Bài giảng Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI  
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ  
BỘ MÔN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG  
----------  
BÀI GIẢNG CHUẨN  
KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ LÀM VIỆC NHÓM  
Hà Nội, tháng 9/2011  
LỜI NÓI ĐẦU  
Bộ môn Phát triển kỹ năng được thành lập vào ngày 13 tháng 6 năm 2007 theo  
quyết định số 507/QĐ-ĐHTL-TCTB của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi góp  
phần thực hiện mục tiêu đào tạo trong chiến lược phát triển của trường. Nhiệm vụ  
của bộ môn là nghiên cứu, giảng dạy các môn học kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ  
năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy phê phán nhằm trang bị cho sinh viên những  
kiến thức, kỹ năng cơ bản giúp sinh viên học tập và làm việc hiệu quả.  
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, bên cạnh việc vững  
vàng về kiến thức chuyên môn thì việc thành thạo các kỹ năng mềm là không thể  
thiếu được và ngày càng quan trọng đối với người học. Các kỹ năng cần thiết có thể  
đề cập đến như: kỹ năng tư duy, kỹ năng tự học, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết  
trình, kỹ năng làm việc nhóm và hợp tác. Nếu rèn luyện được các kỹ năng thành  
thạo, các bạn sinh viên sẽ đạt kết quả cao hơn trong học tập và có nhiều cơ hội hơn  
trong cuộc sống.  
Để phục vụ cho việc học tập của sinh viên, bộ môn Phát triển kỹ năng đã biên  
soạn bài giảng môn học Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. Bài giảng gồm 3  
chương chính sau:  
- Chương 1: Kỹ năng giao tiếp  
- Chương 2: Kỹ năng làm việc nhóm  
- Chương 3: Hướng dẫn tiểu luận  
Tham gia biên soạn bài giảng gồm có các giảng viên thuộc bộ môn Phát triển  
kỹ năng:  
- TS. Đặng Tùng Hoa, chủ biên  
- ThS. Đoàn Thị Hường  
- ThS. Vũ Huy Vĩ  
- ThS. Phạm Thị Phương Thảo  
- ThS. Phạm Thị Hải Yến  
- ThS. Vũ Thị Vân Anh  
- ThS. Trương Thị Hương  
- CN. Trần Thị Hải Yến  
- CN. Bùi Thị Phương Thảo  
Nhóm tác giả xin cảm ơn PGS. TS. Lê Đức Ngọc, Giám đốc Trung tâm Kiểm  
định, Đo lường và Đánh giá chất lượng giáo dục đã có những góp ý qúy báu để bộ  
môn hoàn thiện bài giảng.  
Bộ môn xin chân thành cảm ơn nhà trường đã tạo điều kiện cho bộ môn hoàn  
thành cuốn bài giảng này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn chưa đáp  
ứng được các yêu cầu của độc giả và còn có những sai sót nhất định. Chúng tôi rất  
mong nhận được sự góp ý của Quý độc giả.  
Các ý kiến đóng góp xin gửi về:  
Bộ môn Phát triển kỹ năng.  
Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Thủy Lợi  
175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội  
ĐT : 04.38522982  
hoặc hộp thư:  
MỤC LỤC  
1
1
Chương 1: Kỹ năng giao tiếp  
I. Khái quát về giao tiếp  
1. Khái niệm giao tiếp  
1
2. Vai trò của giao tiếp  
2
3. Phân loại giao tiếp  
4
4. Rào cản trong giao tiếp  
5. Nguyên tắc trong giao tiếp  
6. Phong cách giao tiếp  
6
7
9
13  
13  
13  
13  
14  
17  
22  
22  
23  
23  
25  
29  
34  
34  
34  
34  
35  
37  
43  
43  
43  
II. Các kỹ năng giao tiếp cơ bản  
1. Kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
1.1.Khái niệm ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
1.2. Tầm quan trọng của ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
1.3. Các kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu  
1.4. Nghi thức giao tiếp  
2. Kỹ năng lắng nghe  
2.1. Khái niệm nghe và lắng nghe  
2.2. Vai trò của lắng nghe  
2.3. Những yếu tố cản trở việc lắng nghe  
2.4. Các kiểu nghe và cấp độ nghe  
2.5. Các kỹ năng khác trong lắng nghe hiệu quả  
3. Kỹ năng phản hồi trong giao tiếp  
3.1. Khái niệm phản hồi  
3.2. Ý nghĩa của phản hồi  
3.3. Các cách phản hồi  
3.4. Nguyên tắc phản hồi  
