Kiến thức về dinh dưỡng cải thiện chiều cao của thanh niên tại Hà Nội, Việt Nam và một số yêu tố liên quan

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CẢI THIỆN CHIỀU CAO  
CỦA THANH NIÊN TẠI HÀ NỘI, VIỆT NAM  
VÀ MỘT SỐ YÊU TỐ LIÊN QUAN  
Nguyễn Văn Dung1, Nguyễn Quang Dũng2, Đặng Kim Anh², Vũ Duy Hưng¹,  
Kim Tuấn Anh¹, Vũ Cao Cương¹, Bùi Thị Minh Thái³, Nguyễn Nhật Cảm³,  
Lê Thị Hương² và Phan Thị Bích Hanh2,  
1Sở Y Tế Hà Nội  
2Viện ĐT YHDP&YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội  
3Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội  
Cải thiện kiến thức về dinh dưỡng và chất lượng chế độ ăn uống cho thanh thiếu niên là mối quan tâm lớn đối  
với các nhà nghiên cứu. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá kiến thức về dinh dưỡng của thanh niên tại Hà  
Nội, Việt Nam và xác định một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 10890 đối  
tượng tại 30 quận/huyện/thị trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ 8/2018 đến tháng 10/2019. Kết quả  
cho thấy đa số các đối tượng biết rằng Canxi cần cho sự phát triển hệ xương (93,9%) nhưng chỉ có 35,2% và  
6,8% là nhắc đến vai trò của Vitamin D và Protein. Các thực phẩm giúp tăng chiều cao được lựa chọn là từ sữa  
(74,0%), tiếp theo là chế phẩm từ sữa hoặc động vật giáp xác (31,6% và 31,7%). Những đối tượng là nữ giới, đối  
tượng sống ở thành thị hoặc đối tượng có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên thì có điểm về kiến thức dinh dưỡng  
cao hơn so với người là nam giới, sống tại nông thôn hoặc có trình độ học vấn hết cấp 2. Đây sẽ là bằng chứng  
quan trọng trong việc triển khai các can thiệp để nâng cao kiến thức về dinh dưỡng cho thanh niên Việt Nam.  
Từ khoá: kiến thức dinh dưỡng, thanh niên, Hà Nội  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bổ sung dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp  
đặc biệt đến sức khỏe của trẻ em cả về sự phát  
triển về thể chất lẫn tinh thần cũng như sự phát  
triển nhận thức.1 Nghiên cứu trước đây đã chỉ  
ra rằng 60 - 80% chiều cao được quyết định  
bởi gen di truyền được thừa hưởng từ bố mẹ,  
trong khi đó môi trường có tác động khoảng  
20 - 40% đến sự phát triển chiều cao. Điều đó  
bao gồm cả khẩu phần ăn đủ chất, sức khỏe  
tốt, luyện tập thể dục đều đặn và ngủ đủ giấc.2  
Phần lớn thanh niên không đáp ứng các tiêu  
chuẩn khuyến nghị về hướng dẫn chế độ ăn  
uống và không có chế độ ăn uống lành mạnh.³  
Vì vậy, cải thiện kiến thức về dinh dưỡng và  
chất lượng chế độ ăn uống cho thanh thiếu niên  
đã trở thành mối quan tâm lớn đối với các nhà  
nghiên cứu.  
Thời thơ ấu và thanh thiếu niên là giai đoạn  
mà chế độ ăn uống có chất lượng dinh dưỡng  
tốt là rất quan trọng để thiết lập các hành vi lành  
mạnh liên quan đến tiêu thụ thực phẩm, từ đó  
có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong  
của người trưởng thành.⁴ Môi trường gia đình  
chủ yếu ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ thực  
phẩm của thanh niên, giai đoạn quan trọng của  
cuộc sống. Đây là giai đoạn trẻ sẽ bắt đầu hiểu  
các khái niệm về thực phẩm và thiếu kiến thức  
về dinh dưỡng có thể gây ra các đặc điểm hành  
vi kém. Mặt khác, thanh thiếu niên cũng có thể  
bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi bạn bè và phương  
Tác giả liên hệ: Phan Thị Bích Hạnh,  
Viện ĐT YHDP &YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 07/02/2020  
Ngày được chấp nhận: 28/03/2020  
286  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
tiện truyền thông đại chúng, và cũng có thể  
tham gia các chương trình về dinh dưỡng tại  
trường học.⁵  
mong muốn δ = 0,25cm. Từ đó tính ra được cỡ  
mẫu cần thiết với nam = 5.115 và nữ = 3.909.  
