nẹp bột từ ngọn chi  
đến mỏm cùng vai  
Kĩ thuật điều trị:  
- Gây tê vùng gãy và kéo nắn chỉnh ổ gãy  
hết di lệch sang bên, di lệch chồng, di lệch  
xoay tùy thể gãy và độ gãy, khuỷu tay của  
bệnh nhi được để ở tư thế gấp từ 900 - 1100  
21  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
- Dán băng dính tăng cường tại 5 vị trí: Một vòng quanh đầu trên nẹp bột, một vòng quanh 1/3  
trên cánh tay, một vòng băng số 8 quanh khuỷu, một vòng quanh cổ tay, một vòng quanh đầu  
dưới nẹp bột.  
Với kĩ thuật điều trị như trên chúng tôi so sánh ưu, nhược điểm của nẹp bột cánh cẳng bàn tay  
so với bó bột cánh cẳng tay tròn kín và rạch rọc trong tuần đầu tiên.  
NẸP BỘT  
BÓ BỘT  
1. Dễ thao tác, rút ngắn được thời gian làm 1. Thao tác khó hơn, thời gian làm thủ thuật  
thủ thuật, giảm chi phí điều trị.  
2. Cố định vững chắc được ổ gãy:  
dài hơn, khi rạch dọc có nguy cơ gây tổn  
thương chi thể bệnh nhi và KTV.  
2. Cố định không vững chắc ổ gãy:  
- Nẹp ôm sát chi thể, không lỏng nẹp ở 1/3 - Bột nặng, không ôm sát chi thể, dễ bị tụt  
trên cánh tay và khuỷu tay khi ổ gãy đỡ bột, lỏng bột ở 1/3 trên cánh tay và khuỷu  
sưng nề.  
tay khi ổ gãy đỡ sưng nề.  
- Khuỷu tay gấp từ 90 - 1100 và sấp tối đa, - Khuỷu không gấp và sấp được tối đa, hay  
tránh di lệch thứ phát (băng thun đàn hồi, gặp di lệch thứ phát (sau bó bột 72 giờ).  
băng dính cố định, băng số 8).  
3. Nẹp bột hạn chế các biến chứng:  
3. Bột rạch rọc hay gặp các biến chứng:  
- Ít gặp phỏng nước do rối loạn dinh dưỡng. - Hay gặp phỏng nước do rối loạn dinh  
- Hạn chế chèn ép bột, chèn ép mạch máu, dưỡng.  
thần kinh, Hội chứng Volkmann.  
- Hay gặp chèn ép bột, chèn ép mạch máu,  
thần kinh, Hội chứng Volkmann.  
Theo tiêu chuẩn Flynn tỉ lệ tốt 71,67%,  
khá 20%, trung bình 6,67% và xấu 1,67%,  
theo Sầm Văn Hải (kết quả điều trị bảo tồn  
gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em tại  
22  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
Bệnh viện Việt Đức) [7], kết quả rất tốt là  
64,0%, kết quả tốt là 33,1%, kết quả trung  
bình là 2,3% và kết quả kém là 0,6%.  
References  
[1] Joshua MA, Herman MJ. Management of  
supracondylar humerus fractures in children:  
current concepts. J Am Acad Orthop Surg  
2012;2(20):69-77. https://doi.org/10.5435/JAAOS  
-20-02-069.  
So với kết quả của của các phương pháp  
điều trị khác như của Srivastava S [12] thì  
[2] Cheng JC, Lam TP, Maffulli N. Epidemiological  
features of supracondylar fractures of the humerus  
tốt là 81%, khá là 17%. Kết quả này cũng  
gần tương đương với phương pháp mổ nắn  
chỉnh kín, ghăm đinh dưới màn tăng sáng  
của Phan Quang Trí [9] là kết quả tốt  
74,5%, khá 18,6%, bình thường 5,9%, và  
xấu 1,2%. Theo Egemen Turhan và cộng sự  
[10] thì tỷ lệ 74,9% là kết quả tốt trong  
nhóm ghăm kim kín dưới màn tăng sáng,  
75% tốt trong nhóm mổ mở kết hợp xương.  
in Chinese children.  