3.5. Kỹ năng phản hồi hiệu quả  
4. Kỹ năng giao tiếp bằng văn bản  
4.1. Khái niệm giao tiếp bằng văn bản  
4.2. Lợi ích của giao tiếp bằng văn bản  
4.3. Bố cục của văn bản  
45  
46  
4.4. Một số lưu ý chọn từ ngữ và văn phong  
4.5. Các hình thức giao tiếp bằng văn bản  
47  
50  
III. Kỹ năng thuyết trình  
3.1. Khái niệm thuyết trình  
3.2. Chuẩn bị buổi thuyết trình  
3.3. Cấu trúc bài thuyết trình  
50  
50  
54  
3.4. Một số kỹ năng trong thuyết trình  
Chương II: Kỹ năng làm việc nhóm  
I. Khái quát về làm việc nhóm  
1.1. Khái niệm làm việc nhóm  
1.2. Ý nghĩa của làm việc nhóm  
1.3. Nguyên tắc làm việc nhóm  
1.4. Các giai đoạn phát triển nhóm  
II. Kỹ năng làm việc nhóm  
59  
73  
73  
73  
77  
79  
80  
82  
2.1. Kỹ năng lãnh đạo  
82  
2.2. Kỹ năng quản lý mâu thuẫn trong nhóm  
2.3. Kỹ năng tổ chức và điều hành cuộc họp nhóm  
Chương III: Quy trình thực hiện tiểu luận  
I. Yêu cầu của tiểu luận  
88  
96  
100  
100  
100  
101  
101  
102  
104  
115  
1.1. Yêu cầu về nội dung  
1.2. Yêu cầu về hình thức  
1.3. Yêu cầu về phương pháp  
II. Các bước thực hiện tiểu luận  
III. Tài liệu tham khảo và phụ lục  
Tài liệu tham khảo  
Danh mục các bảng và hình  
Danh mục các bảng  
STT  
Tên bảng  
Trang  
22  
Bảng 01: Phân biệt nghe và lắng nghe  
Bảng 02: Một số loại công cụ trực quan sử dụng trong thuyết trình  
Bảng 03: Phân biệt giữa tổ và nhóm làm việc  
68  
74  
Bảng 04: So sánh giữa người lãnh đạo truyền thống và hiện đại  
83  
Danh mục các hình  
STT  
Tên bảng  
Trang  
22  
Hình 01: Mô hình nghe và lắng nghe  
Hình 02: Chu trình lắng nghe  
29  
Hình 03: Mô hình tổ làm việc  
73  
Hình 04: Các thành phần của giao tiếp trong nhóm  
Hình 05: Mô hình 4M của người lãnh đạo  
75  
84  
Chương I: KỸ NĂNG GIAO TIẾP  
I. KHÁI QUÁT VỀ GIAO TIẾP  
1. Khái niệm giao tiếp  
Mỗi con người sinh ra và lớn lên trong một xã hội nhất định. Trong quá trình  
sống, con người có rất nhiều mối quan hệ khác nhau (quan hệ gia đình, quan hệ  
công việc, quan hệ bạn bè) và nhiều nhu cầu khác nhau (nhu cầu trao đổi thông tin,  
trao đổi kinh nghiệm, nhu cầu chia sẻ tình cảm, ...). Tất cả những mối quan hệ và  
những nhu cầu đó được thực hiện thông qua hoạt động giao tiếp.  
Có thể tóm tắt như sau: giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa các  
chủ thể tham gia thông qua các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm đạt  
được mục đích nhất định.  
Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin vì hoạt động giao tiếp luôn diễn  
ra hai chiều: truyền thông tin - nhận thông tin - phản hổi. Chẳng hạn người A gửi  
cho người B một thông điệp. Người B nhận được sẽ gửi lại cho người A một thông  
điệp. Đến đây, người B lại đóng vai trò người gửi, người A lại đóng vai trò người  
nhận. Như vậy vai của của nhận và người gửi luôn hoán đổi cho nhau.  
Để giao tiếp được với nhau, các chủ thể giao tiếp phải nhờ đến các phương  
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Ngôn ngữ gồm lời nói, chữ viết; phi ngôn ngữ gồm có  
cử chỉ, hành động, thái độ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười... Kết hợp ngôn ngữ và phi  
ngôn ngữ sẽ đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp.  
Mỗi cuộc giao tiếp đều có những mục đích nhất định. Mục đích ở đây có thể  
là trao đổi công việc, hay chia sẻ tình cảm, hay giải trí...  
Căn cứ vào khái niệm giao tiếp, chúng ta có thể sơ đồ hoá quá trình giao tiếp  
như sau:  
1
Nguồn: Bộ môn Phát triển kỹ năng (2009)  
- Người gửi: người phát đi thông điệp (có thể là người nói hoặc người viết)  
- Người nhận: người tiếp nhận thông điệp  
- Thông điệp: thông tin mà các chủ thể giao tiếp muốn trao đổi với nhau  
- Mã hoá: việc chuyển tải những ý nghĩ thành thông điệp dưới dạng ngôn  
ngữ và phi ngôn ngữ.  
