Báo cáo Tổng kết chương trình tình nguyện bảo tồn rùa biển Côn Đảo năm 2014

Báo cáo Tổng kết Chương trình  
Tình nguyện Bảo tồn Rùa biển Côn Đảo  
năm 2014  
Lê Thị Thanh Thủy  
Rùa con trở về biển.Việt Nam©Vũ Hoài Nam,2014  
TỔ CHỨC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN QUỐC TẾ  
MỤC LỤC  
2
TÓM TẮT  
Trong khuôn khổ Dự án “Bảo tồn bải đẻ của rùa biển có sự tham gia của cộng đồng tại Việt Nam”  
do Cơ quan Dịch vụ về Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ (US FWS) tài trợ, Tổ chức Bảo tồn  
Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo tổ chức chương  
trình tình nguyện viên (TNV) tham gia công tác cứu hộ Rùa biển tại Côn Đảo năm 2014. Chương  
trình gồm 4 đợt với 23 TNV tham gia cụ thể như sau:  
Đợt 1: Từ ngày 08 - 12/7/2014, có 06 TNV tham gia. Địa điểm thực hiện: Trạm kiểm lâm  
Bảy Cạnh (03 ngày).  
Đợt 2: Từ ngày 26 - 30/7/2014, có 06 TNV tham gia. Địa điểm thực hiện: Trạm kiểm lâm  
Bảy Cạnh (03 ngày).  
Đợt 3: Từ ngày 26 – 30/8/2014, có 05 TNV tham gia. Địa điểm thực hiện: Trạm kiểm lâm  
Hòn Tài 03 TNV và Trạm kiểm lâm Hòn Tre Lớn 02 TNV (03 ngày)  
Đợt 4: từ ngày 26/8 - 04/9/2014, có 06 TNV tham gia, địa điểm thực hiện Trạm kiểm lâm  
Bảy Cạnh (08 ngày).  
Kết thúc chương trình, các TNV cho rằng đây là một chương trình có ý nghĩa, đã cung cấp cho  
TNV nhiều thông tin về công tác cứu hộ bảo vệ rùa biển tại Côn Đảo, góp phần nâng cao nhận  
thức và giáo dục ý thức cộng đồng. 87.5% TNV cho rằng chương trình đã đáp ứng được 90-  
100% mong đợi của họ. 12.5% cho rằng đã đáp ứng được 70-80%. Các cán bộ tổ chức và điều  
phối tại hiện trường đã hỗ trợ chương trình nhiệt tình, kịp thời và chuẩn bị chu đáo. Về tài chính,  
minh bạch, rõ ràng. Hầu hết các TNV đều nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với  
công việc.  
Tuy nhiên, do lần đầu tiên tổ chức, chương trình không tránh khỏi những thiếu sót và cần xem  
xét, khắc phục những vấn đề sau:  
Khi kêu gọi TNV, cần nêu rõ tiêu chí lựa chọn TNV cũng như số lượng TNV sẽ được nhận  
mỗi đợt. Nếu các tiêu chí tuyển chọn được thông báo rõ ràng, các ứng viên có thể tự đánh  
giá sự đáp ứng của bản thân đối với yêu cầu của chương trình. BTC cũng có thể giảm áp  
lực và thời gian chọn lọc các hồ sơ. Hơn nữa, mỗi ứng viên có thời gian tiếp cận với thông  
tin về chương trình khác nhau, nên nếu xꢀt hồ sơ theo tiêu chꢁ ưu tiên người đến trước  
thì sẽ rất đáng tiếc vì có thể bỏ lꢂ những ứng viên phù hợp với chương trình.  
Mẫu đăng ký còn đơn giản, không khai thác được hết thông tin và khả năng của TNV.  
Mẫu đơn nên bổ sung thêm thông tin về thể trạng (chiều cao, cân nꢃng, tình trạng sức  
khoẻ) để đảm bảo chương trình lựa chọn được những tình nguyện viên đủ sức khỏe đảm  
đương công việc. Để đánh giá được sự nhiệt tình và mong muốn tham gia chương trình  
nghiêm tục, mẫu đăng ký cần bổ sung thêm một số câu hỏi như “Hãy kể cho chúng tôi về  
một hoạt động cộng đồng gần đây của bạn?”, “Bạn sẽ làm gì trong vai trò của một tình  
nguyện viên”, “kế hoạch truyền thông của bạn sau khi tham gia chương trình như thế  
nào?”  
Thời hạn kết thúc đăng ký sớm hơn so với thông báo ban đầu, làm cho nhiều người muốn  
đăng ký nhưng không được chấp nhận. Các hạn phản hồi và thời gian gửi hơi ngắn. Nên  
3
 
đꢃt một kế hoạch làm việc sớm để cả bên tổ chức lẫn TNV có cơ hội sắp xếp công việc  
tốt và có thời gian chuẩn bị cho chuyến đi, về cả sức khỏe lẫn tinh thần.  
Thời gian: nên kéo dài thời gian tình nguyện tại các trạm bảo tồn rùa biển hoꢃc tận dụng  
triệt để thời gian thực hiện chương trình. Hiện tại, chương trình 5 ngày gồm 2 ngày là  
ngày đi lại, chỉ có 3 ngày là thực chất làm việc. Hay chương trình 10 ngày nhưng chỉ có 8  
ngày sống và trải nghiệm tại các trạm bảo tồn rùa ở Côn Đảo.  
Các tài liệu, thông tin về rùa biển và thông tin về địa điểm tình nguyện (như Hòn Bảy  
Cạnh, Hòn Tre Lớn) cần được gửi trước và gửi sớm cho TNV để nghiên cứu tìm hiểu  
trước, từ đó chuẩn bị hành lý và vật dụng mang theo phù hợp.  
Khâu tổ chức cần có sự phối hợp chꢃt chẽ hơn nữa giữa IUCN và VQG Côn Đảo để thông  
tin được thông suốt, tránh hiểu lầm cho TNV.  
Nên có những chuyên gia về rùa biển cùng tham gia phối hợp để có thể truyền đạt những  
kiến thức sâu hơi về rùa, cùng với đó là những kỹ năng chăm sóc và cứu hộ rùa bị thương  
để TNV có thể kịp thời ứng phó với nhiều tình huống thực tế.  
BTC nên lựa chọn TNV từ các thành phần xã hội khác nhau, đa dạng độ tuổi để công tác  
tuyên truyền, nâng cao nhận thức có thể đến được với nhiều tầng lớp nhân dân trong xã  
hội hơn.  
Các TNV cũng thấy rằng điều kiện sinh hoạt trên trạm còn khá thiếu thốn. Lực lượng kiểm lâm  
còn mỏng trong khi các áp lực khai thác rùa biển trái phép vẫn gia tăng. Các tour du lịch trên các  
đảo nhỏ chưa được kết hợp với công tác tuyên truyền, bảo vệ rùa biển. Trong các tour du lịch  
xem rùa đẻ trứng, nên kết hợp với việc truyền thông bảo vệ rùa biển để công tác bảo vệ rùa biển  
tốt hơn, lan rộng hơn.  