Tổng cỡ mẫu cần thiết là 9024, cộng thêm 20%  
dự phòng cho nghiên cứu nên tổng cỡ mẫu  
là 10830 thanh niên. Trên thực tế, tổng số có  
10890 đối tượng tham gia vào nghiên cứu này.  
Phương pháp chọn mẫu  
Do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu  
này nhằm mục tiêu đánh giá kiến thức về dinh  
dưỡng của thanh niên tại Hà Nội, Việt Nam và  
xác định một số yếu tố liên quan. Đây sẽ là  
bằng chứng quan trọng trong việc triển khai các  
can thiệp để nâng cao kiến thức về dinh dưỡng  
cho thanh niên Việt Nam.  
Phương pháp chọn mẫu qua nhiều giai  
đoạn được áp dụng: Bước 1 lựa chọn địa điểm  
nghiên cứu là 30 quận/huyện/thị xã (toàn bộ  
584 xã/phường/thị trấn trên địa bàn thành phố  
Hà Nội). Giai đoạn 2, tại mỗi xã/phường/thị trấn  
lập danh sách toàn bộ các thanh niên đủ điều  
kiện tham gia nghiên cứu theo giới (nam và  
nữ). Tổng hợp và lập thành danh sách chung  
của thành phố Hà Nội. Từ danh sách chung đã  
lập chọn đủ cỡ mẫu theo phương pháp chọn  
mẫu ngẫu nhiên hệ thống, tính trên mỗi giới  
(nam, nữ).  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Tiêu chuẩn lựa chọn: thanh niên Hà Nội đủ  
18 tuổi (216 - < 228 tháng); có hộ khẩu thường  
trú và hiện tại đang sinh sống ở Hà Nội trong  
thời điểm thu thập số liệu và đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ: là những đối tượng  
không đồng ý tham gia vào nghiên cứu hoặc  
gù, vẹo không đảm bảo được kỹ thuật đo chiều  
cao, phẫu thuật thay đổi chiều cao.  
Nội dung/chỉ số nghiên cứu  
Các thông tin chung của đối tượng phỏng  
vấn bao gồm giới tính, trình độ học vấn, tình  
trạng hôn nhân, tuổi dậy thì được thu thập  
thông qua tự khai báo. Nghiên cứu cũng tìm  
hiểu về thói quen theo dõi cân nặng, hành vi  
nguy cơ sức khoẻ (hút thuốc lá, uống rượu  
bia và sử dụng chất kích thích) của đối tượng  
nghiên cứu.  
2. Thiết kế, thời gian và địa điểm nghiên  
cứu  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được tiến hành  
trong thời gian từ 8/2018 đến tháng 10/2019 tại  
30 quận/huyện/thị xã của Hà Nội (toàn bộ 584  
xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà  
Nội). Trong số 30 quận/huyện/thị xã có 10 quận  
thành thị và 20 huyện nông thôn.  
Đối với các chỉ số nhân trắc, nghiên cứu tiến  
hành đo chiều cao đứng và cân nặng của đối  
tượng. Đo chiều cao đứng sử dụng vạch thước  
đo chiều cao trên giấy trắng dán vào mặt phẳng  
hoặc vạch trực tiếp trên mặt phẳng vuông góc  
với sàn nhà và yêu cầu người được đo chiều  
cao bỏ mũ, nón, giày dép và với nữ giới không  
được buộc tóc trên đỉnh đầu. Đối với đo cân  
nặng, dùng cân điện tử có độ chính xác đến  
0,1kg và tiến hành hiệu chỉnh cân trước khi đo.  
Khi tiến hành cân, cân được đặt trên nền bằng  
phẳng, vững chắc và yêu cầu người được cân:  
phải tháo bỏ giầy hoặc dép; quần áo nặng (như  
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu  
Cỡ mẫu  
Nghiên cứu áp dụng công thức tính cỡ mẫu  
cho một giá trị trung bình.  