2001;10(1):63-77.  
J
Pediatr Orthop  
B
[3] Skaggs, Flynn, J. C. (2010) Supracondylar  
Fracture of the Distal Humerus. In J. H. Beaty, J.  
R. Kasser (Eds.), Rockwood and Wilkins  
Fractures in Children (7th ed., pp.), vol. 7th,  
Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia,  
2010: p-487-532.  
[4] Vito P, Maria R, Gianluca T et al. Surgical  
Treatment of Displaced Supracondylar Pediatric  
Humerus Fractures: Comparison of Two Pinning  
Techniques. J. Funct. Morphol. Kinesiol  
0039.  
[5] Juan PM, Juan RM, Eva Maria AE. Does open  
reduction and pinning affect outcome in severely  
displaced supracondylar humeral fractures in  
children? A systematic review. Strat Traum Limb  
1751-010-0091-y.  
[6] Sachin, Mohammad A. Management of  
supracondylar fractures of the humerus in  
children: Conservative versus operative. Int J  
5.Kết luận  
Qua 30 BN nghiên cứu cho thấy hiệu  
quả của nẹp bột mang lại  
Triệu chứng lâm sàng và X-quang là  
tương xứng, điển hình theo phân loại gãy.  
Kết quả điều trị theo tiêu chuẩn Flynn tỉ  
lệ tốt 71,67%, khá 20%, trung bình 6,67%  
và xấu 1,67% là tương đương với các  
nghiên cứu khác.  
Nẹp bột cánh cẳng bàn tay áp dụng cho  
gãy kín trên lồi cầu xương cánh tay ở trẻ  
bước đầu đã cải thiện được chất lượng điều  
trị bởi tính năng của nẹp nhẹ, ôm sát chi thể  
trong suốt thời gian bất động.  
Với sự bổ sung của băng thun có tính  
đàn hồi tốt đảm bảo việc ôm sát của nẹp bột  
vào tay, làm cho mặt trước khuỷu không bị  
tỳ đè chèn ép nên gấp, sấp khuỷu được tối  
đa hạn chế được di lệch thứ phát mà vẫn  
tránh được phỏng rộp do chèn ép.  
Ngoài ra băng dính tăng cường bởi 5 vị  
trí giúp nẹp bột giữ chắc từng đoạn, tránh  
tụt bột và xô các vòng băng thun.  
Orthop  
Sci  
2017;3(1):14-20,  
2017.  
[7] Hai SV. Results of conservative treatment for  
fracture on the convex of a child's arm at Viet  
Duc Hospital. Specialist level II's thesis. Hanoi  
Medical University 2016. (in Vietnamese).  
[8] Tan NH. Treatment of fracture on arm convex in  
children with cast-cast method at Ha Tay  
Provincal Hospital. Specialist level II's thesis  
1995. (in Vietnamese).  
[9] Tri PQ. Research on treatment of extensor-arm  
convex fractures in children with tightening and  
piercing needles through the skin under  
brightening curtains. PhD thesis, University of  
Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh City  
2015. (in Vietnamese).  
[10] Egemen T, Cemalenttin A, Ahmet E et al. Sagittal  
plane analysis of the open and closed methods in  
children with displaced supracondylar fractures of  
the humerus. Arch Orthop Trauma Surg  
0402-007-0523-4  
Hạn chế của nghiên cứu: nghiên cứu hồi  
cứu, đơn trung tâm, không có nhóm  
chứng.  
23  
H.H. Duc et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 5, No. 1 (2021) 17-24  
of the humerus in children. Med J Malaysia  
2000;55:44-52.  
[11] Phuc ND. Surgical Pathology, Fracture on the  
convex arm bone, vol. 2, Medical Publishing  
House, Hanoi 2002: p-29-33. (in Vietnamese).  
[12] Srivastava S. The results of open reduction and  
pin fixation in displaced supracondylar fractures  
24  
pdf 8 trang yennguyen 10120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn gãy kín trên lỗi cầu xương cánh tay bằng kéo nắn đặt nẹp cánh cẳng tay ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_dieu_tri_bao_ton_gay_kin_tren_loi_cau_xuong.pdf