Khi được hỏi động lực tham gia chương trình, 81.25% TNV cho rằng mong muốn được hiểu biết  
về rùa biển là động lực quan trọng nhất để họ đăng ký tham gia. 25% TNV cho rằng những trải  
nghiệm trong cuộc sống khó khăn thôi thúc họ đăng ký tham gia chương trình nhất. Và 18.75%  
cho rằng địa điểm chương trình ở Côn Đảo là yếu tố hàng đầu khiến họ đăng ký tham gia.  
Khi được hỏi, nếu trong các chương trình tiếp theo, không còn sự hỗ trợ tài chính của IUCN và  
VQG Côn Đảo, bạn có tiếp tục tham gia không? 75% khẳng định là có, 12.5% trả lời là không và  
12.5% cần cân nhắc tổng mức chi phí cho phù hợp với ngân sách của mình.  
Tất cả TNV đều đồng ý nên nhân rộng chương trình và tiếp tục cho các năm sau.  
“IUCN và VQG Côn Đảo đã cho chúng tôi một cơ hội vô cùng tuyệt vời, đây là một trong những  
chương trình vô cùng ý nghĩa và thú vị mà tôi từng được tham gia. Tôi tin đây cũng là một trải  
nghiệm tuyệt vời cho tất cả các bạn tình nguyện. Mong rằng những chương trình như thế này  
được nhân rộng, nhiều người được tham gia hơn” – TNV Đỗ Thị Thu Hà tham gia chương trình  
từ ngày 8 – 12/7/2014 chia sẻ.  
4
NHỮNG CON SỐ THỐNG KÊ  
Thông báo Tuyển TNV được đăng tải lần đầu trên website của IUCN và VQG Côn Đảo vào ngày  
22 tháng 5 năm 2014. Trong vòng 1 tháng, đến ngày 20 tháng 6 năm 2014, Ban tổ chức (BTC)  
đã nhận được hơn 500 phiếu đăng ký tham gia  
Tổng số TNV tham gia là 23 người. Thành phần TNV gồm: 10 nam, 13 nữ. Trình độ: Có 03  
TNV là học sinh PTTH, 03 TNV là sinh viên Đại học và 17 TNV đã tốt nghiệp Đại học và đang làm  
việc. Quốc tịch: Việt Nam, có 19 TNV công tác ở Việt Nam, 04 TNV học tập và công tác ở nước  
ngoài (Anh, Mỹ, Đức và Thái Lan).  
Qua các đợt, TNV tham gia công tác cứu hộ Rùa biển tại các đảo nhỏ đã thực hiện di dời an toàn  
96 tổ, tổng số 7.429 trứng; kiểm tra, vệ sinh 106 tổ rùa sau khi nở, thả về biển 8.433  
cá thể rùa con  
Ngoài ra, các TNV còn tham gia 13 lượt tuần tra bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời  
hướng dẫn và giới thiệu về bảo vệ các loài Rùa biển cho 12 lượt khách xem rùa đẻ  
trứng và 217 lượt khách tham quan du lịch đến khu vực  
Rùa con mới nở tại Côn Đảo.Việt Nam©Ngô Bảo Ngọc,2014  
5
 
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA TÌNH NGUYỆN VIÊN SAU CHƯƠNG  
TRÌNH  
Đại diện Tình nguyện viên, BQL VQG Côn Đảo và IUCN ©Vũ Hoài Nam,2014  
Sau khi tham gia chương trình, các tình nguyện viên đã được yêu cầu điền vào phiếu đánh giá  
và sau đây là kết quả tổng hợp các phiếu đánh giá này:  
1. Những kiến thức và kỹ năng học được từ chương trình  
“Trước khi tham gia chương trình, tôi chưa bao giờ nghĩ loài rùa đang trong nguy cơ tuyệt chủng.  
Tôi vẫn nghĩ loài rùa là một loài lâu năm, và vẫn có một thế giới bình thường ngoài đại dương kia.  
Tôi vẫn nghĩ những nơi có loài rùa lên đẻ trứng là ở các quần đảo xa xôi như Indonesia,  
Australia…, và ở Việt Nam mình chỉ có những loài như ba ba, hay những con rùa cảnh nuôi trong  
nhà, và to nhất có lẽ là cụ rùa ở Hồ Gươm. Sau khi tham gia chương trình, tôi mới biết loài rùa  
đang đối mặt với những mối nguy hiểm như thế nào. Con người đang săn bắt loài rùa với số  
lượng lớn như thế nào…” – TNV Nguyễn Anh Vũ tham gia từ ngày 21 – 26/7/2014 chia sẻ.  
Sau khi tham gia chương trình, các TNV đều cho rằng hiểu biết về rùa biển của họ đã tăng lên  
đáng kể. Khóa tập huấn đầu chương trình giúp họ đã nắm bắt được các thông tin cơ bản về phân  
loại ruà, tập tính sinh sản và bản năng sinh tồn của rùa biển và những mối đe dọa tới sự tồn tại  
của rùa biển. Qua những ngày trải nghiệm tại các trạm bảo tồn rùa biển, các TNV đã có cơ hội  
6
   
thực hành những kỹ năng nhận biết tổ đẻ nào thành công hay không thành công từ việc quan sát  
dấu vết rùa để lại trên mꢃt cát hay lúc rùa dùng các vây bơi, kỹ năng đào ổ trứng, cách dùng đèn  
chiếu sáng phù hợp khi thu nhꢃt rùa nở, di chuyển an toàn ổ trứng rùa về hồ ấp, san lấp ổ đẻ của  
rùa mẹ, thả rùa con xuống biển, kỹ năng thống kê tỷ lệ rùa nở thành công. Nhiều người đã nhận  
thức được bảo tồn rùa biển là góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ chính cuộc sống  
của mình.  
Ngoài ra, những ngày sống tại các Hòn Bảy Cạnh và Hòn Tre lớn, các TNV cũng nắm bắt được  
nhiều thông tin thú vị về các loài động thực vật đa dạng tại Vườn Quốc gia Côn Đảo, biết thêm  
được những kiến thức hay về thời tiết, khí hậu, đại dương (ví dụ: thời gian thuỷ triều, hệ san hô,  
các loài cá, thuỷ sinh…). Họ cũng được rèn luyện ý thức tiết kiệm nước sạch trên một hòn đảo,  
sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn năng lượng điện, các kỹ năng đi rừng và đi trên biển trong  
điều kiện thời tiết khắc nghiệt và nguy hiểm.  
