Báo cáo ca bệnh: Hội chứng gan phổi ở trẻ xơ gan

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 498 - THÁ NG 1 - SỐ 1 - 2021  
BÁO CÁO CA BỆNH: HỘI CHỨNG GAN PHỔI Ở TRẺ XƠ GAN  
Nguyễn Phạm Anh Hoa*, Bùi Thị Hương Thùy*, Phạm Thị Hải Yến*,  
Cao Việt Tùng*, Vũ Thị Dinh*, Hoàng Văn Tám*, Đỗ Văn Đô*,  
Trịnh Thị Thủy*, Trần Thị Dự*, Nguyễn Đỗ Phương Thúy*  
phải, lách 4cm dưới bờ sườn mật độ chắc, không  
TÓM TẮT26  
có móng tay khum, không có ngón tay dùi trống,  
hệ thống tim mạch bình thường. Tuy không có  
các bất thường về hô hấp và tim mạch trên thăm  
khám thông thường nhưng bệnh nhân luôn có  
tình trạng khó thở, tím môi và đầu chi. Đo SpO2  
ở tư thế nằm 60%, SpO2 tư thế ngồi 62%.Tình  
trạng thiếu oxy cải thiện tốt sau thở oxy mask  
5lít/phút song chỉ đạt tới 90 -92%. Khai thác tiền  
sử, bệnh nhân có tiền sử chẩn đoán và điều trị  
động kinh từ lúc 5 tuổi, kiểm soát cơn giật tốt,  
chậm phát triển trí tuệ từ nhỏ, mẹ ruột có HbsAg  
dương tính, trẻ chưa được thăm dò các xét  
nghiệm về chức năng gan trước đó.  
Hội chứng gan phổi (Hepatopulmonary syndrome-  
HPS) là một biến chứng hiếm. Tỉ lệ xuất hiện từ 4%–  
40% trên bệnh nhi xơ gan. Chẩn đoán xác định HPS  
dựa vào bộ ba gồm bệnh gan mạn tính, giảm oxy máu  
và bất thường mao mạch phổi. HPS được coi là tiên  
lượng xấu đối với bệnh nhân xơ gan. Các biện pháp  
điều trị hỗ trợ trong thời gian chờ ghép gan bao gồm  
oxy liệu pháp, các thuốc có tác dụng giúp co mạch  
phổi, một số thủ thuật như TIPS. Trong phạm vi bài  
báo này, chúng tôi báo cáo một trường hợp một trẻ  
nữ 15 tuổi xơ gan có biến chứng tăng áp lực tĩnh  
mạch cửa kèm theo hội chứng HPS. Chẩn đoán xác  
định bằng siêu âm tim cản âm, chụp xạ hình tưới máu  
phổi giúp tiên lượng và lập kế hoạch điều trị  
Từ khóa: Hội chứng gan phổi, xơ gan, siêu âm  
tim cản âm  
Các xét nghiệm cho thấy bạch cầu 5.32 G/L  
và tiểu cầu giảm 57G/L, tăng transaminase với  
GOT 96UI/L, GPT 34 UI/L, ure và creatinine  
trong giới hạn bình thường 3,6 mmol/lít và 40  
mmol/lít).Chức năng đông máu Prothrombin  
62%, INR 1,41, APTT 42,5s, Fibrinogen 2.04g/L,  
Albumin 32.5g/L, protid máu 61,7g/L. Các xét  
nghiệm vi sinh HBsAg dương tính, HBeAg dương  
tính và HBV DNA 44000 copies/ml. Phân tích trên  
khí máu động mạch cho thấy tình trạng suy hô  
hấp type 1 với PO2 là 39mmHg, AaDO2 (chênh  
áp lực riêng phần oxy phế nang – động mạch) =  
78,23. Siêu âm ổ bụng có hình ảnh lách to, chiều  
dài dọc lách 136 mm, gan nhu mô không đều,  
bờ gan không đều, teo hạ phân thùy IV. Thăm  
dò hình ảnh về hô hấp trên phim XQuang ngực  
thẳng không có hình ảnh viêm phổi chỉ thấy tăng  
đậm khoảng kẽ vùng đáy và mạch phổi.  
Tình trạng lâm sàng và xét nghiệm cơ bản  
cho thấy tình trạng tổn thương gan mạn tính.  
