Bài giảng Nhập môn khoa học giao tiếp - Hoàng Thị Tường Vi

ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
TRƯƠ  
̀
NG ĐA  
̣
̣
̉
̀
KHOA: SƯ PHA  
̣
̉
̣C MẦM NON  
BÀI GIẢNG  
(Lưu hành nội bộ)  
NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP  
(DÙNG CHO SINH VIÊN CÁC LỚP ĐẠI GIÁO DỤC TIỂU HỌC CHÍNH QUY)  
GV: HOÀNG THỊ TƯỜNG VI  
Năm học: 2016 - 2017  
1
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
MỤC LỤC  
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KHOA TIẾP  
1.1. Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của khoa học giao tiếp  
1.2.Giao tiếp - Khái niệm và các cách tiếp cận  
1.3. Chức năng và vai trò giao tiếp  
3
3
6
1.4. Phân loại giao tiếp  
7
1.5. Hành vi giao tiếp  
10  
CHƯƠNG 2. BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA GIAO TIẾP  
2.1. Giao tiếp như một quá trình trao đổi thông tin  
2.2. Nhận thức trong giao tiếp  
18  
19  
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP  
3.1. Nội dung giao tiếp  
25  
26  
33  
35  
3.2. Hình thức giao tiếp  
3.3. Khoảng cách trong giao tiếp  
3.4. Chiều truyền thông  
CHƯƠNG 4. CÁC KỸ NĂNG GIAO TIẾP  
4.1. Các yếu tố cơ bản khi tiến hành giao tiếp  
4.2. Tự nhận thức về bản thân và sự cởi mở trong giao tiếp  
4.3. Các nguyên tắc trong giao tiếp  
37  
38  
42  
44  
4.4. Các kỹ năng giao tiếp  
CHƯƠNG 5. ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT  
5.1. Đặc điểm về thái độ giao tiếp  
53  
54  
55  
5.2. Đặc điểm về quan hệ giao tiếp  
5.3. Đặc điểm về cách thức, nghi thức giao tiếp  
2
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
LỜI NÓI ĐẦU  
Nhă  
̀
̣
̣
cho công ta  
́
̉
y va  
̀
ho  
̣
̣
̣
̀
̣
̣
̉ng Bình,  
chu  
Đai ho  
Trong qua  
viên gop y đê  
́
̣
̣
̣
́
́
̣
̀
̣
̣
́
c Tiê  
̉
̣
̣
́
̀
̣
̃
́nh khỏi sai sót, rất mong quý đọc giả và sinh  
o tri  
̀
̀
̀
̀
̣
3
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC GIAO TIẾP  
1.1. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA  
KHOA HỌC GIAO TIẾP  
1.1.1. Đối tượng nghiên cứu của khoa học giao tiếp  
Khoa học giao tiếp nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây:  
- Bản chất, đặc điểm của quá trình giao tiếp  
- Nội dung và hình thức giao tiếp  
- Các hiện tượng tâm lý và tâm lý xã hội diễn ra trong giao tiếp, trong đó chủ yếu  
là các qúa trình trao đổi thông tin, nhận thức, cảm xúc và ảnh hưởng tác động qua lại lẫn  
nhau giữa các chủ thể giao tiếp.  
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề này, môn học khoa học giao tiếp giúp chúng ta  
nâng cao văn hoá giao tiếp, ứng xử của bản thân và là tiền đề cho sự thành đạt của chúng  
ta trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp.  
1.1.2. Nhiệm vụ của khoa học giao tiếp  
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về giao tiếp và ứng xử theo truyền thống  
dân tộc và thông lệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện  
nay.  
Cụ thể:  
- Nghiên cứu đặc điểm, bản chất xã hội của giao tiếp  
- Nghiên cứu những khía cạnh của quá trình giao tiếp: truyền thông, nhận thức và  
ảnh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp.  
- Rút ra được các cách tạo ra ấn tượng ban đầu trong quá trình giao tiếp.  
- Từ đó cung cấp những kết quả nghiên cứu để hoàn thiện các hoạt động giao tiếp.  
1.1.3. Các phương pháp nghiên cứu  
a. Các nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu  
- Đảm bảo tính khách quan:  
Nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo đúng bản chất của chúng, không suy diễn,  
phán đoán, áp đặt theo ý muốn chủ quan. Tuy nhiên không loại trừ ý kiến, kết luận của  
các nhà chuyên môn trên cơ sở vốn tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm của họ.  
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác:  
Nghiên cứu sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác trong mối quan hệ  
nhân quả, tác động lẫn nhau.  
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển:  
Các sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển, biến đổi không ngừng. Do vậy  
chúng ta cần nghiên cứu sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng  
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể toàn vẹn:  
Mỗi sự vật, hiện tượng đều có một cấu trúc nhất định, được cấu tạo bởi các yếu tố  
cấu thành. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng cần đặt chúng vào trong một chỉnh thể toàn vẹn  
b. Các phương pháp nghiên cứu  
* Phương pháp quan sát:  
4
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Quan sát là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng bằng cách tri giác trực  
tiếp đối tượng để thu thập tài liệu dữ kiện cần nghiên cứu.  
+ Những yêu cầu khi tiến hành phương pháp này:  
- Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ quan sát  
- Phải trạng bị lý luận trước khi quan sát  
- Tiến hành trong điều kiện thuận lợi  
- Tiến hành quan sát, thu thập thông tin, ghi chép, xử lý thông tin để rút ra kết luận  
- Kiểm tra kết quả bằng các phương pháp khác  
* Phương pháp phân tích tài liệu:  
Phương pháp phân tích tài liệu được ứng dụng trong nghiên cứu giao tiếp giữa  
người và người, đặc biệt là nghiên cứu nội dung thông tin của tài liệu như: nghiên cứu  
khía cạnh thông tin giữa các chủ thể giao tiếp, các nét tính cách của người truyền tin,  
người nhận tin...  
* Phương pháp trắc nghiệm:  
Trắc nghiệm là một pháp thử để đo lường tâm lý đã được chuẩn hoá trên một số  
lượng người.  
Đây là phương pháp dùng để đo lường các mối quan hệ giữa các cá nhân trong  
nhóm, mối quan hệ liên nhân cách, mối quan hệ cảm xúc, mối quan hệ tập thể.  
* Phương pháp thực nghiệm:  
Phương pháp thực nghiệm là phương thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng  
cũng như chất lượng của đối tượng nghiên cứu trên cơ sở nhà khoa học tác động những  
tác nhân trong điều kiện có sự khống chế  
* Phương pháp đàm thoại:  
Đó là cách đặt ra câu hỏi cho đối tượng và dựa vào câu trả lời của họ để thu thập  
thông tin về vấn đề cần nghiên cứu.  
* Các yêu cầu khi tiến hành phương pháp này:  
- Xác định rõ mục đích, yêu cầu  
- Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng  
- Trong quá trình đàm thoại, nhà nghiên cứu cần định hướng đúng thông tin cần  
trao đổi.  