2
2
+ z ) σ  
β
n = (z  
α
2
δ
Trong đó n là cỡ mẫu của mỗi giới (nam,  
nữ). Zα = 1,96 (α = 0,05) và Zβ = 1,04 (β = 0,2);  
Độ lệch chuẩn σ của Nam = 5,96 và Nữ = 5,21  
(Độ lệch chuẩn lấy từ nghiên cứu trước đây của  
Nguyễn Nhật Cảm và cộng sự (2016)). ⁶ Sai số  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
287  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
áo veston, áo chống nắng, đồ dùng để trong  
túi... ), bỏ mũ, khăn trùm đầu.  
giá trị trung bình và độ lệch chuẩn) và thống  
kê suy luận được sử dụng để mô tả thông tin  
chung và kiến thức về dinh dưỡng của thanh  
niên. Mô hình hồi quy Tobit đa biến và thuật  
toán stepwise được sử dụng để xác định các  
Kiến thức về dinh dưỡng của thanh niên bao  
gồm các câu hỏi về dinh dưỡng bữa ăn hợp lý,  
chất dinh dưỡng và nhóm thực phẩm cần cho  
phát triển của hệ xương và tăng chiều cao, thời  
điểm bú mẹ và ăn dặm của trẻ nhỏ. Mỗi câu trả  
lời đúng sẽ được 1 điểm và trả lời sai được 0  
điểm. Tổng điểm kiến thức về dinh dưỡng của  
thanh niên dao động từ 0 đến 19.  
yếu tố liên quan đến kiến thức dinh dưỡng của  
thanh niên với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa  
thống kê.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Khía cạnh đạo đức của đề tài được Hội  
đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học,  
trường đại học y tế công cộng chấp thuận theo  
số 8/2019/YTCC - HD3, ngày 30 tháng 1 năm  
2019  
3. Phương pháp xử lý số liệu  
Số liệu được thu thập và nhập bằng phần  
mềm Epidata và phân tích bằng phần mềm  
Stata 14. Thống kê mô tả (tần số, phần trăm,  
III. KẾT QUẢ  
Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu  
Nam  
Nữ  
Tổng số  
Tần số (n)  
p - value  
Tần số (n)  
%
Tần số (n)  
%
%
Nơi sống  
Thành thị (quận)  
2,292  
3,919  
36,9  
63,1  
1,646  
3,033  
35,2  
64,8  
3938,0  
6952,0  
36,2  
63,8  
0,1  
Nông thôn (huyện)  
Trình độ học vấn cao  
nhất  
Cấp 2  
479  
3,514  
548  
7,7  
56,6  
8,8  
182  
2,526  
401  
3,9  
54,0  
8,6  
661  
6,1  
55,5  
8,7  
< 0,01  
Cấp 3  
6040,0  
949,0  
3240,0  
Trung cấp, cao đẳng  
Đại học  
1,670  
26,9  
1,570  
33,6  
29,8  
Tình trạng hôn nhân  
Độc thân  
6,196  
15  
99,8  
0,2  
4,635  
44  
99,1  
0,9  
10831,0  
59,0  
99,5  
0,5  
< 0,01  
< 0,01  
Đã kết hôn  
Tuổi dậy thì  
Đã dậy thì  
3,563  
40  
57,4  
0,6  
3,515  
17  
75,1  
0,4  
7078,0  
57,0  
65,0  
0,5  
Chưa dậy thì  
Không nhớ  
2,608  
42,0  
1,147  
24,5  
3755,0  
34,5  
288  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Nam  
Nữ  
Tổng số  
p - value  
Tần số (n)  
%
Tần số (n)  
%
Tần số (n)  
%
Phân loại BMI  
Gầy ( < 18,5)  
1,100  
4,671  
17,7  
75,2  
1,314  
3,289  
28,1  
70,3  
2414,0  
7960,0  
22,2  
73,1  
< 0,01  
Bình thường (18,5 -  
24,99)  
Thừa cân (25 - 29,99)  
Béo phì (≥ 30)  
388  
52  
6,3  
0,8  
68  
8
1,5  
0,2  
456,0  
60,0  
4,2  
0,6  
Trung bình ĐLC Trung bình ĐLC Trung bình  
ĐLC  
9,6  
p - value  
< 0,01  
Cân nặng (kg)  
Chiều cao (cm)  
60,1  
9,2  
6,0  
49,3  
5,9  
5,4  
55,5  
169,1  
158,2  
164,4  
7,9  
< 0,01  
Bảng 1 mô tả thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. Gần hai phần ba thanh niên sống tại  
vùng nông thôn (63,8%). 55,5% các đối tượng đã hoàn thành cấp 3 và 29,8% đang học đại học. Tỷ  
lệ thanh niên đã kết hôn ở nữ giới nhiều hơn nam giới (0,9% và 0,2% tương ứng). Đa số thanh niên  
có chỉ số BMI bình thường (73,1%) và tỷ lệ gầy ở nữ giới cao hơn nam giới có ý nghĩa thống kê.  