TNV Nguyễn Vĩnh Lợi tham gia từ ngày 8 – 12/7/2014 cho rằng “Những kỹ năng đi rừng hay đi  
trên biển sẽ giúp tôi đến những vùng có điều kiện tương tự, phải luôn biết trang bị đầy đủ các vật  
dụng gọn nhẹ và thật cần thiết khi đi đến những vùng rừng núi biển đảo xa xôi như việc chuẩn bị  
võng ngủ, chăn đắp gọn nhẹ, thức ăn dự trữ, nước uống, thuốc chống muỗi, một số loại thuốc  
thông thường. [...]. Bên cạnh đó tôi còn có cơ hội được khám phá nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên,  
được thử sức mình khi sống trong môi trường biển đảo”.  
Đꢃc biệt các TNV rất khâm phục tinh thần làm việc nghiêm túc, nhiệt tình, hết mình vì công việc  
của các chiến sỹ kiểm lâm tại các Hòn Bảy Cạnh và Hòn Tre lớn. Dù điều kiện làm việc còn nhiều  
thiếu thốn nhưng các anh luôn lạc quan, có trách nhiệm với công việc.  
“Chuyến đi mang lại cho bản thân tôi và các bạn đồng hành không chỉ là kiến thức về rùa biển,  
mà còn nhiều hiểu biết khác về môi trường sinh thái, về kỹ năng sống, nhìn thấy nhiều đời sống  
khác và giúp chúng tôi hiểu thêm nhiều về ý nghĩa cuộc sống. …Vượt qua tất cả những điều đó,  
các anh vẫn vững vàng với trách nhiệm công việc, nếu như không phải có kỷ luật với bản thân  
mình thì không phải ai cũng có thể làm được như vậy. Không những vậy, các anh cũng rất lạc  
quan, bữa ăn nào cũng đầy ắp tiếng cười. Tuy vậy, đến lúc làm việc, phân công công việc hay  
lúc họp hành thì các anh lại rất nghiêm túc và chỉn chu. Điều đó khiến tôi càng thêm khâm phục  
các anh và càng thấy rằng việc được đến đây, cùng làm việc, chia sẻ khó khăn và cùng làm cho  
khoảng thời gian ngắn ngủi với các anh vui nhất có thể là một may mắn và là một điều vô cùng ý  
nghĩa đối với bản thân mình”_ TNV Nguyễn Hải Vân tham gia từ ngày 26 – 20/8/2014 tâm sự.  
Đối với các bạn sinh viên trẻ, chương trình đã tạo cơ hội cho họ trau dồi thêm cả kỹ năng giao  
tiếp, làm việc nhóm, phân bổ thời gian, có thêm nhiều người bạn tốt và có động lực phấn đấu  
trong cuộc sống.  
“Chương chình cho tôi biết được sự khó khăn của người khác nhưng họ vẫn cố gắng, vẫn phấn  
đấu, giúp tôi có động lực hơn cho cuộc sống sau này”_TNV Võ Ngọc Lệ Hằng tham gia từ ngày  
26/8 – 4/9/2014 chia sẻ.  
7
2. Đánh giá về khâu tổ chức trước chương trình  
87.5% TNV cho rằng khâu tổ chức rất tốt hoꢃc tốt. Chương  
trình được thông báo rộng rãi trên các phương tiện, tạo cơ  
hội công bằng đến cho tất cả mọi người tham gia. BTC đã  
gửi đầy đủ các thông tin về chương trình làm việc, những  
vật dụng cần mang theo, nội quy xem rùa biển. Tất cả các  
bước được thực hiện qua internet, thuận tiện để cho mọi  
người đăng ký và liên lạc.  
Khâu tổ chức  
chương trình  
12.50%  
25%  
62.50%  
Tuy nhiên các TNV cũng chỉ ra những mꢃt chưa tốt trong tổ  
chức chương trình cùng các góp ý hoàn thiện như sau:  
Việc kêu gọi tuyển TNV nên được thông báo trên  
nhiều trang cộng đồng hơn nữa.  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
Khi kêu gọi, cần nêu rõ tiêu chí lựa chọn TNV cũng như số lượng TNV sẽ được nhận mỗi  
đợt. Nếu các tiêu chí tuyển chọn được thông báo rõ ràng, các ứng viên có thể tự đánh  
giá sự đáp ứng của bản thân đối với yêu cầu của chương trình. BTC cũng có thể giảm áp  
lực và thời gian chọn lọc các hồ sơ. Hơn nữa, mỗi ứng viên có thời gian tiếp cận với thông  
tin về chương trình khác nhau, nên nếu xꢀt hồ sơ theo tiêu chꢁ ưu tiên người đến trước  
thì sẽ rất đáng tiếc vì có thể bỏ lꢂ những ứng viên phù hợp với chương trình.  
Mẫu đăng ký còn đơn giản, không khai thác được hết thông tin và khả năng của TNV.  
Mẫu đơn nên kèm thêm thông tin về thể trạng (chiều cao, cân nꢃng) tình trạng sức khoẻ  
để đảm bảo chương trình lựa chọn được những tình nguyện viên đủ sức khỏe đảm đương  
công việc. Để đánh giá được sự nhiệt tình và mong muốn tham gia chương trình nghiêm  
tục, mẫu đăng ký cần bổ sung thêm một số câu hỏi như “Hãy kể cho chúng tôi về một  
hoạt động cộng đồng gần đây của bạn?”, “Bạn sẽ làm gì trong vai trò của một tình nguyện  
viên”, “kế hoạch truyền thông của bạn sau khi tham gia chương trình như thế nào?”  
Thời hạn kết thúc đăng ký sớm hơn so với thông báo ban đầu, làm cho nhiều người muốn  
đăng ký nhưng không được chấp nhận. Các hạn phản hồi và thời gian gửi hơi ngắn, Nên  
đꢃt một kế hoạch làm việc sớm để cả bên tổ chức lẫn TNV có cơ hội sắp xếp công việc  
tốt và có thời gian chuẩn bị cho chuyến đi, về cả sức khỏe lẫn tinh thần  
Cần thêm 1 số hình ảnh những nơi sẽ đến, 1 buổi gꢃp nhau trước đó hoꢃc sau đó để tổng  
kết, chia sẻ các thông tin, hình ảnh  
BTC nên lựa chọn TNV từ các thành phần xã hội khác nhau, đa dạng độ tuổi để công tác  
tuyên truyền, nâng cao nhận thức có thể đến được với nhiều tầng lớp nhân dân trong xã  
hội hơn  
8
 
3. Đánh giá về khóa tập huấn nâng cao nhận thức và cứu hộ rùa biển  
93.75% TNV cho rằng khóa tập huấn rất tốt  
Tập huấn bảo tồn rùa biển  
hoꢃc tốt. Buổi tập huấn đã cung cấp cho các  
TNV những thông tin bổ ích về rùa biển từ  
cách nhận biết các loại rùa đến tập tính sinh  
sản, bản năng sinh tồn… Chỉ ra các hiểm họa  
từ thiên nhiên và con người, đe dọa sự sống  
và duy trì nòi giống của rùa biển. Buổi tập huấn  
cũng đã cung cấp cho TNV những thông tin  
tổng quát về các hoạt động bảo tồn rùa biển ở  
Việt Nam nói chung và ở Vườn Quốc gia Côn  
Đảo nói riêng. Qua buổi tập huấn, các TNV đã  
6.25%  
0%  
37.50%  
56.25%  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
Kém  
được trang bị những quy định cần thiết và những kinh nghiệm thiết yếu để có thể đảm bảo an  
toàn cho bản thân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong thời gian thực địa ở các đảo nhỏ.  