* Phương pháp điều tra bằng Anket:  
Điều tra bằng Anket là phương pháp nhà nghiên cứu sử dụng một hệ thống câu hỏi  
đặt ra đối với một số đối tượng nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào  
đó.  
- Có 2 loại Ankét: Ankét đóng và Ankét mở  
- Những yêu cầu khi tiến hành phương pháp này:  
+ Số lượng câu hỏi điều tra phải nhiều  
+ Giữa các câu hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.  
+ Kết quả điều tra phải được xử lý nghiêm túc  
1.2. GIAO TIẾP - KHÁI NIỆM VÀ CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN  
1.2.1. Khái niệm giao tiếp  
5
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lys giữa người và người, thông qua đó con người trao  
đổi với nhau về mặt thông tin, tri giác,cảm xúc, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.  
1.2.2. Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp  
- Tính xã hội của giao tiếp:  
Giao tiếp là một hiện tượng xã hội, một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ  
riêng con người mới có giao tiếp thực sự và được thể hiện chỉ trong xã hội loài người.  
Trong thế giới động vật không có giao tiếp, không có các quan hệ mang tính chuẩn mực  
mà chỉ có liên hệ mang tính bầy đàn nhằm thực hiện những nhu cầu mang tính sinh học.  
Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực  
hóa các quan hệ xã hội giữa các cá nhân với nhau và giao tiếp là điều kiện để tiến hành  
các hoạt động chung của các cá nhân. Qua giao tiếp sự trao đổi tiếp xúc người - người  
làm nảy sinh hình thành các chuẩn mực giá trị xã hội và đáp ứng mục đích - nhu cầu cá  
nhân và nhóm của xã hội nói chung.  
- Tính lịch sử của giao tiếp:  
Giao tiếp giữa các cá nhân bao giờ cũng mang tính chất lịch sử phát triển xã hội  
loài người, bởi lẽ giao tiếp có nội dung cụ thể được diễn ra trong một không gian, thời  
gian với các đối tượng cụ thể, một hoàn cảnh xã hội nhất định. Mỗi giai đoạn lịch sử đều  
mang dấu ấn của một dạng giao tiếp điển hình. Các phương tiện sử dụng giao tiếp giữa  
các cá nhân chịu sự chi phối của sự phát triển xã hội đồng thời giao tiếp mang tính chủ  
thể.  
- Tính chủ thể của giao tiếp:  
Giao tiếp bao giờ cũng được thực hiện bởi những cá nhân cụ thể. Dù ở loại hình  
giao tiếp nào, nội dung giao tiếp gì cũng đều do những cá nhân thực hiện. Sự khác biệt  
của hoạt động giao tiếp với hoạt động khác ở chỗ trong hoạt động giao tiếp cá nhân vừa  
là chủ thể vừa là khách thể. Các cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp luôn luôn đổi  
chỗ vai trò chủ thể cho nhau và chi phối tác động lẫn nhau. Mức độ tác động phụ thuộc  
vào vị trí, vai trò xã hội cũng như một số đặc điểm tâm lý xã hội của mỗi cá nhân.  
- Tính nhận thức và tự nhận thức của giao tiếp:  
Giao tiếp dù mang mục đích gì đi chăng nữa cũng đều diễn ra sự trao đổi thông  
tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan và nhân sinh quan, nhu cầu nguyện vọng của người  
tham gia vào quá trình giao tiếp, chính thông qua sự trao đổi, chia sẻ thông tin mà con  
người tăng cường vốn kiến thức của mình, nhận thức về thế giới quan và về người khác,  
học hỏi kinh nghiệm từ người khác. Nhờ có đặc trưng này mà phẩm chất tâm lý, hành vi  
ứng xử của con người được nảy sinh và phát triển, cũng nhờ giao tiếp mà quá trình xã hội  
hóa của mỗi cá nhân được diễn ra.  
Cũng thông qua tiếp xúc với những người khác mà cá nhân nhận thức về mình  
một cách sâu sắc hơn. Những thông tin phản hồi từ người cùng giao tiếp, những hành vi  
ứng xử của họ trở thành tấm gương phản chiếu để cá nhân "soi" mình trong đó và nhận  
thức được về bản thân mình, từ đó xây dựng được bức tranh về chính bản thân mình  
(khái niệm bản thân) cùng với sự tồn tại của cá nhân khác trong nhóm, nhận thức được  
những mặt mạnh, mặt yếu, cũng như điều kiện và hoàn cảnh của mình.  
- Tính truyền cảm (lây lan) của giao tiếp:  
6
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Khi giao tiếp có sự lan truyền cảm xúc, tâm trạng đặc biệt với sự tham gia của các  
kênh giao tiếp phi ngôn ngữ như nét mặt, tư thế, giọng nói … Sự truyền cảm được thể  
hiện rõ nét trong đồng cảm, ám thị. Chính điều này làm tăng tính sinh động, tính cảm xúc  
của quan hệ liên nhân cách.  
1.3. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ GIAO TIẾP  
1.3.1. Chức năng của giao tiếp  
Các chức năng cơ bản của giao tiếp được nhiều tài liệu đề cập tới, nhất là chức  
năng thông báo, chức năng phản ánh nhận thức và chức năng điều khiển, điều chỉnh hành  
vi, ngoài ra còn có tài liệu đề cập tới chức năng định hướng hoạt động.  
- Chức năng thông báo (thông tin):  
Trong giao tiếp các cá nhân thông báo cho nhau những thông tin. Nội dung thông  
báo có thể là những hiện tượng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, những vấn đề thời sự,  
những tri thức mới trong lĩnh vực khoa học. Nội dung thông tin có thể là suy nghĩ, tâm  
trạng, cảm xúc, thái độ.  
Trong quá trình giao tiếp người ta thông báo, biểu lộ cho người kia những suy  
nghĩ, ý tưởng của mình, nội dung thông tin vấn đề gì đó, biểu lộ thái độ của mình về vấn  
đề này như thế nào và đồng thời lại thu nhận được, biết được thái độ quan điểm, phản  
ứng của người đối thoại về vấn đề nào đó, sự việc nào đó.  
Sự thông báo, truyền thông tin bằng các phương tiện: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ (cử  
chỉ, điệu bộ, nét mặt, tư thế…).  
- Chức năng nhận thức:  
Giao tiếp giúp con người nhận thức sự vật, sự việc, nhận thức về thế giới xung  
quanh, về người khác, về chính bản thân mình thông qua quá trình tiếp nhận thông tin, xử  
lý thông tin.  
Giao tiếp giúp con người mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao các kiến thức kỹ năng  
của mình trong mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội.  