- Kênh: cách liên lạc giữa người gửi và người nhận.  
- Giải mã: quá trình người nhận lý giải để hiểu thông điệp của người gửi.  
- Phản hồi: là việc người nhận đáp lại thông tin của người gửi.  
- Nhiễu: những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao tiếp  
2. Vai trò của giao tiếp  
2.1. Giao tiếp là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của con người  
Con người hay bất cứ loài động vật nào cũng không thể tồn tại được nếu tách  
biệt với đồng loại. Câu chuyện về hai bé gái Kamala và Amala ở Ấn Độ là một  
minh chứng. Kamala và Amala bị lạc vào trong rừng khi còn rất nhỏ. Sau nhiều  
năm sống trong rừng, Kamala và Amala đã được các nhà thám hiểm tìm thấy và đưa  
2
trở về xã hội loài người. Nhưng khi trở về với xã hội loài người, Kamala và Amala  
đã không thích nghi được, sau một thời gian ngắn thì cả hai đều chết.  
Xã hội loài người không thể phát triển được nếu thiếu hoạt động giao tiếp.  
Thông qua hoạt động giao tiếp, con người chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm  
sống, kinh nghiệm sản xuất. Chẳng hạn như kinh nghiệm chăn nuôi gia súc, gia  
cầm; kinh nghiệm trồng các loại cây trái; kinh nghiệm chế tác các loại dụng cụ lao  
động; kinh nghiệm chế biến các loại thực phẩm; kinh nghiệm nhận biết và điều trị  
các loại bệnh.  
Như vậy, giao tiếp làm phong phú thêm sự hiểu biết, vốn sống, kinh nghiệm  
của mỗi người, giúp cho con người tồn tại và phát triển.  
2.2. Giao tiếp là phương tiện để con người chia sẻ thông tin, tình cảm  
Con người luôn có nhu cầu được chia sẻ những thông tin mình biết và muốn  
biết. Để thực hiện được được điều đó, không có cách nào khác là con người phải  
nhờ đến phương tiện giao tiếp. Giao tiếp giúp cho con người có thể chia sẻ bất cứ  
thông tin nào. Nếu chúng ta muốn biết loài cây này trồng như thế nào thì có thể hỏi  
nhà sinh vật học, muốn biết bài toán này giải thế nào thì có thể người giáo viên dạy  
toán, muốn biết máy móc này vận hành như thế nào thì có thể hỏi người kĩ sư chế  
tạo ra nó.  
Mỗi con người đều có nhiều mối quan hệ khác nhau. Khi mối quan hệ phát  
triển tốt, con người cảm thấy vui; khi mối quan hệ xấu đi, con người cảm thấy buồn.  
Đã là con người ai cũng có nhu cầu được chia sẻ những tâm tư, tình cảm của mình  
với người khác. Bởi vì niềm vui được chia sẻ thì niềm vui sẽ tăng lên gấp bội, nỗi  
buồn được chia sẻ thì nỗi buồn sẽ vơi đi.  
2.3. Giao tiếp là môi trường con người hoàn thiện nhân cách  
Trong tiếng Hán có một chữ “nhân” có nghĩa là “lòng nhân từ” - một phẩm  
chất đạo đức tốt đẹp của con người. Chữ này do hai chữ “nhân” (nghĩa là người) và  
“nhị” (nghĩa là hai) cấu thành. Cách cấu tạo như thế cho ta một thông điệp “muốn  
đánh giá một người thì phải xem cách giao tiếp ứng xử của người đó với những  
người khác”. Quả đúng vậy, nếu một người không giao tiếp với ai thì sẽ không biết  
mình là người thế nào. Thông qua giao tiếp với những người khác, con người nhận  
thức được thế nào là tốt, thế nào là xấu, học hỏi ở nhau những điều hay lẽ phải, loại  
bỏ những điều chưa đúng để hoàn thiện mình. Như vậy giúp cho con người hoàn  
thiện nhân cách.  
3
3. Phân loại giao tiếp  
3.1. Căn cứ vào phương thức giao tiếp  
Giao tiếp trực tiếp  
Giao tiếp trực tiếp là cách giao tiếp trong đó các chủ thể giao tiếp trực tiếp  
gặp gỡ, trao đổi với nhau. Điển hình của loại hình giao tiếp này là các cuộc phỏng  
vấn tuyển dụng, các cuộc hội đàm song phương, các buổi hội thảo,…  
Giao tiếp trực tiếp là loại hình giao tiếp thông dụng nhất, vì nó có nhiều ưu  
điểm như:  
- Thông tin truyền - nhận nhanh chóng;  
- Thấy được hình thức, thái độ của nhau;  
- Thông tin có độ chính xác, tin cậy cao;  
- Hai bên có thể trao đổi được nhiều vấn đề;  
- Có thể điều chỉnh nội dung, cách trình bày.  