Khóa tập huấn bắt đầu đúng giờ, công tác chuẩn bị chu đáo. Hồ sơ tài liệu đẹp, cụ thể và đủ  
thông tin cần thiết. Người hướng dẫn nhiệt tình, rõ ràng, dễ hiểu.  
Cán bộ VQG Côn Đảo tập huấn kiến thức cứu hộ rùa biển cho TNV ©Đỗ Thị Thu Hà,2014  
Tuy nhiên, các TNV yêu cầu:  
Các tài liệu và thông tin về rùa biển nên được gửi cho TNV trước để có thời gian tìm hiểu  
và đọc kỹ hơn. Từ đó, TNV sẽ có thể chuẩn bị nhiều câu hỏi hơn. Sau buổi tập huấn là  
9
 
lên tàu ra đảo luôn, nhiều khi Tình nguyện viên không đủ thời gian đọc hết tài liệu nếu chỉ  
được phát trong buổi tập huấn.  
Buổi tập huấn chưa có chi tiết các kỹ năng chăm sóc và cứu hộ (trị thương) cho rùa biển.  
Trong quá trình làm việc tại các đảo, TNV đã gꢃp nhiều rùa con bị thương nhưng chưa  
biết cách trị thương. Buổi tập huấn nên bổ sung những kiến thức và kỹ năng này  
Vì đây là khóa tập huấn nên kinh nghiệm là yếu tố hàng đầu, nhưng về mꢃt khoa học vẫn  
còn hạn chế. Một số bài trình bày chưa hấp dẫn, cần được giới thiệu sinh động hơn như  
thông qua các câu hỏi đố vui  
TNV Ngô Tiến Thịnh tham gia từ ngày 21-25/7/2014 bày tỏ: “Theo tôi thì chuyến đi lần này mang  
tính chất tìm hiểu nhiều hơn so với trợ giúp cán bộ kiểm lâm cứu hộ rùa biển, nếu có một lần nữa  
vào năm sau thì tôi muốn đóng góp nhiều hơn nữa có thể ở với kiểm lâm lâu hơn nữa như vậy  
sẽ làm được nhiều việc hơn”.  
4. Đánh giá về các hoạt động bảo vệ rùa biển taị các trạm bảo vệ rùa biển  
Tất cả các TNV đều đánh giá các hoạt động bảo  
vệ rùa biển tại Hòn Bảy Cạnh và Hòn Tre lớn đều  
Hoạt động bảo tồn rùa biển  
tại các đảo  
tốt hoꢃc rất tốt. Quá trình chờ đợi rùa đẻ để đào  
trứng, di dời về tổ ấp được tiến hành hết sức  
kiên nhẫn, cẩn thận, không gây xáo động cho  
rùa mẹ và đảm bảo an toàn cho ổ trứng rùa.  
Công tác đánh dấu ổ trứng và thống kê được  
tiến hành tuần tự, khoa học. Công tác di dời tổ  
37.50%  
62.50%  
trứng rất có hiệu quả, đa số các trứng sau khi di  
dời đều nở, và hầu như không có tổ trứng nào bị  
bỏ sót.  
Rất tốt  
Tốt  
Các anh kiểm lâm đã làm việc hết mình, không  
quản khó khăn gian khổ, nhiệt tình, trách nhiệm, công tâm, chính trực. Mꢃc dù làm việc với cường  
độ cao nhưng các anh vẫn luôn vui vẻ nhiệt tình chỉ dẫn. Ngoài ra, trong điều kiệu khó khăn trên  
đảo, các anh đã có những sáng kiến thú vị (như những chiếc hộp để gọi điện thoại).  
Trạm kiểm lâm hòn Bảy Cạnh là địa chỉ quan trọng trong công tác bảo tồn rùa biển. Cơ sở vật  
chất ở đây nhìn chung là kiên cố, các anh có các trang thiết bị cho tác nghiệp từ ca nô, bộ đàm,  
súng,.. Đây cũng là cơ sở để các hoạt động bảo vệ rùa biển đảm bảo tính an toàn. Trạm có xây  
dựng các bể chứa nước mưa, bể này đủ cho việc sinh hoạt trong mùa khô. Trạm cũng có sân  
bóng chuyền, để các anh kiểm lâm tham gia hoạt động rèn luyện sức khỏe, giải trí lúc rảnh rổi.  
Mꢃc dù vậy, các TNV cũng thấy rằng điều kiện sinh hoạt trên trạm còn khá thiếu thốn. Ví dụ: điện  
thiếu do bình ac quy sử dụng lâu ngày đã giảm chất lượng. Các tour du lịch trên Hòn chưa được  
kết hợp với công tác tuyên truyền, bảo vệ rùa biển. Tài liệu cho khách du lịch xem và hiểu rõ  
trước khi tham quan rùa còn hạn chế. Nhiều khách không biết gì về các sinh hoạt của rùa, đꢃc  
tính của rùa, dấu vết rùa,…Trong các tour du lịch xem rùa đẻ trứng, nên kết hợp với việc truyền  
thông bảo vệ rùa biển để công tác bảo vệ rùa biển tốt hơn, lan rộng hơn. Hướng dẫn viên khi  
10  
 
hướng dẫn du khách xem rùa đẻ trứng, nên thêm vào các thông điệp về những vấn nạn rùa biển  
đang gꢃp phải, cùng với những biện pháp, thông điệp chung tay bảo vệ rùa biển. Có thể Phòng  
du lịch của VQG nên chuẩn bị tài liệu cho khách.  
Lực lượng tham gia công tác bảo vệ rùa biển còn quá mỏng. 7 anh Kiểm lâm ở một trạm (có tới  
3 bãi Rùa đẻ) cộng với bảo vệ vùng biển với cả trăm tàu đánh bắt trái phép ngoài biển là quá  
sức. Các anh làm việc 20/24h hàng ngày, không đảm bảo sức khỏe  
Công việc bảo tồn hoàn toàn dựa vào sức người, thiếu các trang thiết bị hỗ trợ. Thiếu thiết bị đọc  
thẻ gắn trên rùa nên không thể thống kê được các cá thể rùa lên đẻ trứng. Các trạm kiểm lâm  
nên được trang bị một số dụng cụ hỗ trợ trong công tác hàng ngày, ví dụ đèn pin ánh sáng đỏ để  
vẫn đảm bảo tầm nhìn nhưng không làm hại mắt rùa con hay làm rùa mẹ hoảng sợ.  