Khả năng nhận thức trong giao tiếp phụ thuộc vào khả năng huy động các cơ quan  
cảm giác để phản ánh: miệng nói, tai nghe, óc phán đoán, suy nghĩ khái quát hóa, trừu  
tượng hóa các thông tin đã thu nhận được và đặc biệt phụ thuộc vào trình độ, kinh  
nghiệm đời sống thực tiễn của cá nhân đó.  
- Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi:  
Khi nhận thức được mục đích, nội dung và đối tượng giao tiếp cá nhân quyết định  
sử dụng cách thức nào, phương tiện giao tiếp nào để phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đối  
tượng giao tiếp. Mục tiêu của giao tiếp là làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của  
con người. Do vậy, có thể nói giao tiếp là quá trình điều khiển.  
Trước hết giao tiếp điều khiển chính bản thân chủ thể giao tiếp. Khi giao tiếp với  
người khác, cá nhân (chủ thể) phải lựa chọn điều chỉnh hành vi cử chỉ, điệu bộ… của  
mình sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, môi trường giao tiếp.  
Mặt khác, khi giao tiếp cá nhân phải ứng xử thế nào để làm cho đối tượng cùng nhận thức  
được, cùng cảm nhận được, hiểu được mình (hiểu được nhu cầu, nguyện vọng, suy nghĩ  
của mình). Đó chính là điều khiển sự nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng theo  
mục đích của cá nhân mình.  
7
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Trong quá trình giao tiếp các cá nhân nhận được những phản hồi từ người khác và  
từ đó điều chỉnh hành vi ứng xử của mình cho phù hợp với tình huống. Việc điều chỉnh  
hành vi giúp các cá nhân thích nghi lẫn nhau, thích nghi hoàn cảnh, giúp cá nhân tự hoàn  
thiện phẩm chất và nhân cách của mình.  
Các chuẩn mực xã hội, các nguyên tắc nhóm thường được thể hiện trong giao tiếp  
nhóm, bởi vậy mỗi cá nhân thường được học hỏi hành vi và xã hội hóa chính bản thân  
mình.  
Một nhà tâm lý học Xô Viết đã phân chức năng của giao tiếp thành các chức năng  
cụ thể sau:  
- Chức năng tiếp xúc:  
Giao tiếp là nền tảng đặt quan hệ giữa người với người và giao tiếp tạo tâm thế sẵn  
sàng tiếp nhận thông tin và trao đổi thông tin.  
- Chức năng thông báo:  
Đó chính là quá trình trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc…giữa các  
chủ thể giao tiếp.  
- Chức năng thúc đẩy tính tích cực của các chủ thể cùng giao tiếp:  
Trong quá trình giao tiếp các cá nhân không chỉ có trao đổi thông tin một cách thụ  
động mà giao tiếp còn thúc đẩy các cá nhân tích cực, chủ động trao đổi thông tin.  
- Chức năng phối hợp công tác:  
Quá trình giao tiếp giúp các cá nhân định hướng, tìm hiểu lẩn nhau và đi đến sự  
nhất trí, cộng tác trong các hoạt động.  
Chức năng giúp các cá nhân nhận thức và hiểu biết lẫn nhau.  
- Chức năng biểu cảm:  
Biểu lộ và trao đổi cảm xúc cho nhau trong quá trình giao tiếp.  
- Chức năng gây tác động: (đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân cách) ảnh  
hưởng lẫn nhau làm thay đổi đến hành vi, tâm trạng và thái độ của nhau, cũng như các xu  
hướng nhân cách.  
1.3.2. Vai trò của giao tiếp  
a. Vai trò của giao tiếp trong đời sống con người và xã hội  
Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu được của con người, đó là nhu cầu muốn  
được tiếp xúc với người khác. Một nhu cầu mang tính người sâu đậm. Nhu cầu này là  
nhu cầu xuất hiện đầu tiên ở con người vì khi mới lọt lòng mẹ đứa trẻ có phản xạ rúc đầu  
vào bụng, vào ngực mẹ: một mặt là muốn tìm vú mẹ nhưng mặt khác là muốn áp vào da  
thịt để được ôm ấp, vỗ về. Có thể nói mối quan hệ với người mẹ qua xúc giác là quan  
trọng bậc nhất của con người. Hiện tượng đó được gọi là sự gắn bó mẹ - con. Nếu vì một  
lý do nào đó con người không được thõa mãn nhu cầu này, thiếu đi mối quan hệ mối quan  
hệ thiêng liêng gắn bó thì sẽ gây nên ở con người dù bất kỳ lứa tuổi nào những trãi  
nghiệm tiêu cực, những lo âu chờ đợi cái gì đó không hay xảy ra mặc dù không có cái gì  
đe dọa họ cả nghĩa là đứa bé sẽ phát triển không bình thường, ngay cả khi sống đứa trẻ sẽ  
gặp nhiều khó khăn, làm tổn thương tâm lý đứa trẻ sau này. (ở nước ta, một số bệnh viện  
phụ sản chủ trương thay vì nuôi trẻ đẻ thiếu tháng trong lồng kính bằng việc cho mẹ ấp ủ  
trong lòng. Kết quả là tỷ lệ sống và phát triển ở trẻ rất cao). Chúng ta có thể kết luận  
8
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
rằng: vắng mẹ từ những ngày đầu mới ra đời là nỗi bất hạnh to lớn đối với trẻ em. Trong  
trường hợp bé bị tách ra khỏi mẹ sớm (do bị chết, do bị ốm cần phải cách li hay do một lý  
do nào khác), thì điều cần thiết là phải giúp cho trẻ tạo ra được mối quan hệ gắn bó mẹ -  
con. Nhu cầu gắn bó lúc này cũng có thể được thõa mãn bởi người khác, miễn là người  
đó có lòng yêu thương, miễn là người đó có lòng yêu thương, sẵn sàng ôm ấp vỗ về như  
chính người mẹ của bé.  
Giao tiếp tạo ra cơ sở cho sự tồn tại của con người, giúp con người nhận thức và  
phát triển. Con người học làm người thông qua giao tiếp, nói cách khác giao tiếp là  
phương tiện để con người xã hội hóa thông qua giao lưu lao động và học tập.  
Giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý con người, nó  
là cơ sở để phân biệt giữa thế giới động vật và xã hội loài người, giao tiếp có mặt trong  
mọi hoạt động của con người và qua đó con người phát triển động cơ, mục đích, nguyện  
vọng, tình cảm.  
Nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là giao tiếp bởi vì xã hội không  
phải là con số cộng của các cá thể mà là mối quan hệ và sự tương tác của các thành viên  
trong xã hội thông qua hoạt động lao động và hoạt động giao tiếp. Không có sự giao lưu  
hợp tác giữa các cá nhân, các tổ chức, các quốc gia, xã hội loài người sẽ không phát triển.  