Bệnh nhân được tiếp cận chẩn đoán xác định các  
biến chứng của tình trạng bệnh gan mạn tính,  
tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa và nguyên  
nhân thiếu oxy.  
Siêu âm Doppler mạch gan và tĩnh mạch cửa  
cho thấy các dấu hiệu gián tiếp của hội chứng  
tăng áp lực tĩnh mạch cửa với. Nghi ngờ này  
được khẳng định bằng kết quả nội soi dạ dày  
thực quản vớigiãn tĩnh mạch thực quản độ 2,  
kèm theo viêm toàn bộ niêm mạch dạ dày. Chụp  
cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao không  
có hình ảnh bất thường, siêu âm tim cho thấy  
phân suất tống máu khoảng 59% với chức năng  
tâm thu thất trái bình thường giúp loại trừ các  
SUMMARY  
HEPATOPULMONARY SYNDROME IN  
CHILREN WITH CIRRHOSIS  
Hepatopulmonary syndrome (HPS) is  
a rare  
complication. The rate appears from 4% - 40% in  
patients with cirrhosis. HPS is charactezied by the triad  
of chronic liver disease, abnormal arterial oxygenation  
congenital portosysmic shunts. HPS is considered a  
poor prognosis in cirrhotic patients. Supportive  
treatments pending a liver transplant include oxygen  
therapy, medications that help with pulmonary  
vasoconstriction, and some procedures such as TIPS.  
For the purposes of this article, we report a case of a  
15-year-old female with cirrhosis of the liver with  
complications of portal hypertension with HPS  
syndrome. Diagnosis confirmed by transthoracic  
contrast echocardiography, contrast pulmonary  
angiography helps prognosis and reasonable  
treatment plan.  
Key  
words:  
Hepatopulmonary  
syndrome,  
cirrhosis, transthoracic contrast echocardiography  
II. BÁO CÁO CA BỆNH  
Bệnh nhân nữ 15 tuổi, nhập viện do có tình  
trạng lách to và chức năng gan bất thường trẻ  
tỉnh táo, thể trạng suy dinh dưỡng với BMI 16,  
chậm phát triển trí tuệ mức độ trung bình với  
test IQ (60 -65), phổi thông khí rõ, không có ran,  
bụng mềm, gan không sờ thấy dưới bờ sườn  
*Bệnh viện Nhi Trung Ương  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Phạm Anh Hoa  
Ngày nhận bài: 20.10.2020  
Ngày phản biện khoa học: 24.11.2020  
Ngày duyệt bài: 11.12.2020  
99  
vietnam medical journal n01 - JANUARY - 2021  
nguyên nhân thiếu oxy do bệnh lý phổi thông  
+ Ghi hình tĩnh (Static) phổi và não: ngay sau  
thường. Tình trạng suy hô hấp mạn tính có thích ghi hình động, ghi 5 phút/hình (700 kcounts/  
nghi ở bệnh nhân có tổn thương gan mạn tính, hình) với các tư thế: phổi thẳng trước - thẳng  
xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch hướng nhiều tới sau, não nghiêng phải – nghiêng trái, toàn thân  
do các tổn thương trong hội chứng gan phổi. S thẳng trước - thẳng sau.  
iêu âm tim đối quang và chụp xạ hình tưới máu  
phổi được tiến hành giúp chẩn đoán HPS.  
Kết quả: Hoạt độ phóng xạ tập trung cao  
nhất tại hai phổi (phổi phải tập trung cao hơn  
Siêu âm tim cản âm (siêu âm tim đối phổi trái), ngoài ra hoạt độ phóng xạ tập trung  
quang).  
cao ở tuyến giáp, dạ dày, lách, hai thận, não.  
Hình ảnh tĩnh từ siêu âm tim đối quang của  
bệnh nhân cho thấy xuất hiện hình ảnh bóng khi  
xuất hiện tại tm nhĩ và tâm thất trái sau 3 chu kỳ  
tim, biểu thị cho tình trạng shunt trong phổi.  