Bảng 2. Đặc điểm theo dõi sức khoẻ và hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu  
Nam  
Tần số (n)  
3,630  
Nữ  
Tần số (n)  
3,228  
2,633  
30  
Tổng số  
Tần số (n)  
p - value  
%
%
%
59,1  
50,9  
6,0  
69.8  
56.9  
1.0  
6,858  
5,757  
405  
63,7  
53,5  
4,0  
< 0,01  
< 0,01  
< 0,01  
< 0,01  
< 0,01  
Theo dõi cân nặng  
3,124  
Theo dõi chiều cao  
Hút thuốc lá  
375  
Uống rượu bia  
2,355  
38,3  
17,6  
767  
16,6  
14,1  
3,122  
1,719  
29,0  
16,1  
1,073  
646  
Sử dụng chất kích thích  
Kết quả từ bảng 2 cho thấy khoảng gần hai phần ba thanh niên có theo dõi cân nặng cá nhân  
(63,7%) và một nửa các thanh niên có theo dõi về chiều cao (53,5%). Có 4,0% đối tượng có hút  
thuốc lá, 29,0% uống rượu bia và 16,1% có sử dụng chất kích thích và tỷ lệ này ở nam giới cao hơn  
một cách có ý nghĩa thống kê.  
Bảng 3. Kiến thức dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Phần trăm (%)  
Bữa ăn hợp lý  
Cung cấp đủ năng lượng  
Đầy đủ 4 nhóm thực phẩm  
5715  
3405  
53,0  
31,5  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
289  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Phần trăm (%)  
Tỷ lệ các chất dinh dưỡng hợp lý  
2546  
23,5  
Chất dinh dưỡng cần cho sự phát triển hệ xương  
Canxi  
10181  
3809  
743  
93,9  
35,2  
6,78  
Vitamin D  
Protein  
Nhu cầu canxi/ngày nhiều nhất  
10 - 18 tuổi  
6593  
961  
60,9  
8,9  
> 50 tuổi  
Phụ nữ có thai  
Phụ nữ cho con bú  
1447  
125  
13,4  
1,16  
5,6  
1000 ngày đầu đời  
Thực phẩm hỗ trợ tăng chiều cao  
Sữa  
606  
8005  
3415  
2172  
4663  
1201  
955  
74,0  
31,6  
20,1  
43,1  
11,2  
8,8  
Chế phẩm từ sữa  
Thực phẩm chứa nhiều sắt  
Trứng  
Uống đủ nước  
Giàu vitamin A  
Động vật giáp xác  
3434  
31,7  
Đơn vị sữa 1 ngày cho người trên 18 tuổi  
3 - 4 đơn vị  
6051  
55,9  
Thời gian trẻ ngậm bắt vú mẹ lần đầu  
Càng sớm càng tốt  
5851  
4531  
7246  
7535  
54,1  
41,8  
66,9  
69,6  
Nên bú sữa mẹ hoàn toàn trong bao lâu  
6 tháng đầu  
Khi nào cho trẻ ăn dặm  
Từ tháng thứ 7  
Cho trẻ bú mẹ đến khi nào  
18 - 24 tháng  
Đánh giá về kiến thức dinh dưỡng của đối tượng được mô tả trong bảng 3. Một nửa các đối  
tượng đồng ý rằng bữa ăn hợp lý là cung cấp đủ năng lượng (53,0%). Đa số các đối tượng biết rằng  
290  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Canxi cần cho sự phát triển hệ xương (93,9%) nhưng chỉ có 35,2% và 6,8% là nhắc đến vai trò của  
Vitamin D và Protein. Chỉ có 5,6% cho rằng nhu cầu canxi/ngày nhiều nhất ở giai đoạn 1000 ngày  
đầu đời. Các thực phẩm giúp tăng chiều cao được lựa chọn là từ sữa (74,0%), tiếp theo là chế phẩm  
từ sữa hoặc động vật giáp xác (31,6% và 31,7%). Chỉ có 41,8% thanh niên cho rằng trẻ nên bú mẹ  
hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu.  