Cần cải thiện lại gian nhà ngay cạnh hồ ấp rùa để cán bộ kiểm lâm có thể trực đêm ngay tại hồ,  
đꢃc biệt trong điều kiện thời tiết xấu.  
Một số nhân viên chưa có kiến thức sâu về rùa biển (do chuyên ngành của họ là kiểm lâm), nên  
có thêm tài liệu cho các nhân viên tại các trạm. Nên có một đội ngũ chuyên nghiệp tham gia công  
tác bảo vệ rùa hàng năm vào mùa sinh sản để san sẻ bớt gánh nꢃng của các cán bộ kiểm lâm.  
Bên cạnh đó tiếp tục duy trì đội ngũ tình nguyện viên ngắn ngày, tạo tác động lan toả về công tác  
bảo tồn rùa biển trong cộng đồng.  
Rùa con trở về biển ©Ngô Bảo Ngọc,2014  
11  
5. Đánh giá về sắp xếp hậu cần trong suốt chương trình  
Các TNV đều thấy rằng cán bộ VQG đã tổ chức đưa đón, ăn ở rất chu đáo. Phương tiện đưa  
đón ra sân bay đến đúng giờ, nhanh gọn.  
Tổ chức hậu cần  
Tàu thuyền chở ra các đảo Bảy Cạnh và  
Hòn Tre Lớn an toàn. Các Trạm kiểm lâm  
đón tiếp chu đáo, sắp xếp chỗ ăn ngủ tốt,  
các bữa ăn đảm bảo đủ dinh dưꢂng.  
43.75%  
56.25%  
Tuy nhiên, các TNV đều đồng ý là cần tận  
dụng tốt hơn nữa thời gian ở đảo của TNV.  
Chương trình diễn ra trong 5 ngày nhưng  
TNV chỉ thực sự tham gia được công tác  
Rất tốt  
Tốt  
cứu hộ, bảo tồn rùa biển được 3 ngày. Nên  
thiết kế lại chương trình, sáng đầu tiên có thể tập huấn ngay công tác cứu hộ, bảo tồn rùa biển,  
và đến chiều thì xuất phát ra Hòn Bảy Cạnh. Như thế TNV có thêm một ngày để thực hiện công  
tác cứu hộ rùa biển.  
Tại các trạm kiểm lâm, có thể sắp xếp TNV tham gia vào tất cả các công việc liên quan đến cuộc  
sống của một nhân viên tại trạm bảo vệ rùa biển: nấu ăn, tự phục vụ, đi tuần ở các trạm xa.  
Thông tin giữa VQG Côn Đảo và IUCN cần phải thống nhất và rõ ràng hơn nữa.  
6. Đánh giá về mức độ tương tác giữa các thành viên trong nhóm Tình nguyện viên:  
Mức độ tương tác giữa các  
Mꢃc dù không biết nhau trước nhưng sau  
một lúc gꢃp nhau trong chuyến đi các bạn  
TNV khá thân thiện và rất vui vẻ với nhau.  
Họ đều cởi mở, vui vẻ nhiệt tình trong sinh  
hoạt tập thể, có tinh thần trách nhiệm cao  
khi làm việc.  
thành viên trong nhóm  
6.25%  
0%  
37.50%  
56.25%  
“Tuy chưa quen biết nhau từ trước nhưng  
rất nhanh chóng thân nhau, phối hợp ăn ý,  
làm việc nhóm rất tốt, anh nhóm trưởng rất  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
Kém  
có khả năng lãnh đạo,quan tâm các TNV khác. Mọi người vui vẻ, chia sẻ với nhau về mọi thứ từ  
công việc đến cuộc sống. Cám ơn chuyến đi này giúp chúng tôi biết nhau và thân thiết như gia  
đình, học tập lẫn nhau”_TNV Võ Ngọc Lệ Hằng tham gia từ ngày 26/8 – 4/9/2014 chia sẻ.  
“Chúng tôi đã nhanh chóng làm quen với nhau và cùng nhau thực hiện tốt chương trình. Sau khi  
chương trình kết thúc, chúng tôi tiếp tục liên lạc, họp mặt, để cùng thực hiện công tác tuyên truyền  
sau chương trình. Mọi người vui vẻ, hòa đồng với nhau, tôn trọng nhau, có họp lại sau chuyến đi  
để phân phối công việc. Chúng tôi dự định cùng tổng hợp các hình ảnh, báo cáo, kế hoạch truyền  
thông của mọi người để cùng làm 1 master plan, sử dụng chung hình ảnh, bài viết theo 1 quy  
12  
   
trình thống nhất, có biên tập hẳn hòi” _ TNV Nguyễn Thị Lê Phương tham gia từ ngày 21-  
25/7/2014 chia sẻ  
Tuy vậy vẫn có sự bất đồng, không hòa hợp tính dẫn đến làm việc không hiệu quả. 1 tuần sau  
khi họp nhóm sau chuyến đi, mỗi cá nhân đều không chủ động thực hiện phần việc của mình,  
tương tác kꢀm do vấn đề địa lý. Tuy đã lập 1 nhóm kꢁn để cùng chia sẻ, post bài, post ảnh, thảo  
luận nhưng hầu như không ai chủ động thực hiện.  
Các nhóm sau này nên cần cử ra 1 nhóm trưởng để tập trung thông tin về 1 mối, các anh kiểm  
lâm và ngoài vườn không cần gọi từng người để thông báo về 1 việc gì đấy. Nhóm trưởng sẽ  
chịu trách nhiệm thông tin liên lạc và chia sẻ, tổng hợp lại các thông tin, contact, hình ảnh cho  
thành viên. Mỗi một người nên thực hiện đúng kế hoạch truyền thông mình đã cam kết. Hoꢃc  
nếu cùng làm thì nhóm trưởng sẽ là người đôn thúc, chịu trách nhiệm chung. Việc bình chọn  
nhóm trưởng có thể do tự thành viên bầu chọn khi nhận được bản danh sách và báo lại cho IUCN  
hoꢃc do IUCN chỉ định (có tham khảo ý kiến của người đó trước và được sự đồng ý)  
BTC nên lựa chọn trong 1 nhóm TNV nên đa dạng về độ tuổi, ngành nghề phù hợp để có thể bổ  
trợ lẫn nhau.  
Việc chia tách các đoàn lên Hòn Tre Lớn và Hòn Tài có mꢃt chưa hiệu quả do trên 2 hòn này số  
lượng rùa lên đẻ không nhiều. Hòn Tre Lớn có 6 rùa lên đẻ, Hòn Tài chỉ có 1 rùa lên đẻ trong 3  
đêm, điều này dẫn đến TNV chưa có cơ hội tham gia trực tiếp, mà chỉ ở mức độ tham quan cho  
biết vì các anh kiểm lâm vẫn có đủ người để tự làm các công tác cứu hộ rùa biển.  