Xạ hình tưới máu phổi . Dùng các thể tụ  
tập albumin huyết thanh người Macroaggregated  
albumin (MAA) đánh dấu phóng xạ Technetium  
99m 99mTc-MAA ( có đường kính 20 - 50μm) sau  
khi tiêm tĩnh mạch sẽ theo dòng máu đến nhĩ  
phải, thất phải, vào động mạch phổi đến mao  
mạch phổi. Các hạt này sẽ gây nghẽn tạm thời  
các động mạch nhỏ và mao mạch ở phổi (đường  
kính bình thường 8-15μm), sau đó sẽ thoát ra và  
được tiêu hủy theo cơ chế thực bào, do đó có  
thể ghi hình được sự phân bố của các mao mạch  
phổi. Ở những bệnh nhân hội chứng gan phổi  
(HPS) các mao mạch phổi giãn ra có đường kính  
lên đến 100μm. Các hạt 99mTc-MAA này dễ dàng  
đi qua các mao mạch phổi bị giãn và đi vào hệ  
tuần hoàn để bị giữ lại trong các mao mạch kích  
thước bình thường của não, gan, thận và các cơ  
quan khác, tương ứng với nguồn cung cấp máu  
của chúng. Bệnh nhân khỏe mạnh bình thường,  
đồng vị có thể được định lượng trong não với  
lượng <5%. Ở bệnh nhân hội chứng gan phổi tỷ  
lệ này là trên 6%. Ở bệnh nhân này (15 tuổi, cân  
nặng 26kg) chúng tôi sử dụng dược chất phóng  
xạ 99mTc – MAA, liều 99mTc 0,8 mCi, số hạt MAA:  
200-300 nghìn hạt, tiêm tĩnh mạch chậm.  
Số xung ở hai phổi: 191 Kcounts, số xung ở  
não: 34 Kcounts, số xung ở toàn cơ thể: 313  
Kcounts. Tỷ lệ phần trăm shunt phổi- não: 15%.  
Tỷ lệ phần trăm shunt phổi- toàn cơ thể: 39%  
Ở ca bệnh này tỷ lệ hấp thu Tc 99m –MAA ở  
não là 15%, tỷ lệ hấp thu toàn cơ thể là 39%  
cho phép kết luận bệnh nhân có shunt phải trái  
do hội chứng gan phổi. Chẩn đoán xác định bệnh  
nhân có tình trạng xơ gan có biến chứng tăng áp  
lực tĩnh mạch cửa và hội chứng gan phổi trên  
nền bệnh lý động kinh và chậm phát triển tinh  
thần mức độ trung bình. Bệnh nhân được điều trị  
hỗ trợ tình trạng xơ gan và các biến chứng của  
xơ gan, tiếp tục điều trị động kinh và sử dụng  
oxy liệu pháp giúp cho tình trạng oxy trong máu  
của bệnh nhân được cải thiện và giữ ổn định ở  
mức an toàn và tiếp tục liệu pháp hỗ trợ oxy tại nhà.  
IV. BÀN LUẬN  
Hội chứng gan phổi (Hepatopulmonary  
syndrome - HPS) là một trong những biến chứng  
của xơ gan, đặc trung bởi tam chứng bệnh gan  
mạn tính, giảm oxy máu động mạch, giãn mạch  
máu phổi [1], [2]. Xơ gan và tăng áp lực tĩnh  
mạch cửa là các tình trạng thường kết hợp với  
HPS. Tiêu chuẩn chẩn đoán HPS theo European  
Respiratory Society 2004: có bệnh lý gan mạn:  
Gradient oxy phế nang – động mạch > 15 mmHg  
(hoặc > 20mmHg nếu > 65 tuổi) và/ hoặc áp lực  
riêng phần oxy máu động mạch (PaO2 )<  
80mmHg và có bằng chứng về sự giãn bất thường  
mạch máu phổi; không có bệnh tim phổi khác.  
Sử dụng máy ghi đo: máy SPECT Siemens.  
Dùng chuẩn trực độ phân giải cao, năng  
lượng thấp (LEHR) và ma trận 256 × 256.  