Bên cạnh những ưu điểm trên, giao tiếp trực tiếp cũng có một số hạn chế:  
- Không gian giao tiếp bị giới hạn  
- Các chủ thể giao tiếp dễ bị chi phối bởi yếu tố ngoại cảnh.  
Giao tiếp gián tiếp  
Giao tiếp gián tiếp là cách giao tiếp trong đó các chủ thể giao tiếp trao đổi  
thông tin với nhau thông qua người thứ ba hoặc qua các phương tiện truyền tin: điện  
thoại, thư từ…  
Ưu điểm của loại hình giao tiếp này là các đối tượng giao tiếp có thể giao  
tiếp với nhau trong một khoảng không gian rộng. Ví dụ người ta có thể trao đổi  
thông tin với nhau ở hai nửa địa cầu nhờ điện thoại, e-mail...  
Tuy nhiên loại hình giao tiếp này cũng có một số hạn chế: sự phản hồi thông  
tin thường rất chậm, chủ thể giao tiếp thường không thấy được vẻ mặt của người  
đối thoại, không biết họ đang làm gì, trong hoàn cảnh nào...  
3.2. Căn cứ vào hình thức tổ chức giao tiếp  
Giao tiếp chính thức  
Giao tiếp chính thức là giao tiếp mang tính công vụ, tuân theo những quy  
định cụ thể. Ví dụ: hội họp, mít tinh, đàm phán giữa các tổ chức...  
4
Trong giao tiếp chính thức, nội dung giao tiếp thường được ấn định trước,  
chuẩn bị trước, vì vậy tính chính xác của thông tin khá cao. Giao tiếp chính thức đòi  
hỏi chủ thể của cuộc giao tiếp phải chuẩn bị công phu nội dung cần trao đổi và phải  
có kỹ năng nói lưu loát, trôi chảy. Muốn vậy, cần phải có vốn từ ngữ phong phú và  
sự hiểu biết sâu rộng về vấn đề cần trao đổi.  
Giao tiếp không chính thức  
Giao tiếp không chính thức là giao tiếp không theo sự quy định nào cả, nó  
mang nặng tính cá nhân. Ví dụ: lãnh đạo trò chuyện riêng với nhân viên, bạn bè nói  
chuyện với nhau...  
Hình thức giao tiếp này có ưu điểm: không khí giao tiếp chân tình, cởi mở,  
giúp hiểu biết lẫn nhau.  
Giao tiếp không chính thức thành công sẽ góp phần vào sự thành công của  
giao tiếp chính thức.  
3.3. Căn cứ vào phạm vi giao tiếp  
Cá nhân – cá nhân  
Giao tiếp giữa hai cá nhân với nhau là giao tiếp chỉ có 2 người tham gia. Ví  
dụ: hai người bạn trò chuyện với nhau, người bán hàng trao đổi với khách hàng...  
Cá nhân – nhóm  
Đây là kiểu giao tiếp giữa một người với nhiều người. Ví dụ: trưởng nhóm  
trao đổi với các thành viên trong nhóm, lãnh đạo nói chuyện với các nhân viên,,  
giảng viên với sinh viên…  
Nhóm – nhóm  
Đây là kiểu giao tiếp giữa các nhóm xã hội với nhau, như giao lưu văn nghệ,  
thể thao các phòng ban trong công ty, đàm phán giữa phái đoàn các nước...  
3.4. Căn cứ vào phương tiện giao tiếp  
Giao tiếp ngôn ngữ  
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người. Ngôn ngữ giúp  
chúng ta có thể truyền đi bất kì một thông điệp nào, như miêu tả sự vật hiện tượng, trao  
đổi công việc, bày tỏ tình cảm... Ngôn ngữ được thể hiện dưới hai dang: nói và viết.  