13  
7. Đánh giá về cán bộ điều phối tại thực địa  
Các TNV đều cho rằng các cán bộ  
kiểm lâm hỗ trợ tại thực địa rất nhiệt  
tình, thân thiện và quan tâm tới các  
TNV. Tuy nhiên, các anh chưa giao  
tiếp tiếng Anh với khách nước ngoài  
tốt nên còn hạn chế trong việc hướng  
dẫn khách lên xem rùa đẻ. Trong thời  
gian chương trình diễn ra, rất khó để  
tổ chức buổi học tiếng Anh trong 1- 2  
giờ liên tiếp. Nhân viên ở đây cần  
vốn tiếng Anh liên quan đến rùa biển,  
tuần biển và một số câu giao tiếp  
thông thường nên nếu năm sau có  
TNV và các chiến sỹ kiểm lâm ©Võ Cường Quốc,2014  
chương trình, nên đưa nội dung tiếng Anh cần thiết (dạng chủ đề) vào chương trình. TNV và  
nhân viên có thể giao tiếp bằng tiếng Anh trong các lĩnh vực liên quan đến công việc tại đảo.  
“Còn tôi, tôi vẫn nhớ mãi khuôn mặt nheo nheo vì khói của anh Cường và nhìn xa xăm về biển.  
Ban ngày anh rất vui vẻ nhưng khi làm việc anh như người khác vậy. Nghiêm túc và kinh nghiệm  
hẳn. Không chỉ anh Cường mà các anh kiểm lâm khác như anh Thành, anh Hoàn, anh Long, anh  
Hân,Thăng và Tuấn, họ còn rất trẻ nhưng cảm nhận cuộc sống thì rất sâu sắc. Phải chăng qua  
những thời khắc hiểm nguy ấy, con người ta biết yêu quý cuộc sống này, con người ta biết rõ  
những giá trị tinh thần hơn, biết vực dậy chính niềm  
Các cán bộ hỗ trợ thực địa  
tin của mình” _TNV Võ Ngọc Lệ Hằng tham gia  
chương trình từ ngày 26/8-4/9/2014  
6.25%  
“Trong thời gian nghỉ đêm hôm đó, một anh kiểm  
lâm đi cùng tôi đã gọi điện về gia đình hỏi thăm.  
Anh có vợ và một cậu con trai nhỏ mới biết nói  
31.25%  
nhưng anh chỉ có dịp về thăm họ 4 ngày 1 tháng.  
Nghe anh bảo con mình gọi tên bố trên điện thoại  
tôi mới hiểu được những hy sinh của những chiến  
sĩ kiểm lâm. Công việc khó khăn, vất vả là thế, họ  
còn phải xa con cái, người thân, bạn bè, hết mình  
bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ biển đảo tổ quốc” _ TNV  
Nguyễn Hà Trung Hiếu tham gia chương trình từ 8-  
12/7/2014  
62.50%  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
8. Đánh giá về thông tin, tài liệu gửi trước chương trình  
TNV cho rằng tài liệu gửi cho TNV khá đầy đủ, rõ ràng. Thông tin về các loài rùa biển sinh sống  
tại biển Việt Nam đầy đủ, rõ ràng, được in ấn cẩn thận, đẹp đẽ.  
14  
   
Tuy nhiên, các thông tin này nên được gửi cho TNV sớm hơn. Trước đó tình nguyện viên phải  
tự mày mò internet để tìm đọc các thông tin lien quan đến những loài rùa biển Việt Nam. Vì thông  
tin nhiều và lan man, nên việc tìm và chọn lọc thông tin phù hợp trên internet mất nhiều thời gian  
Thông tin về trạm kiểm lâm và điều kiện ăn ở trên trạm không có trước khi đi. Tình nguyện viên  
mang quá nhiều thứ ra trạm mà không cần thiết hoꢃc không sử dụng đến (ủng lội nước…)  
“Tôi cho rằng các tài liệu, thông tin liên quan  
Tài liệu gửi các TNV  
nên được gửi cho TNV càng sớm càng tốt để  
TNV có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu trước  
nhằm có sự chuẩn bị tốt nhất cho chuyến đi.  
Ngoài ra, trước khi đi tôi không có nhiều thông  
31.25%  
37.50%  
tin về nơi mình sẽ đến nên đã chuẩn bị khá  
nhiều đồ không cần thiết nên phải mang nhiều.  
Lần sau, nếu các TNV đợt này có thể chia sẻ  
thông tin cho các TNV đợt sau thì các bạn sẽ  
có sự chuẩn bị tốt hơn” _TNV Nguyễn Hải Vân  
tham gia chương trình 26-30/8/2014 góp ý.  
31.25%  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
9. Tài chính  
Tất cả các TNV đều được biết và giải thꢁch đầy  
đủ về các nghĩa vụ tài chính của tình nguyện  
viên trước khi tham gia chương trình. Tuy  
nhiên cần có sự thống nhất giữa VQG Côn  
Đảo và IUCN về mức đóng góp của TNV để  
tránh hiểu lầm.  
Nếu không còn hỗ trợ tài chính,  
bạn có tiếp tục tham gia không?  
12.50%  
12.50%  
Dựa trên thông tin của TNV, mức chi phí trung  
bình của các TNV đã bỏ ra ki tham gia chương  
trình là khoảng 4,470,000VND/người. Với các  
TNV ở Hà Nội, mức chi phꢁ cao hơn do chi phꢁ  
đi lại lớn, khoảng từ 5 – 7 triệu đồng/người.  
Các TNV di chuyển bằng tàu ra Côn Đảo có  
thể tiết kiệm chi phí thấp hơn, từ 500,000 –  
75%  
Có  
Không  
Phải cân nhắc  
2,000,000 đồng/người  
Khi được hỏi, nếu trong các chương trình tiếp theo, không còn sự hỗ trợ tài chính của IUCN và  
VQG Côn Đảo, bạn có tiếp tục tham gia không? 75% khẳng định là có, 12.5% trả lời là không và  
12.5% cần cân nhắc tổng mức chi phí cho phù hợp với ngân sách của mình.  
15  
 
10. Động lực tham gia chương trình  
Khi được hỏi lý do các TNV tham gia chương trình, các TNV cho rằng, 41% động lực của họ là  
mong muốn được tìm hiểu rùa biển; 20% động lực là mong muốn được trải nghiệm cuộc sống  
khắc nghiệt; 18.13% động lực là được khám phá Côn Đảo. Ngoài ra, một số TNV đăng ký tham  
gia để được giúp đꢂ, chia sẻ khó khăn với các cán bộ kiểm lâm và vì tinh yêu với thiên nhiên  
hoang dã và mong muốn bảo tồn đa dạng sinh học cho các thế hệ sau.  
Trong các lý do này thì lý do nào là quan trọng nhất? 81.25% TNV cho rằng mong muốn được  
hiểu biết về rùa biển là động lực quan trọng nhất để họ đăng ký tham gia. 25% TNV cho rằng  
16  
những trải nghiệm trong cuộc sống khó khăn thôi thúc họ đăng ký tham gia chương trình nhất.  