Các thời điểm ghi đo:  
+
Ghi hình động (Dynamic) phổi: ghi ngay  
sau tiêm, ghi 3 giây/hình x 20 hình  
100  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 498 - THÁ NG 1 - SỐ 1 - 2021  
Mặc dù hội chứng gan phổi có thể phối hợp mmHg < PaO2 < 60 mmHg: Nặng. 60 mmHg ≤  
với cả bệnh lí gan cấp và mạn tính, tuy nhiên PaO2 < 80 mmHg: Nhẹ, vừa. AaDO2 (chênh áp  
thường gặp nhiều hơn ở bệnh nhân xơ gan, đặc áp lực riêng phần oxy phế nang – động mạch):  
biệt là các bệnh nhân xơ gan có biến chứng tăng Nhạy hơn trong xác định sớm giảm oxy động mạch.  
áp lực tĩnh mạch cửa và là một trong những biến  
chứng nặng của xơ gan. Những thay đổi mạch  
AaDO2 = PAO2 – PaO2  
PAO2 = FiO2 x (PB- PH2O) – PACO2/k PB: áp  
máu ở phổi trong bệnh lí gan phổi là hậu quả suất khí quyển (760 mmHg).  
của nhiều nguyên nhân như giãn mạch ở tiền  
mao mạch và tại mao mạch, sự thông thương  
trực tiếp giữa động mạch và tĩnh mạch. Hiện  
PH2O: áp suất hơi nước bão hòa (47 mmHg)  
PACO2 = PaCO2, k = 0,8  
Bình thường (lúc nghỉ ngơi và thở trong điều  
tượng tạo shunt phải – trái ở mạch máu dẫn đến kiện khí phòng) AaDO2 < 15 mmHg, và < 20  
sự rối loạn trao đổi khí. mmHg (ở người > 60 tuổi). Xét về PaO2, bệnh  
Triệu chứng lâm sàng của HPS khá đa dạng, nhân trong ca bệnh này thuộc nhóm nặng và  
bao gồm cả các triệu chứng của bệnh gan mạn AaDO2 là 78,23, cao hơn gấp 3 lần so với giới  
tính và các triệu chứng của tình trạng thiếu oxy hạn bình thường.  
mạn như ngón tay, ngón chân dùi trống, xanh  
Cơ chế gây giảm oxy máu động mạch ở bệnh  
tím trung tâm và ngoại vi. Khó thở và xanh tím là nhân xơ gan và bệnh nhân hội chứng gan phổi  
các triệu chứng thường gặp nhất. Khó thở và đang còn nhiều tranh cãi. Có nhiều giả thiết như  
ngón tay dùi trống là các triệu chứng đặc trưng sự thay đổi ái tính của hemoglobin đối với oxy;  
và dễ nhận biết trên lâm sàng. Khó thở khi ở tư shunt phải – trái: Sự thông thương trực tiếp giữa  
thế đứng hoặc ngồi và hết khi nằm (platypnea). động mạch- tĩnh mạch, nếu nhiều sẽ gây thiếu  
Tình trạng thiếu oxy máu động mạch ở tư thế oxy máu nặng, không hồi phục khi thở oxy  
đứng hoặc ngồi và hết khi nằm (orthrodeoxia). 100%, và giãn mạch máu trong phổi được coi là  
Tình trạng này xuất hiện với tỷ lệ từ 5 – 88% ở nguyên nhân chính.  
bệnh nhân xơ gan nhưng thường thấy hơn ở  
Giãn mạch máu trong phổi ở bệnh nhân xơ  
những bệnh nhân có tình trạng thiếu oxy máu gan và hội chứng gan phổi gặp ở 13 – 47% bệnh  
trầm trọng trong hội chứng gan phổi. Tuy vậy nhân xơ gan giai đoạn cuối và 10% ở bệnh nhân  
triệu chứng này không phải là triệu chứng đặc không có giảm oxy máu ở giai đoạn sớm của xơ  
trưng của hội chứng gan phổi. Các triệu chứng gan. Bình thường, đường kính mao mạch phổi  
khó thở và thiếu oxy ở tư thế đứng này được cải khoảng 8 – 15micromet, khi thở ở không khí  
thiện sau khi ghép gan. Bệnh nhân có sao mạch phòng, oxy từ các phế nang phân bố một cách  
dưới da có nguy cơ cao giãn mạch hệ thống và nhanh chóng vào mao mạch, oxy hóa được cả  
mạch phổi, hay có bất thường về trao đổi khí. Sự những tế bào hồng cầu ở dòng chảy trung tâm.  
xuất hiện đồng thời tăng áp lực tĩnh mạch cửa, Trong hội chứng gan phổi, đường kính các mao  
sao mạch ở da, ngón tay dùi trống và thiếu oxy mạch, giãn từ 15- 100 micromet, oxy từ phế  
máu trên lâm sàng có thể coi là các triệu chứng nang không thể khuếch tán vào trung tâm của  
gợi ý hội chứng gan phổi.  