Chính giao tiếp giúp con người truyền đạt những kinh nghiệm, tri thức lịch sử xã hội từ  
người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ quốc gia này sang quốc gia  
khác. Như vậy giao tiếp là để hợp tác và phát triển.  
b. Vai trò của giao tiếp trong công tác dạy học ở trường Tiểu học  
(Yêu cầu sinh viên trao đổi và liên hệ thực tế hoạt động giao tiếp ở trường Tiểu  
học)  
1.4. PHÂN LOẠI GIAO TIẾP  
Có nhiều cách phân loại giao tiếp dựa vào các tiêu chí khác nhau.  
1.4.1. Căn cứ vào tính chất tiếp xúc  
- Giao tiếp trực tiếp:  
Giao tiếp trực tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi trực tiếp giữa các chủ thể giao tiếp.  
Trong loại hình giao tiếp này các cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp một  
cách trực tiếp, đối thoại trực tiếp với nhau, mặt đối mặt, xảy ra trong cùng một khoảng  
thời gian và không gian nhất định, có sự tham gia của ngôn ngữ nói, viết, ngôn ngữ biểu  
cảm (ngôn ngữ cơ thể): ánh mắt, nét mặt, cử chỉ….loại giao tiếp này có tác dụng lớn với  
sự điều chỉnh hành vi, cử chỉ… của các chủ thể giao tiếp.  
- Các hình thức của giao tiếp trực tiếp bao gồm đối thoại và độc thoại.  
+ Đối thoại là khi các cá nhân trò chuyện, phỏng vấn, bàn luận trao đổi trực tiếp  
với nhau. Trong hình thức giao tiếp này có sự thay đổi mối quan hệ chủ thể - khách thể,  
thay đổi vị trí của các cá nhân giao tiếp.  
+ Độc thoại là khi chỉ có một người nói mà không có sự đáp lại của những người  
khác trong trường hợp diễn thuyết, giảng bài.  
- Giao tiếp gián tiếp:  
Giao tiếp gián tiếp là giao tiếp thực hiện thông qua các phương tiện trung gian như  
ti vi, điện thoại, fax, …  
9
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Trong giao tiếp gián tiếp các cá nhân giao tiếp phụ thuộc vào phương tiện giao  
tiếp. Do không có hay ít có sự tham gia của kênh thông tin phi ngôn ngữ nên giao tiếp  
gián tiếp ít sinh động hơn so với giao tiếp trực tiếp.  
1.4.2. Căn cứ vào mục đích của giao tiếp  
- Giao tiếp chính thức:  
Là hình thức giao tiếp diễn ra chính thức theo một lễ nghi nhất định nhằm giải  
quyết một vấn đề cụ thể, cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp thường đại diện cho  
nhóm hoặc giữa các nhóm mang tính hình thức. Loại giao tiếp này thường có quy định  
nhất định về trang phục, địa điểm, nội dung v.v...  
- Giao tiếp không chính thức:  
Là giao tiếp không mang tính hình thức, không chính thức do vậy không có quy  
định về lễ nghi, không yêu cầu cao về trang phục, địa điểm và cá nhân không đại diện  
cho ai, nhóm người nào.  
Hình thức giao tiếp này thường nhằm thỏa mãn nhu cầu tiếp xúc, giải trí của các  
cá nhân. Bầu không khí trong khi giao tiếp thường mang tính chất thân thiện, gần gũi có  
hiểu biết lẫn nhau.  
1.4.3. Căn cứ vào đối tượng tham gia quá trình giao tiếp  
- Giao tiếp song đôi:  
Giao tiếp song đôi là giao tiếp trong đó chủ thể và đối tượng giao tiếp là hai cá  
nhân tiếp xúc với nhau. Loại giao tiếp này thể hiện rõ nhất trong giao tiếp thuộc quan hệ  
gia đình, vợ chồng, con cái, trong quan hệ bạn bè hay tình yêu đôi lứa v.v...  
Đây là hình thức giao tiếp giữa hai cá nhân, thường mang tính chất công việc diễn  
ra hàng ngày, nghi thức giao tiếp thường gần gũi, thân thiện.  
Loại giao tiếp này thường xuất hiện sớm ngay từ khi một đứa trẻ mới ra đời, là  
hình thức giao tiếp cơ bản của con người trong đời sống hàng ngày. Giao tiếp song đôi  
diễn ra nhanh gọn, dễ dàng, tiện lợi (về hoàn cảnh, điạ điểm…). Hiệu quả của hình thức  
giao tiếp này thường cao do có sự tham gia của nhiều kênh thông tin và đặc biệt là sự  
phản hồi tức thời.  
- Giao tiếp nhóm:  
Là giao tiếp giữa cá nhân với nhóm hoặc giữa các thành viên trong nhóm và ngoài  
nhóm với nhau (các nhóm xã hội bao giờ cũng là tập hợp của những cá nhân có hoàn  
cảnh, mục đích, đề tài giao tiếp chung, do đó mức độ khăng khít phụ thuộc vào hoàn  
cảnh, cách thức và khuôn mẫu chuẩn mực nhóm…).  
Đây là hình thức giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm, giữa các nhóm với nhau  
nên nó liên quan đến nhiều người, thường có yêu cầu nhất định về thời gian, địa điểm,  
khung cảnh, nguyên tắc nhất định. Hạt nhân của giao tiếp nhóm là sự liên kết để tìm tiếng  
nói chung giữa các thành viên trong nhóm.  
Giao tiếp xã hội rộng lớn mang tính quốc gia, quốc tế: giao tiếp giữa các quốc gia,  
các tổ chức quốc tế (Hội đồng Liên hợp quốc, Hội khoa học kỹ thuật) cũng là một dạng  
của giao tiếp nhóm nhưng là giao tiếp nhóm lớn.  
Loại giao tiếp này thường đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ, văn hóa, chuyên  
môn khoa học. Giao tiếp này đang có xu hướng phát triển nhanh hiện nay.  
10  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
1.4.4. Giao tiếp nghề nghiệp  
Là loại giao tiếp mang tính đặc trưng của một nghề nhất định (giao tiếp kinh  
doanh, giao tiếp sư phạm, giao tiếp báo chí…).  
Đặc điểm của loại giao tiếp nghề nghiệp được quy định bởi tính chất nghề nhất  
định. Nghề nghiệp ảnh hưởng tới tính cách, hành vi, cách ứng xử tư thế, trang phục của  
cá nhân. Nội dung thông tin cũng như cách sử dụng ngôn từ trong quá trình giao tiếp  
cũng chịu sự tác động của đặc trưng nghề nghiệp nhất định. Nghề nghiệp quy định lượng  
kiến thức trong lĩnh vực cụ thể, mặt khác nó cũng quy định tâm thế trong giao tiếp.  