Và 18.75% cho rằng địa điểm chương trình ở Côn Đảo là yếu tố hàng đầu khiến họ đăng ký  
tham gia.  
Dựa vào hệ số tương quan giữa tuổi của TNV và động lực của họ thì có thể thấy rằng, đối với  
các TNV càng lớn tuổi thì mong muốn được hiểu biết về rùa biển của họ càng nhiều. Trong khi  
đối với các TNV trẻ tuổi, nhu cầu được khám phá Côn Đảo, được trải nghiệm cuộc sống trong  
điều kiện khó khăn và được làm quen với nhiều bạn bè có tỷ trọng lớn.  
11. Kết luận về tổng thể chương trình  
Về tổng thể chương trình, 44% TNV cho rằng chương trình rất tốt, 50% cho rằng tốt và 6.25%  
cho là bình thường. 87.5% TNV cho rằng chương trình đã đáp ứng được 90-100% mong đợi của  
họ. 12.5% cho rằng đã đáp ứng được 70-80%.  
Chương trình đáp ứng được  
Tổng thể chương trình  
bao nhiêu % mong đợi của  
6.25%  
bạn  
12.50%  
43.75%  
50%  
87.50%  
90%-100%  
70%-80%  
Rất tốt  
Tốt  
Bình thường  
“Chương trình đáp ứng được nhiều hơn tất cả những gì tôi mong đợi, không chỉ có thêm kiến thức  
về Rùa, có một cuộc sống thú vị ở đảo mà tôi còn được gặp những con người đầy nhiệt huyết  
trong công việc, những người bạn đầy thú vị, được nhìn thấy những khó khăn mà không ai lùi  
bước. Tôi được sống một cuộc sống như trong mơ vừa bình dị, vừa thân thuộc, vừa khó khăn  
vừa ngập tràn niềm vui mỗi ngày/đêm. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất từ trái tim mình tới  
IUCN và VQG Côn Đảo đã có chương trình tình nguyện tuyệt vời như vậy. Tôi cảm ơn các anh  
Kiểm lâm làm việc trực tiếp tại hòn Bảy Cạnh cho tôi biết được sự hy sinh cao cả và sự say mê  
trong công việc, cảm ơn những người bạn tôi được gặp trong chuyến đi, mỗi con người một tính  
cách nhưng tất cả đều vô cùng đáng yêu. Đây là một trong những chuyến đi vô cùng đáng nhớ  
trong cuộc đời nhiều bụi của mình” – TNV Đỗ Thị Thu Hà tham gia tình nguyện từ ngày 8-  
12/7/2014 chia sẻ.  
12. Ảnh hưởng của chương trình  
Sau chương trình, các TNV đã tích cực chia sẻ thông tin về bảo tồn rùa biển với gia đình và bạn  
bè qua nhiều hình thức. Họ đã đăng tải các cảm xúc, các bức ảnh, video clips và nhật ký chương  
trình lên các trang mạng và facebook cá nhân. Các TNV cũng lập ra một trang facebook có tên  
là “Sea turtle Conservation - Volunteer community” cho chương trình. Chỉ trong vòng 15 ngày từ  
17  
   
ngày lập facebook, đã có 92 người thꢁch trang facebook này (tꢁnh đến ngày 26/9/2014). Các bài  
viết về chương trình cũng được chia sẻ trên facebook của IUCN Vietnam Media Network và thu  
hút sự quan tâm của nhiều người.  
Ngoài ra, một số thành viên còn tự tổ chức hoꢃc lên kế hoạch thực hiện các hoạt động truyền  
thông, chia sẻ thông tin về bảo tồn rùa biển với cộng đồng của mình. Như chị Trương Thị Mỹ Chi  
đã lồng ghép các kiến thức về rùa biển vào các bài giảng dạy sinh viên của mình. Chị viết:  
“Từ sau chuyến đi đến giờ em đã dạy 3 lớp (khoảng 300 SV), khi em chia sẻ thông tin về chương  
trình, chuyến đi với sinh viên em đã nhận sự đồng cảm từ SV về chương trình. Các bạn ấy hầu  
như không biết những thông tin này trước đây, và tỏ ra rất thích thú! Trước khi em chia sẻ, các  
bạn ấy mời em đi ăn thịt rừng (em đang dạy ở Buôn Mê Thuột), nhưng sau khi kể xong các bạn  
ấy thay đổi mời cô giáo đi ăn gà ta! Thực sự em rất vui vì đã được tham gia chương trình và nhận  
được sự đồng tình khi chia sẻ thông tin từ rất nhiều học trò”  
Bạn Đào Viết Bội Quỳnh – TNV tham gia từ ngày 26/8-4/9/2014 cũng đã tổ chức buổi nói chuyện  
và xem phim về rùa biển với Câu lạc bộ tiếng  
Anh Drink and Talk của mình vào ngày  
16/9/2014. Hay chị Lê Thu Hương đang lên  
kế hoạch trình bày về rùa biển để chia sẻ  
trong buổi họp mꢃt của Cộng đồng người  
Việt tại Stuttgart, CHLB Đức. Ban tổ chức hy  
vọng các TNV sẽ trở thành các tuyên truyền  
viên tích cực trong cộng đồng mình, góp  
phần nâng cao nhận thức của người dân về  
bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và rùa  
biển nói riêng.  
TNV chia sẻ thông tin về chương trình tại CLB Drink  
& Talk ©Đào Viết Bội Quỳnh,2014  
“Tôi cho rằng đây là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực. Mỗi tình nguyện viên với vị trí xã hội và  
môi trường công tác riêng của mình sẽ là một tuyên truyền viên góp phần nâng cao nhận thức  
của cộng đồng về việc nói không với các sản phẩm từ rùa, từ đó giảm thiểu nhu cầu thị trường,  
bịt lối ra cho các nguồn cung, từ đó giảm tiến tới triệt tiêu các hoạt động xâm hại đối với rùa và  
trứng rùa. Việc tuyên truyền để cộng đồng hiểu rõ hơn về sự sống và tập tục sinh sản của rùa sẽ  
nâng cao tính hiệu quả của công tác bảo tồn các loài rùa biển” _TNV Nguyễn Việt Cường tham  
gia chương trình từ 26-30/8/2014 chia sẻ.  
18  
NHẬT KÝ CHƯƠNG TRÌNH  
Các bạn TNV đều ghi lại từng khoảnh khắc tham gia chương trình tình nguyện. Sau đây là một  
đoạn tiêu biểu của bạn Ngô Bảo Ngọc, tham gia chương trình 10 ngày từ ngày 26/8/2014 đến  
4/9/2014 tại Hòn Bảy Cạnh:  
“27/8: cả nhóm TNV tập huấn cùng Ban Quản lý VQG Côn Đảo và chị Hiền-đại diện tổ chức  
IUCN. Tại đây nhóm được giới thiệu những thông tin chung về Vườn Quốc gia và những kiến  
thức cơ bản về loài rùa biển. Sau thời gian tập huấn, các nhóm di chuyển về các đảo nhỏ để bắt  
đầu chương trình làm việc.  