Giảm oxy máu là chỉ điểm quan trọng của hội bào hồng cầu ở dòng chảy trung tâm mao mạch.  
chứng gan phổi. Giảm oxy máu nhẹ là đặc điểm Mặc dù nguyên nhân của giãn mạch trong hội  
các mao mạch phổi để oxy hóa hemoglobin của tế  
phổ biến của bệnh gan mạn tính, nó xuất hiện ở chứng gan phổi vẫn còn chưa được biết rõ, các  
1/3 số bệnh nhân. Ngược lại, giảm oxy máu giả thiết về cơ chế bệnh sinh như sự giảm giáng  
nặng (PaO2 < 60 mmHg) ít gặp ở bệnh nhân xơ hóa các chất làm giãn động mạch phổi như  
gan đơn thuần mà thường kết hợp với bệnh tim prostagladin, calcitonin, glucogon, nitric ocide,  
phổi, đặc biệt khi có tình trạng giảm oxy máu substance P, yếu tố hoạt hóa tiểu cầu ở các bệnh  
động mạch nặng. Naeije và cộng sự nghiên cứu nhân xơ gan, trong khi các chất như tyrosine,  
ở 100 bệnh nhân xơ gan nặng thì 28% có PaO2 serotonin, endothelin 1 có tác dụng co mạch lại  
< 70 mmHG nhưng chỉ 8% có PaO2 < 60 giảm sút. Sự giảm đáp ứng của mạch đối với  
mmHg, đối chiếu với siêu âm tim có tăng độ cản angiotensin II cũng là triệu chứng hay gặp ở  
quang đều có shunt trong phổi.  
bệnh nhân xơ gan. NO là chất giãn mạch mạnh,  
Việc đánh giá tình trạng oxy máu động mạch không bền, khả năng tái hoạt động cao, khí có  
qua PaO2 và AaDO2 rất quan trọng trong việc thể khuếch tán, được sản xuất bởi nhiều mô, đặc  
phân chia giai đoạn của hội chứng gan phổi vàcó biệt là tế bào endorthelin lòng mạch và tế bào  
ý nghĩa tiên lượng, dự báo nguy cơ khi chỉ định thần kinh là nguyên nhân chính gây giãn mạch  
ghép gan. PaO2 < 50 mmHg: Rất nặng. 50 trong xơ gan mất bù. Ở bệnh nhân có hội chứng  
101  
vietnam medical journal n01 - JANUARY - 2021  
gan phổi NO thường tăng.  
nhẹ đến trung bình: bệnh nhân cần được theo  
Để chẩn đoán hội chứng gan phổi, có thể tiếp dõi tiến triển bệnh 6 đến 12 tháng một lần bằng  
cận ban đầu bằng các xét nghiêm: Khí máu động phương pháp đo oxy qua khí máu, phân tích khí  
mạch ở tư thế nằm ngửa, bệnh nhân trong tình máu động mạch để xác định tình trạng xấu đi và  
trạng ổn định và thở khí phòng. AaO2 > 20 đưa ra chiến lược điều trị tĩnh cực khác như  
mmHg và hoặc pO2 < 70mmHg [3]. Một nghiên ghép gan và/ hoặc bổ sung oxy. Việc bổ sung  
cứu tiến cứu với 98 bệnh nhân quan sát thấy tỷ oxy chỉ cần thiết khi có tình trạng thiếu oxy do  
lệ mắc HPS là 32% khi giá trị AaO2 cut off là ≥ tập thể dục. Những bệnh nhân này sẽ được kiểm  
15 mmHg, 31% khi AaO2 >20mmHg và 28% khi tra bằng nghiệm pháp đi bộ 6 phút định kì. Đối  
tính AaO2 theo tuổi. Nghiên cứu này cũng chỉ ra với bệnh nhân hội chứng gan phổi nặng hoặc rất  
nếu sử dụng PaO2 thì độ nhạy kém hơn so với nặng: Điều trị bằng bổ sung oxy dài hạn và lập  
HPS [4].  