Bảng 4. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu  
Kiến thức dinh dưỡng  
Coef  
95%CI  
Giới tính  
Nam giới  
-
-
Nữ giới  
0,20***  
0,06; 0,33  
Nơi sống  
Thành thị  
-
-
Nông thôn  
- 0,56***  
- 0,70; - 0,43  
Trình độ học vấn  
Cấp 2  
-
-
Cấp 3  
0,71***  
0,92***  
0,95***  
0,41; 1,01  
0,55; 1,28  
0,64; 1,26  
Trung cấp, cao đẳng  
Đại học  
Theo dõi cân nặng (có so với không)  
Không  
-
-
Có  
0,40***  
0,20; 0,60  
Theo dõi chiều cao (có so với không)  
Không  
-
-
Có  
0,34***  
0,15; 0,52  
Hút thuốc (có so với không)  
Không  
-
-
Có  
- 0,68***  
- 1,03; - 0,32  
*** p < 0,01, ** p < 0,05, * p < 0,1  
Bảng 4 cho thấy những người là nữ giới hoặc người có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên thì có  
điểm về kiến thức dinh dưỡng cao hơn so với nam giới hoặc có trình độ học vấn hết cấp 2. Sống tại  
thành thị cũng liên quan thuận chiều đến tăng điểm kiến thức dinh dưỡng so với sống tại vùng nông  
thôn. Bên cạnh đó những người có thói quen theo dõi chiều cao và cân nặng cũng có điểm về kiến  
thức cao hơn.  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
291  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
IV. BÀN LUẬN  
dinh dưỡng, cũng như các chương trình giáo  
dục dinh dưỡng tại trường học hơn so với trẻ  
tại vùng nông thôn. Hơn thế nữa, nghiên cứu  
trước đây cũng cho thấy bố mẹ thanh niên ở  
thành thị quan tâm nhiều hơn đến tầm vóc phát  
triển của con cái họ.10 Việc thường xuyên theo  
dõi cân nặng và chiều cao cũng góp phần làm  
cải thiện kiến thức về dinh dưỡng.  
Kết quả của nghiên cứu này đã cung cấp  
các bằng chứng quan trọng về việc đánh giá  
kiến thức về dinh dưỡng trong việc cải thiện  
chiều cao của thanh niên Việt Nam. Đa số các  
đối tượng nghiên cứu có điểm kiến thức chưa  
cao trong xác định các loại thực phẩm cần thiết  
để tăng chiều cao. Điểm kiến thức còn tương  
đối thấp về các thông tin liên quan đến bú sữa  
mẹ và ăn dặm ở trẻ nhỏ. Nữ giới, sống tại thành  
thị, thường xuyên theo dõi chiều cao cân nặng  
có liên quan tích cực đến gia tăng điểm kiến  
thức ở đối tượng nghiên cứu.  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu của chúng tôi đã cung cấp các  
bằng chứng quan trọng về việc đánh giá kiến  
thức về dinh dưỡng trong việc cải thiện chiều  
cao của thanh niên Việt Nam. Đa số các đối  
tượng nghiên cứu có điểm kiến thức chưa cao  
trong xác định các loại thực phẩm cần thiết để  
tăng chiều cao. Các can thiệp nâng cao kiến  
thức về dinh dưỡng cần được đẩy mạnh và tập  
trung vào đối tượng nam giới, sống tại nông  
thôn và ít theo dõi chiều cao cân nặng.  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp  
với những nghiên cứu trước đây về kiến thức  
dinh dưỡng cải thiện chiều cao của thanh niên.  
Đa số người trả lời đều chỉ biết đến vai trò của  
Canxi trong phát triển hệ xương mà ít đề cập  
đến Vitamin D và các chất dinh dưỡng khác.7  
Kiến thức về cho trẻ bú sữa mẹ cũng báo cáo  
thấp trong nghiên cứu này, tương tự với các  
nghiên cứu trước đây. Các hoạt động tuyên  
truyền về nuôi con bằng sữa mẹ hướng thanh  
thiếu niên và trẻ nhỏ nên cần được chú trọng,  
điều này rất quan trọng vì thái độ của việc cho  
con bú được hình thành trong giai đoạn đầu  
của tuổi thiếu niên.⁸  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Story M, Neumark - Sztainer D, French  
S. Individual and environmental influences on  
adolescent eating behaviors. Journal of the  
American Dietetic Association. 2002;102(3  
Suppl):S40 - 51.  