1.5. Hành vi giao tiếp  
1.5.1. Khái niệm  
Hành vi là sự cụ thể ra bên ngoài của hệ thống thái độ. Hệ thống hành vi rất đa  
dạng, phong phú chịu sự chi phối bởi hệ thống thái độ. Thái độ là mặt nội dung chủ đạo  
còn hành vi là hình thức biểu hiện. Thuật ngữ này dùng để nhấn mạnh mặt định hướng,  
mục tiêu bởi theo các nhà nghiên cứu: Mọi ứng xử đều là giao tiếp. Có nhiều dạng ứng  
xử khác nhau: lời lẽ, cử chỉ, hành động. Do vậy, hành vi giao tiếp là hành động, cách ứng  
xử của con người trong giao tiếp  
1.5.2. Mô hình hành vi giao tiếp  
Giao tiếp là một đặc thù của con người và cũng là hiện thực tiêu biểu của hành  
ứng xử của con người. Có nhiều cách lý giải theo hành vi của con người.  
a. Thuyết hành vi  
Thuyết hành vi do nhà Tâm lý học người Mỹ Watson (1878 - 1985) sáng lập  
chuyên nghiên cứu hành vi biểu hiện của con người.  
Ông cho rằng: Mọi ứng xử của cá nhân là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới  
và phản ứng đáp lại kích thích của cơ thể con người.  
Ông lý giải: Hành vi là tổng thể phản ứng của cơ thể nhằm đáp ứng lại kích thích  
ngoại giới. Hành vi ấy chính là con vật.  
Toàn bộ hành vi của con người được giới hạn bởi công thứcS  
kích thích, R là phản ứng  
R trong đó S là  
Quan điểm của Watson là quan điểm sai lầm vì không biết được "con người là chủ  
thể tích cực", mà ông chỉ biết rằng "con người là cá thể, thực thể sinh vật"  
Hành vi của con người hoàn toàn phụ thuộc vào kích thích, kích thích như thế nào  
thì phản ứng như thế ấy. Do đó vấn đề này cũng sai lầm và bế tắc bởi không nhất thiết  
bao giờ có kích thích A thì có phản ứng A vì có sự tham gia của ý thức.  
Skiner (1901) người kế tục và phát triển quan điểm của Watson thành hành vi tạo tác.  
Skiner cho rằng cần tính tới các yếu tố chủ quan như tư duy, ý thức của cá nhân trong  
mọi hành vi nhất định. Vì thế, theo ông không phải bất cứ tác nhân nào tới cá nhân đều  
tạo ra phản ứng và cùng một kiểu tác nhân kích thích có thể cho ta nhiều dạng đáp ứng  
trong những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên ông vẫn nhấn mạnh  
tính quyết định của yếu tố kích thích ngoại giới đối với bản chất của hành vi ứng xử.  
11  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Nhìn chung, những người theo thuyết hành vi xem xét hành vi ứng xử của con  
người trong mối quan hệ qua lại giữa môi trường với con người. Tác nhân kích thích của  
môi trường quy định tính chất, đặc điểm hành vi ứng xử. Mọi hành vi ứng xử là một  
chuỗi những phản ứng trước những thay đổi của môi trường, điều kiện bên ngoài.  
b. Lý thuyết liên hệ xã hội  
Thuyết này cho rằng con người sống trong mối liên hệ với môi trường, với người  
khác. Các mối liên hệ này chính là bản chất xã hội cá nhân và giao tiếp được xem là  
phương tiện để thiết lập các mối quan hệ. Dựa trên nền của hoạt động giao tiếp các cá  
nhân thực hiện hoạt động thông qua các hành động, thao tác để đạt một mục đích nhằm  
thoã mãn nhu cầu nào đó.  
Có thể biễu diễn sơ đồ của hoạt động có đối tượng như sau:  
Song hoạt động giao tiếp phức tạp bởi nó nằm trong mối quan hệ với người khác,  
cùng một môi trường giao tiếp nhưng tồn tại nhiều chủ thể giao tiếp khác nhau với nhu  
cầu khác nhau, mục đích khác nhau và cách thực thực hiện để đi đến mục đích khác nhau.  
Nhu cầu S1  
Hoạt động  
Hành động  
Thao tác  
Nhu cầu S2  
Mục đích S1  
Phương tiện S1  
Hành động S2  
Phương tiện S2  
Bởi vậy để giao tiếp có hiệu quả để tạo ra sự tin cậy, sự hợp tác của các chủ thể,  
mỗi chủ thể cần nắm bắt tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng của nhau để cùng điều  
chỉnh hành vi ứng xử phù hợp.  
1.5.3. Các thành tố của hành vi giao tiếp  
Vì những quan điểm khác nhau của những thuyết khác nhau mà người ta đưa ra  
những mô hình với những cấu thành khác nhau trong hoạt động và giao tiếp  
* Lý thuyết môi truờng xã hội nhấn mạnh yếu tố hoàn cảnh xã hội trong quá trình  
giao tiếp. Khi làm việc và giao tiếp, tất cả chúng ta tham gia vào một hoàn cảnh xã hội  
với những vị trí, vai trò xã hội khác nhau, nền văn hoá xã hội khác nhau. Do vậy yếu tố  
cấu thành gồm:  
- Người gửi  
- Người nhận  
12  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
- Thông tin  
* Theo lý thuyết thông tin thì giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, nhận biết  
tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người. Do đó, tham gia vào sự truyền  
thông tin của hoạt động giao tiếp bao gồm các yếu tố:  
- Bộ phát: hay còn gọi là nguồn, là người phát ra tín hiệu trong giao tiếp, người  
phát có thể là hai phía  
Con người tiến hành giao tiếp vì họ có thông tin và có cảm xúc muốn trao đổi với  
nhau. Quá trình trao đổi thông tin là quá trình hai chiều, trong đó một người gửi thông tin  
còn người kia nhận và sau đó “người nhận” đưa ra thông tin phản hồi ngược cho người  
gửi  
- Mã hoá: là thông tin biến thành ký hiệu, lời nói hay chữ viết  
+ Thông điệp phát bao gồm những nội dung muốn truyền đạt. Đây là mối quan hệ  
quan trong nhất trong giao tiếp truyền thông.  
+ Thông điệp muốn truyền đạt có thể là ý tưởng cảm xúc hay là một thông tin nào  
đó mà người phát muốn nhận biết và hiểu cảm xúc. Thông điệp này được người phát mã  
hoá để chuyển đi  
+ Thông điệp nhận là điều người nhận giải mã tạo cho nó một ý nghĩa  
- Kênh: Là cách liên lạc giữa bộ phát và bộ thu  
Ví dụ: kênh thính giác hoặc kênh thị giác  
- Giải mã: Là quá trình hiểu bản tin của người nhận.  
- Bộ thu: Người nhận thông điệp từ người khác hay còn gọi là thính giả hoặc  
người nghe  
- Đáp lại: Là sự phản hồi thông tin ngược trở lại đến người gửi  
- Tiếng ồn: Tiếng ồn còn gọi là độ nhiễu bao gồm môi trường truyền thông.  