kế hoạch ghép gan. Liệu pháp oxy chỉ cải thiện  
- Test oxy: Nếu bệnh nhân đáp ứng với thở oxy khi mà có các bất thường liên quan đến  
oxy và tăng PaO2 > 60mmHg, có thể loại trừ shunt mạch máu trong phổi. Một số biện pháp  
shunt. PaO2 ở mức 50 mmHg, nghi ngờ shunt. can thiệp khác gồm TIPS, thuốc co mạch cũng  
PaO2 ở mức 15 – 20mmHg, shunt gần như chắc được sử dụng nhưng chưa có nghiên cứu nào chỉ  
chắc là cơ chế thiếu oxy máu động mạch. Nếu ra rõ ràng về hiệu quả. Liệu pháp ghép gan cho  
shunt là nguyên nhân của thiếu oxy máu thì tình những bệnh nhân bị nặng hoặc rất nặng, được  
trạng thiếu oxy máu sẽ không được cải thiện sau chứng minh là biện pháp điều trị hiệu quả duy  
khi ghép gan  
nhất với HPS giúp cải thiện tỉ lệ sống sót [8].  
- Siêu âm tim cản âm: Là test sàng lọc tốt Ghép gan giúp giảm shunt đáng kể ở một số  
nhất để chẩn đoán giãn mạch phổi. Đây được coi bệnh nhân. Pascasio và cộng sự quan sát thấy rằ  
là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán HPS [5].  
ng tỉ lệ sống sót sau ghép gan là như nhau ở cả  
- Ghi hình bằng Tech 99m gắn albumin: Là 2 nhóm bệnh nhân có và không có HPS[9].  
phương pháp tốt để chẩn đoán giãn mạch phổi.  
Tiêm Tech 99mm gắn albumin vào tĩnh mạch  
ngoại vi. Albumin có kích thước từ 20 – 50  
microm, không qua được mao mạch phổi bình  
thường D= 8- 15 micromet, song có thể qua  
V. KẾT LUẬN  
Hội chứng gan phổi được đặc trưng bởi sự  
hiện diện của bộ ba: Bệnh gan mạn tính, giảm  
oxy máu, bất thường vi mao mạch phổi. Đây là  
một biến chứng nghiêm trọng của xơ gan làm  
được mạch phổi giãn, tích tụ trong các cơ quan  
xấu đi tiên lượng của bệnh nhân xơ gan. Các  
khác như não, thận, lá lách và tuyến giáp. Ngoài  
bệnh nhân có bệnh lý gan mạn tính cần được  
ra phương pháp này cho phép định lượng mức  
tiến hành các biện pháp chẩn đoán sớm ngay khi  
có các triệu chứng lâm sàng như khó thở, xanh  
tím... Siêu âm tim có chất cản quang và chụp xạ  
hình phổi là các xét nghiệm có giá trị cao trong  
độ shunt trong phổi[6]. Độ nhạy của kĩ thuật này  
thay đổi từ 20% đến 96%, độ nhạy cao trong  
trường hợp nặng, thấp trong trường hợp trung  
bình nhẹ. Abrams GA và cộng sự sử dụng kĩ  
chẩn đoán xác định. Bệnh nhân xơ gan có hội  
thuật này để thực hiện trên 25 bệnh nhân mắc  
chứng gan phổi có thời gian sống ngắn hơn so  
HPS, 25 bệnh nhân xơ gan không có HPS và 15  
với nhóm xơ gan không có hội chứng gan phổi  
đối tượng thiếu oxy do bệnh phổi nội tại cho  
và cần được theo dõi chặt chẽ và ưu tiên trong  
thấy kết quả dương tính ở 21 trong số 25 bệnh  
danh sách chờ ghép gan. Trong thời gian chờ  
nhân mắc HPS và âm tính trong các trường hợp  
tạng ghép hoặc các trường hợp chống chỉ định  
còn lại. Tất cả các bệnh nhân dương tính có giá  
ghép tạng, các bệnh nhân HPS cần được điều trị  
bảo tồn thông qua oxy liệu pháp.  
trị trị PO2 < 60 mmHg [7].  