Những người là nữ giới có điểm kiến thức về  
dinh dưỡng cải thiện chiều cao cao hơn so với  
nam giới. Điều này cũng tương đồng với các  
nghiên cứu trước đây bởi nữ giới hay để ý đến  
ngoại hình nhiều hơn, đặc biệt là trong thời kỳ  
tuổi dậy thì.⁹ Bên cạnh đó, những người sống ở  
thành thị cũng có xu hướng có điểm kiến thức  
cao hơn so với đối tượng ở nông thôn. Kết quả  
này tương tự với kết quả của nghiên cứu trước  
đây đánh giá về tình trạng dinh dưỡng của  
trẻ ở thành thị và nông thôn chỉ ra rằng thanh  
2. Shepherd J, Harden A, Rees R, et al.  
Young people and healthy eating: a systematic  
review of research on barriers and facilitators.  
Health Educ Res. 2006;21(2):239 - 257.  
3. Naeeni MM, Jafari S, Fouladgar M, et  
al. Nutritional Knowledge, Practice, and Dietary  
Habits among school Children andAdolescents.  
Int J Prev Med. 2014;5(Suppl 2):S171 - 178.  
4. Guo SS, Wu W, Chumlea WC, Roche  
AF. Predicting overweight and obesity in  
adulthood from body mass index values in  
childhood and adolescence. Am J Clin Nutr.  
2002;76(3):653 - 658.  
niên ở vùng nông thôn thấp và nhẹ cân hơn  
10  
.
Trẻ ở sống ở thành thị có nhiều điều kiện  
tiếp cận với các kênh thông tin về sức khoẻ và  
5. Kristjansdottir AG, Thorsdottir I, De  
292  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bourdeaudhuij I, Due P, Wind M, Klepp KI.  
Determinants of fruit and vegetable intake  
among 11 - year - old schoolchildren in a  
country of traditionally low fruit and vegetable  
consumption. The international journal of  
behavioral nutrition and physical activity.  
2006;3:41.  
a crosssectional study. East Mediterr Health J.  
2017;23(8):551 - 558.  
8. Catipovic M, Voskresensky Baricic T,  
Rokvic S, Grguric J. Adolescents' Knowledge of  
Breastfeeding and Their Intention to Breastfeed  
in the Future. Children (Basel). 2017;4(6): 51.  
9. Stulp G, Buunk AP, Pollet TV, Nettle D,  
Verhulst S. Are human mating preferences with  
respect to height reflected in actual pairings?  
PloS one. 2013;8(1):e54186.  
6. Nguyễn Nhật Cảm. Tình trạng dinh  
dưỡng và một số yếu tố liên quan của học sinh  
trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Hà  
Nội năm 2016. Tạp chí Y học dự phòng. 2017;  
27(8): 58.  
10. Horiuchi Y, Kusama K, Kanha S,  
Yoshiike N, team Fr. Urban - Rural Differences  
in Nutritional Status and Dietary Intakes of  
School - Aged Children in Cambodia. Nutrients.  
2018;11(1):14.  
7. Al - Yateem N, Rossiter R. Nutritional  
knowledge and habits of adolescents aged 9  
to 13 years in Sharjah, United Arab Emirates:  
Summary  
ASSESSING VIETNAMESE YOUTH'S NUTRITIONAL KNOWLEDGE  
IN IMPROVING THE HEIGHT AND IDENTIFYING RELATED FACTORS  
Improving the knowledge of nutrition and diet quality for adolescents is a major concern for  
researchers. This study aims to assess the knowledge of nutrition among young people in Hanoi,  
Vietnam and identify associated factors. A cross-sectional descriptive study was conducted on  
10890 subjects in 30 districts/towns in Hanoi capital. Most people knew that calcium was needed  
for the bone growth (93.9%) but only 35.2% and 6.8% referred to the role of Vitamin D and Protein.  
Food that helped increase height were selected from milk (74.0%), followed by dairy products or  
crustaceans (31.6% and 31.7%). Female, who lived in urban areas or who had an educational  
level of high school or higher, were more likely to have higher nutritional knowledge scores than  
to men, who lived in rural areas or who had a secondary education level. This will be an important  
evidence in the implementation of interventions to improve nutrition knowledge for Vietnamese youth.  
Keyword: knowledge of nutrition and diet, adolescents, Hanoi  
TCNCYH 129 (5) - 2020  
293  
pdf 8 trang yennguyen 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức về dinh dưỡng cải thiện chiều cao của thanh niên tại Hà Nội, Việt Nam và một số yêu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_ve_dinh_duong_cai_thien_chieu_cao_cua_thanh_nien_t.pdf