Ví dụ: Hai người đối thoại trực tiếp thì môi trường là không khí, tiếng ồn xe cộ,  
điện thoại. v.v  
Ghi chú:  
- Bộ phát và bộ thu là thành phần chính của giao tiếp tức là người nói và người  
nghe.  
- Thông điệp và kênh là các công cụ chính của giao tiếp  
- Mã hoá và giải mã, đáp lại và phản hồi 4 chức năng chính của giao tiếp.  
- Tiếng ồn là thành phần cuối của hệ thống.  
13  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Thông tin phản hồi  
Nhiễu  
Sơ đồ cho thấy, một người muốn chuyển một ý nghĩ, một sự kiện nào đó đến  
người nhận thì phải dùng trí nhớ để mã hóa thông điệp.  
Người nhận, trên cơ sở tiếp nhận các tín hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, xử lý  
chúng thông qua trí nhớ để các tín hiệu được phiên dịch và trở thành có ý nghĩa đối với  
người nhận.  
Kênh: Khi giao tiếp thông điệp đã mã hóa được chuyển qua một kênh hay nhiều  
kênh. Nếu cuộc giao tiếp diễn ra trực tiếp mặt đối mặt thì các kênh có thể một vài hoặc  
năm giác quan. Điển hình là chúng ta dựa vào hình ảnh thị giác và âm thanh làm các kênh  
khi nói và nghe, tuy nhiên thay vì sự giao tiếp mặt đối mặt chúng ta có thể lựa chọn để  
dùng một kênh điện tử như điện thoại hay vô tuyến truyền hình, facebook (thính giác, thị  
giác), trong một số trường hợp nào đó, chúng ta có thể lựa chọn cách gửi một thông điệp  
đến một ai đó bằng phương tiện tiếp xúc thân xác, chẳng hạn như vỗ vai người khác..  
Người giao tiếp – người gửi nênluyeenj tập để có kỹ năng lưuaj chọn kênh giao  
tiếp, mỗi kênh giao tiếp đòi hỏi những phương pháp phát triển ý tưởng khác nhau và tác  
động khác nhau đến đối tượng giao tiếp.Chẳng hạn, việc chọn các kênh điện tử đã làm  
thay đổi bản chất của sự giao tiếp chính trị. Các ứng cử viên tổng thống các nước đã từng  
đi kinh lý khắp đất nước để đọc bài diễn văn trong các chiến dịch vận động tranh cử.  
Nhưng ngày nay, thông qua việc sử dụng vô tuyến truyền hình, họ có thể đến với một số  
lượng dân chúng rộng lớn mà không cần phải đi đâu cả. Vậy kênh điện tử đã thay thế cho  
kênh “mặt đối mặt”.  
Một khâu quan trọng trong mạch truyền thông là sự phản hồi, tức là người nhận  
phát tín hiệu trả lời người đã truyền đi bản thông điệp. Nó báo cho người phát biết thông  
điệp đã được tiếp nhận và được hiểu như thế nào. Trên cơ sở đó, người phát có thể điều  
chỉnh hoặc chuyển tiếp những thông điệp cần thiết khác.  
Môi trường.  
Giao tiếp không thể xảy ra trong chân không, nó luôn luôn tồn tại trong một ngữ cảnh  
nào đó, một môi trường nào đó. Nơi mà chúng ta hiện diện và người cùng hiện diện với  
chúng ta đều có sự ảnh hưởng đến sự giao tiếp của chúng ta. Những nhân tố như kích  
thích của căn phòng, màu sắc của tường, sự trang trí, kiểu và cách sắp xếp của các đồ gỗ,  
14  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
kêir chiếu sáng và căn buồng có đông đúc hay không…đều có ảnh hưởng đến cảm xúc  
của chúng ta cảm xúc ra sao, cách chúng ta tiếp xúc như thế nào…  
Như vậy, truyền thông giữa các cá nhân là một quá trình tương hỗ và tuần hoàn  
Hiệu quả của quá trình truyền thông còn bị chi phối bởi các yếu tố được gọi là  
"nhiễu". Đó là những yếu tố của người phát, người nhận hoặc trong môi trường gây cản  
trở đối với việc truyền tin. Thông thường các yếu tố đó bao gồm:  
- Sự khác biệt về văn hoá  
- Môi trường truyền thông không tốt. Ví dụ: tiếng ồn quá lớn, thời tiết quá nóng...  
- Ý không rõ ràng, quá trình mã hoá bị lỗi. Chẳng hạn, người nói sử dụng từ ngữ  
không chính xác, dùng từ địa phương.  
+ Kênh truyền thông hoạt động không hiệu quả: phát âm không chuẩn, độ nhạy  
cảm của giác quan kém, điện thoại trục trặc.  
- Các yếu tố tâm lý ở người phát và người nhận: sự không tập trung, sự nóng vội,  
những định kiến, thành kiến, tâm trạng không tốt.  
Cho nên trong giao tiếp, chúng ta cần chú ý tới các yếu tố nhiễu và tìm cách loại  
bỏ hoặc hạn chế ảnh hưởng của chúng.  
1.5.4. Hoàn thiện quá trình giao tiếp giữa các cá nhân  
Quá trình giao tiếp có hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc vào người phát và  
người nhận. Theo các nhà Giao tiếp học , để nâng cao hiệu quả của quá trình, người phát  
và người nhận cần chú ý đến sáu vấn đề, được thể hiện trong sáu chữ: Cái gì? tại sao? với  
ai? bao giờ? ở đâu? bằng cách nào?  
* Đối với người phát:  
Khi đưa ra thông điệp, chẳng hạn bằng lời nói, người nói cần chú ý:  
- Cái gì? tức là nói cái gì, nói vấn đề gì? Nhiều khi chúng ta lỡ lời, nói ra điều  
không nên nói, vẫn đề nào không nên và vấn đề nào không được nói ra.  
- Tại sao? tức là tại sao phải nói ra điều đó, nói điều đó nhằm mục đích gì?  
- Với ai? tức là cần tìm hiểu người nghe là ai. Ai ở đây không chỉ đơn giản là một  
cái tên, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay học vấn của người nghe mà còn  
bao gồm cả đặc điểm tâm lý của họ như: tâm trạng, tình cảm, sở thích, nhu cầu, quan  
điểm, lập trường, tín ngưỡng, niềm tin, thói quen... Trong giao tiếp, chúng ta phải tìm  
hiểu đối tượng giao tiếp để từ đó có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp. Về vấn đề này, bằng  
cách này và với đối tượng nàychúng ta được hoan nghênh như với đối tượng khác không  
có nghĩa cũng sẽ như vậy  
- Khi nào? tức là đưa ra bản thông điệp vào thời điểm nào cho phù hợp. Một điều  
cần nói, nhưng nói ra khong đúng lúc thì trọng lượng của lời nói cũng giảm sút, thậm chí  
làm cho người nghe khó chịu.  