- Ngôn ngữ nói: gồm có ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại. Ngôn  
ngữ đối thoại diễn ra ở một người với một người khác hoặc một người với một số  
5
người khác. Ngôn ngữ độc thoại là hình thức một người nói cho số đông nghe mà  
không có chiều ngược lại, vì vậy người nói phải chuẩn bị kỹ. Ngôn ngữ nói có hiệu  
quả cao trong các trường hợp:  
+ Thông tin cần truyền đạt nhanh  
+ Muốn có sự phản hồi ngay  
+ Thể hiện cảm xúc  
+ Không cần phải ghi chép lại  
- Ngôn ngữ viết: Là ngôn ngữ hướng vào người khác, được biểu đạt bằng chữ  
viết và thu nhận bằng thị giác. Ngôn ngữ viết có hiệu quả cao trong các trường hợp:  
+ Thông tin cần được lưu giữ để tham khảo, sử dụng trong tương lai  
+ Thông tin (các hợp đồng, thỏa thuận) cần được lưu giữ để làm căn cứ tổ  
chức thực hiện, giám sát công việc và giải quyết tranh chấp (nếu có) sau này  
+ Thông tin cần được giữ bí mật.  
+ Những điều tế nhị, khó nói bằng lời  
Giao tiếp phi ngôn ngữ  
Thay vì dùng lời nói, giao tiếp sử dụng những cử chỉ, hành động, thái độ để  
ngầm truyền đi quan điểm của mình. Trong giao tiếp, giao tiếp phi ngôn ngữ chiếm  
từ 55-65%, giao tiếp ngôn ngữ chỉ chiếm 7%, sự kết hợp giữa giao tiếp ngôn ngữ và  
phi ngôn ngữ chiếm khoảng 38%. Giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ ít khi tách  
rời nhau, mà thường bổ sung cho nhau. Để giao tiếp hiệu quả, chủ thể giao tiếp phải  
biết kết hợp giữa ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.  
4. Rào cản trong giao tiếp  
4.1. Rào cản chủ quan  
Không phải cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra một cách suôn sẻ, thành công,  
mà có nhiều khi gặp trở ngại, thất bại. Vậy có những yếu tố nào ảnh hưởng tiêu cực  
đến quá trình giao tiếp? Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc giao tiếp thì có rất  
nhiều, nhưng có thể chia làm hai nhóm yếu tố: yếu tố chủ quan và khách quan. Chúng  
ta có thể gọi những yếu tố là những cản chủ quan và những rào cản khách quan.  
Rào cản chủ quan là những rào cản xuất phát từ chính chủ thể giao tiếp. Rào  
cản chủ quan bao gồm:  
- Thái độ không thiện chí, không hợp tác, tự cao, tự đại, bảo thủ hoặc tự ti  
6
- Nội dung giao tiếp không phù hợp: nhiều, khó hiểu, không hấp dẫn  
- Cách trình bày không thu hút: dài dòng, khó hiểu, từ địa phương, đơn  
điệu...  
- Tâm sinh lý không tốt: mệt mỏi, căng thẳng, ốm đau  
- Ngoại hình không ưa nhìn; trang phục, trang sức, trang điểm không phù  
hợp với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp.  
4.2. Rào cản khách quan  
Rào cản khách quan là những rào cản bên ngoài hoặc là do đối tượng giao  
tiếp. Rào cản khách quan bao gồm:  
- Bất đồng ngôn ngữ  
- Bất đồng văn hoá  
- Môi trường không thuận lợi (tiếng ồn, khói, bụi, nóng, lạnh, mưa, nắng...)  
- Thái độ không hợp tác của đối tượng giao tiếp  
5. Nguyên tắc trong giao tiếp  
5.1. Khái niệm nguyên tắc giao tiếp  
Nguyên tắc giao tiếp là hệ thống những quy tắc giao tiếp ứng xử được xã hội  
thừa nhận là chuẩn mực và con người cần phải tuân theo.  
5.2. Các nguyên tắc trong giao tiếp  
Nguyên tắc tôn trọng đối tượng giao tiếp  
Tôn trọng đối tượng giao tiếp là tôn trọng phẩm giá, tâm tư nguyện vọng và  
những khác biệt về văn hoá của nhau. Trong quá trình giao tiếp, các cá nhân đều là  
chủ thể, bình đẳng với tất cả mọi người trong các quan hệ xã hội. Mặt khác mỗi  
người có đặc điểm tâm lý riêng biệt (nhận thức, tình cảm, thái độ...) cần được tôn  
trọng đó là chưa nói độ tuổi, giới tính, địa vị xã hội người này có thể khác với người  
kia. Tôn trọng người khác chính là tôn trọng mình. Tôn trọng tuổi tác, địa vị xã hội,  
giới tính, nhân cách... người đối thoại sẽ tạo ra ở họ niềm tin, sẽ cởi mở hơn trong  
giao tiếp. Để đạt những điều trên, cần lưu ý một số điểm sau:  
- Chúng ta phải hiểu tâm lý của đối tác khi đến giao tiếp, dành thời gian để  
tìm hiểu mục đích của đối tượng giao tiếp, đồng thời trong hoạt động giao tiếp này,  
mình cần đạt được mục đích gì.  