Nhóm chúng tôi được phân công nhiệm vụ tại Hòn Bảy Cạnh, một hòn đảo rộng 5,5 km2 vô cùng  
xinh đẹp. Tại nơi này chúng tôi sẽ làm việc và sinh hoạt cùng với các cán bộ kiểm lâm.  
Ăn cơm tối xong, chúng tôi bất ngờ được thông báo rùa con đã nở. Một cảm giác vội vàng khiến  
đôi chân cứ hấp tấp khi đi vào hồ ấp trứng rùa. Và hiện ra trước mắt là cả trăm chú rùa con bé tí  
tẹo bò lổm ngổm với một sự nhanh nhẹn phi thường. Giây phút đó thật sự xúc động khi được  
chứng kiến những sinh linh mới chào đời khiến tôi cứ cười mãi.  
Công việc tiếp theo tiến hành vào lúc 1 giờ sáng, cả nhóm đi tuần tra tai Bãi cát lớn để phát hiện  
rùa mẹ lên đẻ trứng. Buổi đêm gió rất lạnh, thật may mắn vì trong lịch trình ban tổ chức đã ghi  
chú kĩ cần mang theo áo khoác. Quả thật tôi không nghĩ giữa mùa hè vào Nam mà lại phải mang  
áo khoác. Đúng là khí hậu ở đảo quả là đặc biệt. Cả nhóm chia ra làm hai, tôi cùng 2 TNV nữa đi  
theo anh Long, tuần tra khu vực bãi bên trái. Trong màn đêm đen thật khó để xác định phương  
hướng khiến tôi có đôi chút sợ, nhưng khi mắt đã quen dần thì việc đi trên bãi cát không ánh sáng  
không còn khó khăn nữa. Và chúng tôi đã phát hiện một rùa mẹ đang đào hố. Phải ngồi chờ rùa  
mẹ đào ổ một lúc thật lâu, chúng tôi ngồi trên cát hỏi anh kiểm lâm bao nhiêu điều về biển cả, về  
loài rùa. Khoảng khắc nhìn rùa mẹ nặng nhọc đẻ từng quả trứng tròn xoe thật thiêng liêng. Rùa  
mẹ đã từng được sinh ra tại đây, sau 30 năm vẫn nhớ đường trở về, vượt qua vô vàn nguy hiểm  
để sinh tồn được đến hôm nay. Cầm những quả trứng rùa thật mềm đem về hồ ấp, tôi và các bạn  
cứ nâng niu, nhắc thầm rằng rồi sau 2 tháng nữa những chú rùa con sẽ chào đời từ đây. Trời  
tảng sáng, chúng tôi lại đem những chú rùa con vừa mới nở thả về biển. Nghe tiếng sóng vỗ rì  
rào, rùa con như tỉnh giấc, theo bản năng bò thật nhanh về phía biển, về nơi mà chúng thuộc về.  
Ca trực kết thúc lúc 5h30’ sáng, lúc này mới thấm được công việc của các cán bộ kiểm lâm thật  
sự rất vất vả. Cả nhóm tranh thủ chợp mắt một lát rồi tiếp tục công việc buổi sáng. Một trong  
những công việc tuy đơn giản nhưng nhiều cảm xúc, đó là đào hố rùa đã nở để vệ sinh và thống  
kê tỷ lệ rùa con được sinh ra. Gạt từng vốc cát lên, đi sâu vào tổ rùa, nơi mà những chú rùa con  
đã cùng nhau hợp sức để đến với cuộc sống này. Thật bất ngờ khi bắt gặp một chú rùa non vẫn  
còn nằm sâu trong cát, có lẽ chú hơi yếu hay vẫn còn ngái ngủ không chui lên cùng với các anh  
chị em. Lần lượt chúng tôi “giải cứu” được cho thêm nhiều chú rùa con nữa. Chạm đến lớp vỏ  
trứng, những quả trứng hỏng, hay những chú rùa con đã thành hình hài mà không có cơ hội được  
sinh ra, cảm giác ngậm ngùi xen lẫn. Thế là cùng một mẹ sinh ra, có những chú rùa con may  
mắn chào đời, và cũng có không ít những sinh linh đã mãi mãi ngủ yên…  
19  
 
Cuộc sống hàng ngày ở Hòn Bảy cạnh thật êm  
ả. Những ngày nắng vàng, bãi biển dài đẹp  
như cơn mơ, triền núi một màu xanh mát mẻ,  
biển khơi nước trong veo với những rặng san  
hô rưc rỡ sắc màu. Chúng tôi cùng anh em  
kiểm lâm thổi cơm, rửa rau, đun bếp củi.  
Những lúc ấy thật vui và đáng nhớ. Mỗi người  
một câu chuyện kể cho nhau nghe, cùng nhau  
chia sẻ. Ở đó tình người thật đáng quý, nơi mà  
con người hoà cùng với thiên nhiên, có những  
lúc thời gian thật chậm, chỉ còn tiếng sóng biển  
rì rào và gió lay động cả rừng cây.  
Những buổi chiều nắng gắt, cả nhóm đi dọn  
rác trên bãi biển và san lấp hố rùa đẻ. Biển đã  
cuốn vào đây những chai lọ, san hô. Có những  
mảnh chai đã bị bào mòn bởi sóng và thời gian  
nhưng đẹp kỳ lạ. Khi công việc đã xong thì Bãi  
cát lớn trắng tinh, trải dài thật mềm mại và dịu  
dàng. Gió lồng lộng và tiếng cười của chúng  
tôi mãi không dứt…  
Những đêm dài đi tuần tra bãi Xi măng. Chúng  
tôi phải lội biển, men theo vách đá, nhân cơ  
hội thuỷ triều rút để tới được bãi. Công việc  
Rùa con trở về biển ©Võ Cường Quốc,2014  
này vẫn là thường ngày của các anh kiểm lâm. Thật nguy hiểm vì chỉ cần sơ sẩy một chút có thể  
đánh đổi cả mạng sống của mình. Lúc đó mới thấy thật khâm phục các anh biết bao. Những chiến  
sỹ tuổi đời còn rất trẻ, dành cả quãng đời đẹp nhất của mình tại nơi đây, cống hiến tuổi thanh  
xuân của mình bên những chú rùa và rừng già biển cả.  
Những công việc cứ thế tiếp diễn. Tám ngày trên đảo trôi qua thật nhanh. Ngày trở về mà như  
tâm hồn đã ở lại nơi này. Một quãng thời gian vô cùng đáng nhớ trong đời”  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 23160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Tổng kết chương trình tình nguyện bảo tồn rùa biển Côn Đảo năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tong_ket_chuong_trinh_tinh_nguyen_bao_ton_rua_bien_c.pdf