- Ở đâu, chú ý đến vấn đề này, người phát cần cân nhắc xem đưa ra bản thông điệp  
ở đâu, trong hoàn cảnh nào để đạt hiệu quả cao nhất. Việc chọn sai địa điểm có thể làm  
15  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
giảm hiệu quả giao tiếp, thậm chí hoàn toàn không đạt mục đích mong muốn. Ví dụ. Bạn  
góp ý cho một người để mong họ tiến bộ, nhưng bạn lại làm điều đó trước mắt người thứ  
ba, vì thế người đó đã không tiếp nhận lời góp ý mà còn phản ứng lại một cách gay gắt.  
- Bằng cách nào? tức là cân nhắc xem truyền thông tin dưới hình thức nào, bằng  
cách nào cho hiệu quả. Một thông điệp có truyền đạt đến người nhận bằng nhiều cách  
khác nhau, nhưng hiệu quả thì không giống nhau. Vì vậy , chúng ta cần biết lựa chọn  
cách truyền thông tin tối ưu nhất.  
Ngoài ra, khi truyền tin, người phát cũng tạo tâm lý thoải mái, hào hứng ở người  
nhận, đồng thời phải theo dõi sự phản hồi để điều chỉnh quá trình truyền tin cho có hiệu  
quả.  
* Đối với nguời nhận:  
Để tiếp nhận và giải mã thông điệp từ người phát một cách đầy đủ, chính xác,  
người nhận cần chú ý:  
- Cái gì? tức là người nói đang nói cái gì, vấn đề gì?.  
- Tại sao? tức là tại sao người nói lại đề cập điều đó?  
- Ai? người nói là ai (tâm trạng, tình cảm, sở thích, nhu cầu, quan điểm, lập  
trường, tín ngưỡng, niềm tin, thói quen...)  
- Khi nào? người nói nói điều đó khi nào, ngay sau nhận được thông tin hay đã có  
sự cân nhắc, suy tính  
- Ở đâu? người nói đưa ra điều đó ở đâu, nơi nào, trong tình huống nào?  
- Bằng cách nào? người truyền thông điệp đi bằng cách nào, dưới hình thức nào?  
Cũng như người phát thường đặt mình vào vị trí người nhận để hiểu người nhận và  
từ đó định hướng, điều chỉnh quá trình truyền tin, người nhận cần đặt mình vào vị trí  
người phát để hiểu được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người phát, tại sao người  
phát lại đưa ra vấn đề đó...Ngoài ra người nhận cần gạt bỏ những mặc cảm, những thành  
kiến nếu có về người phát, vì nếu không, chúng làm cho người nhận giả mã thông điệp  
một cách sai lệch.  
1.5.5. Các quan hệ trong hành vi giao tiếp.  
a. Mối quan hệ trong giao tiếp.  
Chúng ta biết rằng: Thông qua hoạt động của con người tiếp xúc với nhau để  
hình thành các mối quan hệ xã hội và mối quan hệ liên nhân cách.  
Để đáp ứng nhu cầu, các cá nhân tham gia vào hoạt động, nhưng hoạt động của  
người không bao giờ tồn tại một cách độc lập tuyệt đối mà nó còn liên quan đến hoạt  
động của người khác, đòi hỏi họ phải phân công hợp tác, phân công nhiệm vụ và vai trò  
trong hoạt động... Trong các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân có một vai trò nhất định đó  
là những chức năng xã hội của cá nhân, là vị trí các nhân trong hệ thống quan hệ xã hội  
khách quan, nó quy định phương thức hoạt động tương ứng, quy định những cách ứng xử  
của cá nhân mà người khác chờ đợi ở vai trò đó.  
16  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Cũng trong quá trình hoạt động và giao tiếp hình thành mối quan hệ tình cảm,  
tâm lý nghĩa là thông qua quá trình này hình trhành mối quan hệ liên nhân cách. Như vậy  
mối quan hệ liên nhân cách như là mối quan hệ hình thành từ bên trong các mối quan hệ  
xã hội.  
b. Vai trong giao tiếp.  
Theo lý thuyết vai xã hội thì "vai" vừa là chức năng của xã hội vừa là chức năng  
giao tiếp giữa người với người.  
Mỗi người có thể có nhiều vai. Cá nhân luôn xác định hành vi con nguời sao cho phù hợp  
với "vai" của mình trong nhóm xã hội.  
Hành vi của một người không chỉ phụ thuộc vào tính chất của kích thích mà còn  
phụ thuộc vào vai trò của cá nhân trong nhóm. Mỗi cá nhân có thể có nhiều vai trò. Phạm  
vi và số lượng khác nhau. Điều này phụ thuộc vào tính phong phú của các nhóm xã hội  
mà mỗi cá nhân tham gia vào, phụ thuộc vào các dạng hoạt động, mối quan hệ xã hội  
cũng như nhu cầu và vai trò tổ chức của người đó. Con người càng tích cực hoạt động  
bao nhiêu thì càng mở rộng giao tiếp bấy nhiêu, càng tích cực giao tiếp bao nhiêu thì  
càng tham gia hoạt động và tạo lập nên được nhiều mối quan hệ xã hội bấy nhiêu. Ví dụ  
trong gia đình vai của chúng ta là con nhưng khi ta ở cơ quan vai của ta là giám đốc.  
Sự nhập vai của một người vào nhóm xã hội phụ thuộc vào những yếu tố như  
trình độ, kiến thức, kinh nghiệm... của cá nhân.  
Trong giao tiếp mỗi cá nhân tham gia giao tiếp với nhiều cá nhân, với nhiều nhóm và ở  
mỗi nhóm khác nhau cá nhân thay đổi vai trò của mình, chính điều này tạo nên sự sinh  
động, đa dạng trong giao tiếp.  
Trong mỗi cá nhân có thể có nhiều vai trò, cùng một lúc sự mang vai trò kép này  
lấn át vai trò kia, tuỳ vào điều kiện, tư duy, hoàn cảnh của từng người. Tuy nhiên dù  
mang đa chức năng, hay vai trò kép ở mỗi cá nhân có một cách giao tiếp riêng đại diện  
cho "cái tôi: của mình hoặc thiên về tư duy hoặc thiên về hành động (cử chỉ, lời nói, hành  
vi).  
c. Mối quan hệ khách thể - chủ thể trong giao tiếp.  
Trong các hoạt động của con người nói chung bao giờ cũng tồn tại chủ thể -  
khách thể, trong đó chủ thể là đối tượng tác động, còn khách thể là đối tượng nhận sự tác  
động. Khách thể tác động có thể là một vật thể, có thể là con người, nhóm người.  
Trong hoạt động (lao động) hướng tác động thường đi theo hướng chủ thể đến  
khách thể để tạo ra sản phẩm.  