7
- Trong quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặt mục tiêu sao cho mục đích của  
mình đạt và lợi ích của đối tượng tham gia giao tiếp (đối tác) cũng được thỏa mãn  
một phần hay toàn bộ. Có như vậy thì việc giao tiếp mới đem lại kết quả cao.  
Ngược lại, nếu trong giao tiếp chúng ta chỉ chú trọng tới lợi ích của mình mà không  
chú ý tới hoặc gạt bỏ hoàn toàn lợi ích của đối tác thì hoạt động giao tiếp này chưa  
hẳn đã là thành công (ngay cả khi kết quả được phía bên kia chấp thuận).  
- Trong trường hợp lợi ích của đối tượng giao tiếp không được thỏa mãn thì  
chúng ta cũng cần phải tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ chứ không nê có thái độ hiếu  
thắng hoặc thờ ơ.  
Tôn trọng nhân cách cũng có nghĩa là coi họ là một con người, có đầy đủ các  
quyền con người và được bình đẳng trong các mối quan hệ xã hội.  
Nguyên tắc thiện chí trong giao tiếp  
Thiện chí trong giao tiếp là sự tin tưởng ở đối tượng giao tiếp, luôn nghĩ tốt  
về họ; dành những tình cảm tốt đẹp và đem lại niềm vui cho đối tượng giao tiếp,  
luôn động viên, khuyến khích họ làm việc tốt.  
Nguyên tắc thiện chí trong giao tiếp đòi hỏi khi giao tiếp phải biết đặt lợi ích  
của đối tượng giao tiếp lên trên lợi ích bản thân, không tính toán thiệt hơn, suy bì  
với thành công hay chế giễu sự thất bại của người khác. Cần tin tưởng ở đối tượng  
giao tiếp, chân thành, cởi mở, biết quan tâm đến người khác là những điều rất quan  
trọng. Ngoài ra, công bằng trong nhận xét, đánh giá, có sự khuyến khích động viên,  
trong hành vi ứng xử luôn hướng tới cái thiện và hành thiện cũng rất cần thiết.  
Nguyên tắc đồng cảm trong giao tiếp  
Chủ thể giao tiếp cần biết đặt bản thân mình vào vị trí của đối tượng giao  
tiếp để biết được tâm tư, tình cảm, thái độ của họ, trên cơ sở đó có thể lựa chọn cách  
ứng xử phù hợp. Không nên bắt người khác phải suy nghĩ và hành động như mình.  
Chủ thể giao tiếp cần phải biết vui với niềm vui của đối tượng giao tiếp và đồng  
thời biết chia sẻ nỗi buồn của họ để động viên, khuyến khích kịp thời. Phải hiểu bản  
chất vấn đề giao tiếp thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, thái độ. Biết khen, chê  
đúng lúc, đúng mức và chân thành. Sự đồng cảm sẽ giúp chủ thể chiếm được niềm  
tin, tình cảm trong giao tiếp.  
Những nguyên tắc trong giao tiếp trên nhằm mục đích nâng cao hiệu quả  
trong quá trình giao tiếp. Vấn đề cơ bản nhất là chúng ta phải biết vận dụng các  
nguyên tắc đó vào trong những trường hợp cụ thể một cách linh hoạt và phù hợp thì  
8
mới thành công. Điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào những năng lực và phẩm chất  
của mỗi người khi giao tiếp.  
6. Phong cách giao tiếp  
6.1. Khái niệm phong cách giao tiếp  
Trong cuộc sống, ở mỗi con người hay mỗi nhóm người dần dần hình thành  
nên những nét riêng trong lời nói, cử chỉ, điệu bộ, hành động. Chúng tạo nên phong  
cách giao tiếp của người đó hoặc nhóm người đó.  
Có thể nói, phong cách giao tiếp là cách giao tiếp ứng xử tương đối ổn định của  
mỗi người đối với người khác và với môi trường xung quanh.  
6.2. Các phong cách giao tiếp  
Phong cách độc đoán  
- Là kiểu phong cách giao tiếp mà chủ thể giao tiếp áp đặt quan điểm của  
mình lên đối tượng giao tiếp. Họ thường hành động một cách cứng nhắc, kiên  
quyết. Đánh giá và ứng xử mang tính đơn phương, một chiều, xuất phát từ ý chủ  
quan của mình ít chú ý đến người khác. Vì vậy, không ít người ngại tiếp xúc với họ.  
Ở những tổ chức mà người lãnh đạo có phong cách độc đoán thì nhân viên khó  
phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Tuy nhiên, trong một số trường  
hợp phức tạp, khẩn cấp, đòi hỏi một con người quyết đoán, dám chịu trách nhiệm  
thì phong cách giao tiếp này thường phát huy được tác dụng.  