- Chụp động mạch phổi là phương pháp chẩn  
đoán có giá trị trong giãn mạch máu phổi, nhưng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
là biện pháp thăm dò có xâm lấn nên ít được  
dùng. Tuy nhiên phương pháp này giúp chẩn  
đoán phân type và tiên lượng điều trị. Type 1  
loại khuếch tán đáp ứng với test oxy 100%, đạt  
PaO2 > 200mmHg sau test. Type 2 loại khu trú  
tương tự giống như dị tật thực sự, kém đáp ứng  
và biện pháp duy nhất để cải thiện là ghép gan.  
Các bệnh nhân có hội chứng gan phổi được  
theo dõi và điều trị tùy mức độ bệnh. Ở mức độ  
1. Dinh- Xuan A.T, Naeije  
R (2004). The  
hepatopulmonary syndrom: NO way out?. Eur  
Respir J, 23, 661–662.  
2. M.Bahtoei, M.D (2000). Hepatopulmonary  
syndrom. department of internal Medicin.  
3. Krowka M.J., Wiseman G.A., Burnett O.L. và  
cộng sự. (2000). Hepatopulmonary syndrome: a  
prospective study of relationships between severity  
of liver disease, PaO(2) response to 100% oxygen,  
and brain uptake after (99m)Tc MAA lung  
102  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 498 - THÁ NG 1 - SỐ 1 - 2021  
scanning. Chest, 118(3), 615–624.  
(2001). Use of transjugular intrahepatic portosystemic  
shunt as a bridge to liver transplantation in a patient  
with severe hepatopulmonary syndrome. Liver Transpl,  
7(2), 147–149.  
4. Schenk P., Schöniger-Hekele M., Fuhrmann  
V. và cộng sự. (2003). Prognostic significance of  
the hepatopulmonary syndrome in patients with  
cirrhosis. Gastroenterology, 125(4), 1042–1052.  
5. Rodriguez-Roisin R. và Roca J. (1997).  
Hepatopulmonary syndrome: the paradigm of liver-  
induced hypoxaemia. Baillieres Clin Gastroenterol,  
11(2), 387–406.  
8. Swanson K.L., Wiesner R.H., và Krowka M.J.  
(2005). Natural history of hepatopulmonary  
syndrome: Impact of liver transplantation.  
Hepatology, 41(5), 1122–1129.  
9. Pascasio J.M., Grilo I., López-Pardo F.J. và  
cộng sự. (2014). Prevalence and severity of  
hepatopulmonary syndrome and its influence on  
survival in cirrhotic patients evaluated for liver  
transplantation. Am J Transplant, 14(6), 1391–1399.  
6. Rodríguez-Roisin R. và Krowka M.J. (2008).  
Hepatopulmonary syndrome--a liver-induced lung  
vascular disorder. N Engl J Med, 358(22), 2378–2387.  
7. Lasch H.M., Fried M.W., Zacks S.L. và cộng sự.  
PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT MẪU NƯỚC TIỂU GIẢ ĐỊNH ỨNG DỤNG  
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KIỂM TỔNG PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU  
Vũ Quang Huy1,2, Lê Văn Chương1,2,  
Trần Nhật Nguyên2, Huỳnh Thị Diễm Phúc2  
số còn lại đạt độ ổn định trong thời gian 10 ngày vận  
TÓM TẮT27  
chuyển (p-value > 0.05). Kết luận: Xây dựng hoàn  
Mục tiêu: Đánh giá chất lượng mẫu nước tiểu giả  
chỉnh quy trình sản xuất mẫu ngoại kiểm nước tiểu.  
định sử dụng trong chương trình ngoại kiểm tổng  
Mẫu nước tiểu giả định đạt độ đồng nhất sau khi sản  
phân tích nước tiểu. Đánh giá tính đồng nhất và độ ổn  
xuất. Đạt độ ổn định dài hạn trong vòng 3 tháng ở -  
định của bộ mẫu đã sản xuất thử nghiệm theo tiêu  
20C,6 tuần ở 2–8C, đạt độ ổn định ngắn hạn 8 ngày  
chuẩn ISO GUIDE 35:2017. Phương pháp: Mẫu nước  
trong điều kiện vận chuyển mẫu sản xuất đủ điều kiện  
tiểu bình thường được sản xuất và làm nền để sản  
sử dụng cho chương trình ngoại kiểm tổng phân tích  
xuất bộ mẫu nước tiểu bất thường với những thông số  
nước tiểu.  