Trong hoạt động giao tiếp chủ thể tác động là con người và khách thể tác động  
cũng là con người. Khách thể là những cá nhân với tính tích cực, những nét tính cách độc  
đáo đã tác động mạnh mẽ trở lại chủ thể. Các cặp "chủ thể, khách thể" với sự tác động hai  
chiều. Trong nhiều trường hợp của sự giao tiếp, sự truyền thông không phải là một chiều  
mà là hai chiều, người nghe và người nói luôn trao đổi vị trí cho nhau, các cá nhân tác  
17  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
động qua lại lẫn nhau, tạo nên những biến đổi, thái độ tình cảm, tri thức và các biểu hiện  
xu hướng nhân cách của nhau.  
Mối quan hệ "chủ thể - chủ thể" này còn chịu sự chi phối bởi các "vai" trong  
giao tiếp. Chính điều này tạo ra sự bất bình đẳng của cấu trúc xã hội và nó được thể hiện  
rõ nét nhất trong giao tiếp.  
Câu hỏi ôn tập:  
1. Anh, chị hãy phân tích vai trò của giao tiếp trong đời sống con người và xã hội.  
2. Hành vi giao tiếp bao gồm những thành tố nào? Tìm mối liên hệ giữa chúng?  
3. Giao tiếp có những đặc trưng cơ bản nào? Anh (chị) hãy phân tích đặc trưng:  
Tính xã hội của giao tiếp.  
4. Thế nào là phương pháp quan sát? Anh (chị) hãy phân tích các yêu cầu khi tiến  
hành phương pháp này.  
5. Vận dụng phương pháp quan sát để quan sát thái độ học tập của học sinh ở  
Trường Tiểu học.  
18  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA GIAO TIẾP  
2.1. GIAO TIẾP NHƯ MỘT QUÁ TRÌNH TRAO ĐỔI THÔNG TIN  
Trong quá trình giao tiếp, tiếp xúc các cá nhân trao đổi, chia sẻ các suy nghĩ, ý  
tưởng, cảm xúc (mà ta gọi là thông tin) cho nhau. Chính bởi vậy lý thuyết điện tử cho  
rằng giao tiếp là quá trình truyền tin.  
2.1.1. Đối thoại  
Đây là hình thức giao tiếp mà sự truyền thông tin xảy ra trực tiếp giữa các đối tác tham  
gia vào quá trình giao tiếp. Thông tin ở đây được trao đổi chia sẻ và là thông tin hai  
chiều.  
2.1.2 Mạng giao tiếp  
Khái niệm mạng giao tiếp  
Mạng giao tiếp là tập hợp toàn bộ các kênh trong một nhóm có tổ chức theo thông  
tin được truyền đi.  
+ Bavelas (1950) là người đầu tiên nghiên cứu thực hiện về mạng giao tiếp. Theo  
ông có 5 loại mạng giao tiếp (sơ đồ).  
a
b
c
d
e
19  
ĐHGDTHCQ  
Hoàng Thị Tường Vi  
NMKHGT.  
Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy:  
- Mạng dây chuyền với kết cấu dọc có 5 cấp. Ở mạng này, thông tin được truyền  
theo chiều dọc: từ dưới lên và từ trên xuống. Từ người lãnh đạo cao nhất đến cấp dưới  
thấp nhất và ngược lại, từ cấp dưới thấp nhất đến cấp trên cao nhất, thông tin phải truyền  
qua ba cấp trung gian. Vì vậy, về nguyên tắc, mạng này đảm bảo tính chính xác cao của  
thông tin (vì qua nhiều lần kiểm tra), vai trò của từng cấp lãnh đạo cũng được thể hiện rõ,  
tuy nhiên, nó không tạo ra nhiều mối quan hệ và tốc độ truyền thông cũng chậm.  
- Ở mạng chữ Y, năm thành viên được phân ra thành bốn cấp: một thành viên phụ  
trách hai thành viên khác, trên thành viên này còn có hai cấp nữa. Thông tin cũng được  
truyền theo chiều dọc, không có trao đổi thông tin theo chiều ngang. Do đó, về cơ bản, ưu  
điểm và nhược điểm của mạng này không khác mạng dây chuyền là bao.  
- Mạng bánh xe có hai cấp, bốn thành viên cấp dưới không có quan hệ truyền  
thông với nhau, thậm chí khôvng biết nhau. Tuy mạng này tạo ra ít mối quan hệ, tính  
chính xác của thông tin không cao (vì chưa qua kiểm tra), nhưng tốc độ truyền thông  
nhanh, và rất cơ động, linh hoạt, hơn nữa vai trò của người lãnh đạo được thể hiện rõ.  
Cho nên mạng này rất quen thuộc với các công ty tắc xi, tổng đại lý với các đại lý...  
Ngoài ra, quá trình truyền thông còn đảm bảo tính bí mật. Vì vậy không phải ngẫu nhiên  
mà mạng này thường được áp dụng ở các tổ, nhóm tình báo hoạt động trong lòng địch.  
- Mạng vòng tròn cho phép mỗi thành viên có quan hệ truyền thông trực tiếp với  
hai thành viên gần mình nhất, với các thnàh viên còn lại thì phải gián tiếp qua hai người  
này. Truyền thông theo mạng vòng tròn có ưu điểm là thông tin chính xác, tốc độ truyền  
thông tương đối cao, tuy nhiên vai trò của người lãnh đạo cao nhất không được thể hiện  
rõ.  
- Ở mạng hình sao, mỗi thành viên đều có quan hệ truyền thông trực tiếp với tất cả  
các thành viên còn lại, nghĩa là quan hệ không bị hạn chế, tốc độ truyền thông nhanh, Tuy  
nhiên, vai trò của người lãnh đạo không được thể hiện rõ. Người ta thường so sánh mạng  
này với một hội đồng mà trong đó không có một người được bổ nhiệm chính thức hoặc  
tạm giữ vị trí chi phối, vì vậy, không khí ở đây là bình đẳng, dân chủ và mỗi thành viên  
của nó có thể tự do phát biểu ý kiến.  
Một mạng truyền thông tốt là mạng có tốc độ truyền thông nhanh, tốc độ chính  
xác cao, thể hiện quyền lực của người lãnh đạo và tạo ra nhiều mối quan hệ để thoã mãn  
các thành viên. Như vậy, không có mạng truyền thông nào là tốt nhất đối với mọi trường  
hợp này nhưng không phù hợp với trường hợp khác. Chính vì vậy, hiện nay ở nhiều tổ  
chức, người ta thường kết hợp nhiều loại mạng truyền thông.  
2.2. Nhận thức trong giao tiếp  
Trong giao tiếp xã hội chúng ta còn nhận thức, tìm hiểu người khác và nhận thức  
bản thân (tự nhận thức), tức là xây dựng nên hình ảnh về đối tượng giao tiếp và về bản  
thân.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 58 trang yennguyen 18100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Nhập môn khoa học giao tiếp - Hoàng Thị Tường Vi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_nhap_mon_khoa_hoc_giao_tiep_hoang_thi_tuong_vi.pdf