+ Ưu điểm: Có tác dụng trong việc đưa ra những quyết định nhất thời, giải  
quyết được vấn đề một cách nhanh chóng.  
+ Nhược điểm: Làm mất đi sự tự do, dân chủ trong giao tiếp. Kiềm chế sức  
sáng tạo của con người, giảm tính giáo dục và tính thuyết phục.  
Phong cách dân chủ  
Là phong cách mà chủ thể giao tiếp tạo điều kiện cho đối tượng giao tiếp  
được bày tỏ quan điểm của mình, tham gia tích cực vào quá trình giao tiếp.  
- Tôn trọng đối tượng giao tiếp, chú ý đến đặc điểm nhân cách cá nhân của họ.  
Trong giao tiếp, người có phong cách giao tiếp dân chủ thường chú ý tìm  
hiểu đặc điểm tâm lý cá nhân của đối tượng giao tiếp như:sở thích, thói quen, nhu  
cầu, quan điểm… từ đó có phương pháp tiếp cận hợp lý. Chính vì vậy, họ thường  
được đánh giá là người dễ gần, dễ cảm thông, dễ chia sẻ, không quan cách.  
9
- Lắng nghe đối tượng giao tiếp  
Lắng nghe là một trong những nét nổi bật thường thấy ở người có phong  
cách giao tiếp dân chủ. Họ điềm tĩnh, kiên trì lắng nghe và luôn quan tâm đến ý  
kiến xác đáng, đáp ứng kịp thời hoặc giải thích rõ ràng.  
- Phong cách giao tiếp dân chủ làm cho đối tượng giao tiếp cảm thấy thoải  
mái, tự tin, phát huy được tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong công việc. Người  
có phong cách này thường được nhiều người yêu mến, tin tưởng và kính trọng. Họ  
cố gắng thu hẹp khoảng cách với đối tượng giao tiếp tới mức có thể thông qua ăn  
mặc, đi đứng, nói năng, cử chỉ, điệu bộ…  
+ Ưu điểm: Người có phong cách giao tiếp dân chủ có xu hướng tạo không  
khí bình đẳng, thân mật, thoải mái trong giao tiếp.  
+ Nhược điểm: Dân chủ quá có thể dẫn đến việc rời xa lợi ích của tập thể,  
không tập trung vào mục tiêu.  
Phong cách tự do  
- Là phong cách linh hoạt, cơ động, mềm dẻo dễ thay đổi theo đối tượng và  
hoàn cảnh giao tiếp.  
+ Ưu điểm: Phát huy được tính tích cực của con người. Kích thích tư duy  
sáng tạo của con người  
+ Nhược điểm: Không làm chủ được cảm xúc của bản thân, dễ phát sinh quá trớn.  
Như vậy, mỗi phong cách giao tiếp trên đều có những điểm mạnh và điểm  
yếu riêng, không có loại phong cách tối ưu cho mọi trường hợp.Tùy thuộc vào mục  
đích và đối tượng giao tiếp mà ta lựa chọn phong cách giao tiếp cho phù hợp nhằm  
đạt hiệu quả cao nhất.  
Tình huống thực hành  
Tình huống 1  
Tuấn là trưởng phòng quản lý chiến lược của Dự án Nâng cao nhận thức  
cộng đồng trong bảo vệ nguồn nước của tỉnh Cà Mau, phụ trách 8 nhân viên. Ngay  
từ đầu, mọi công việc trong phòng Tuấn đều đưa ra bàn bạc với các nhân viên của  
mình bằng cách tổ chức những cuộc họp thảo luận và dựa trên ý kiến của mọi người  
để đưa ra quyết định. Thời gian đầu, các nhân viên tỏ ra rất hào hứng, đóng góp ý  
kiến tích cực, công việc luôn được tiến hành suôn sẻ và đạt kết quả tốt.. Tuy nhiên  
10  
gần đây, các nhân viên bắt đầu tỏ thái độ coi thường và chống đối Tuấn vì cho là  
trưởng phòng không có chính kiến của mình.  
Câu hỏi:  
1. Xác định phong cách giao tiếp của Tuấn và phân tích ưu điểm, nhược  
điểm của phong cách giao tiếp đó.  
2. Nếu là Tuấn, anh/chị sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?  
Tình huống 2  
Học kỳ I năm thứ nhất đã đi vào giai đoạn cuối, tất cả các sinh viên đều bận rộn  
với kỳ thi đầu tiên của thời sinh viên. Chỉ còn 2 ngày nữa là thi môn Lịch sử Đảng,  
lớp trưởng Hùng và lớp phó học tập Trang bàn với nhau sẽ đi xin cô giáo dạy Kỹ  
năng cho nghỉ học một buổi để ôn thi. Sau một hồi tranh luận, lớp trưởng Hùng thì  
một mực cho rằng, cứ gọi điện cho cô là xong, lớp ai chẳng muốn nghỉ, xin được thì  
báo lớp sau. Lớp phó Trang thì muốn gặp lớp trao đổi rồi cùng đến nhà cô xin nghỉ.  