(tỷ trọng (Specific Gravity – SG), pH, glucose (GLU),  
Từ khóa: Tổng phân tích nước tiểu, ngoại kiểm,  
protein (PRO), urobilinogen (URO), bilirubin (BIL),  
độ ổn định, độ đồng nhất.  
nitrite (NIT), leukocyte (LEU), keton (KET), blood  
(BLO)) đã định trước. Đánh giá tiền phân tích và đánh  
SUMMARY  
giá độ đồng nhất bộ mẫu trước khi chia thành 2 lô bảo  
PRODUCTION METHOD OF SIMULATED  
quản ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau là 2 – 8C và -  
URINE UTILIZED IN URINALYSIS  
20C. Sau đó đánh giá độ ổn định dài hạn trong 3  
tháng tại 6 thời điểm là 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần, 6 tuần,  
8 tuần và 12 tuần. Đánh giá độ ổn định ngắn hạn  
trong điều kiện vận chuyển sau 5 ngày, 8 ngày và 10  
ngày gửi mẫu đến các phòng xét nghiệm tham gia.  
Kết quả: Sản xuất được mẫu nước tiểu giả định bất  
thường nhằm ứng dụng vào chương trình ngoại kiểm  
tổng phân tích nước tiểu10 thông số. Bộ mẫu sau khi  
sản xuất đạt độ đồng nhất (giá trị p các thông số đều  
lớn hơn 0.05). Mẫu nước tiểu sản xuất ra đạt độ ổn  
định trong thời hạn 3 tháng ởđiều kiện nhiệt độ -20C  
(p>0.05). Riêng bộ mẫu giữ ở 2- 8C, có LEU ổn định  
chỉ trong 6 tuần, URO ổn định trong 8 tuần, các thông  
số SG, pH, GLU, PRO, NIT, KET, BLO ổn định trong 12  
tuần (p>0.05). Đối với độ ổn định ngắn hạn, các  
thông số leukocytes, bilirubin và urobilinogen đạt độ  
ổn định trong thời gian 8 ngày vận chuyển, các thông  
EXTERNAL QUALITY ASSESSMENT SCHEME  
Objectives: To study methods of producing  
simulated urine samples used in external quality  
assessment (EQA) program. The homogeneity and  
stability of producing samples was evaluated  
according to ISO GUIDE 35:2017. Methods: Ten  
parameters (density (Specific Gravity-SG), pH, glucose  
(GLU), protein (PRO), urobilinogen (URO), bilirubin  
(BIL), nitrite (NIT), leukocyte (LEU), keton (KET),  
blood (BLO)) of normal urine sample were adjusted to  
produce abnormal urine sample with predetermined  
characteristics. The sets of producing samples were  
evaluated for pre-analysis and assessment of  
homogeneity then divided into 2 lots and stored at  
different temperature conditions (2 - 8C and -20C).  
The long-term stability is assessed for 3 months at 6  
periods of time comprising: 1, 2, 4, 6, 8 and 12  
weeks. Sort-term stability was evaluated in the  
shipping conditions after 5, 8 and 10 days deliver to  
participant laboratories. Results: Two batches of  
simulated urine samples have been produced and  
evaluated for homogeneity and stability. All sample  
lots were homogenous (p value >0.05). All parameters  
of simulated urine were stable in 3 months at -20ºC  
(p> 0.05). However, at 2-8ºC LEU and BIL were stable  
in 6 weeks, URO was stable in 8 weeks, the other  
1Đại học y dược Tp.Hồ Chí Minh  
2Trung tâm Kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm Y học  
– Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh  
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Quang Huy  
Ngày nhận bài: 19.10.2020  
Ngày phản biện khoa học: 25.11.2020  
Ngày duyệt bài: 9.12.2020  
103  
pdf 5 trang yennguyen 11000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo ca bệnh: Hội chứng gan phổi ở trẻ xơ gan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_ca_benh_hoi_chung_gan_phoi_o_tre_xo_gan.pdf