Cuối cùng thì vào buổi trưa hôm đó, Hùng đã tức tốc gọi điện cho cô và xin cô cho  
cả lớp nghỉ học, Hùng quên cả nói với cô tên là gì và học lớp nào...  
Câu hỏi:  
1. Theo anh/chị, Hùng đã vi phạm những nguyên tắc giao tiếp nào?  
2. Nếu là Hùng, anh/chị giải quyết tình huống đó như thế nào?  
3. Đóng vai cuộc nói chuyện giữa Hùng và cô giáo.  
Tình huống 3  
Trong cuộc họp tại công ty:  
- Giám đốc P: Tháng tới, chúng ta sẽ triển khai chiến dịch thử nghiệm sản  
phẩm mới. Đề nghị mọi người cho ý kiến về hình thức tiến hành.  
- Nhân viên K: Theo tôi, chúng ta sẽ tung ra hàng loạt sản phẩm tại thị  
trường trên toàn thành phố với mục tiêu mọi khách hàng đều biết đến sản phẩm,  
được thử nghiệm sản phẩm của chúng ta.  
- Nhân viên X: Tôi thì nghĩ rằng đây là lần đầu tiên chúng ta thử nghiệm  
sản phẩm này, nên tập trung vào một số quận trọng điểm trong thành phố như  
quận Hoàn Kiếm, quận Cầu Giấy, quận Hai Bà Trưng. Nếu như có kết quả tốt,  
chúng ta sẽ tiếp tục thử nghiệm ở các quận còn lại.  
11  
- Giám đốc P: Còn ai có ý kiến nữa không? Vậy chúng ta sẽ quyết định dựa  
theo đa số. Đề nghị mọi người giơ tay biểu quyết...  
Câu hỏi:  
1. Anh/chị hãy xác định phong cách giao tiếp của giám đốc P  
2. Anh/chị hãy phân tích ưu điểm và nhược điểm của phong cách giao tiếp  
của giám đốc P trong tình huống trên.  
3. Nếu là giám đốc P, anh/chị sẽ xử sự như thế nào?  
Tình huống 4  
Sau khi tốt nghiệp đại học, chị Mai được nhận vào làm việc tại công ty X.  
Thời gian đầu, chị Mai luôn đi làm đúng giờ và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được  
giao. Tuy nhiên, thời gian gần đây chị Mai hay đi muộn về sớm, đôi lúc quên thực  
hiện công việc. Một buổi sáng, khi chị Mai đến văn phòng muộn, bị trưởng phòng  
trách mắng trước mặt mọi người. Hai người đã xảy ra to tiếng với nhau, và những  
ngày sau đó họ không nói chuyện với nhau.  
Câu hỏi:  
1. Theo anh/chị, chị Mai và trưởng phòng đã vi phạm những nguyên tắc giao  
tiếp nào?  
2. Nếu là Mai hoặc trưởng phòng, anh/chị sẽ ứng xử như thế nào trong tình  
huống trên?  
3. Đóng vai cuộc nói chuyện giữa Mai và trưởng phòng.  
Câu hỏi ôn tập  
1. Anh/chị hãy trình bày khái niệm và các yếu tố trong mô hình giao tiếp?  
2. Phân tích vai trò của giao tiếp trong học tập và cuộc sống? Cho ví dụ  
minh họa?  
3. Anh/chị hãy phân tích những nguyên nhân khiến cho giao tiếp không hiệu  
quả? Liên hệ với bản thân cách khắc phục những hạn chế đó?  
4. Anh/chị hãy đánh giá khả năng giao tiếp của mình (điểm mạnh, hạn chế).  
Anh/chị thấy mình cần phải làm gì để nâng cao khả năng giao tiếp?  
5. Trình bày các nguyên tắc giao tiếp và liên hệ với bản thân?  
6. Anh/chị hãy trình bày hạn chế của một phong cách giao tiếp và đề xuất các  
biện pháp khắc phục khi anh/chị là khách thể giao tiếp. Nêu ví dụ cụ thể?  
12  
7. Anh/chị tự đánh giá mình có phong cách giao tiếp như thế nào? Phân tích  
những ưu, nhược điểm và biện pháp khắc phục?  
II. CÁC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CƠ BẢN  
1. Kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
1.1. Khái niệm ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
Ấn tượng ban đầu trong giao tiếp là những ấn tượng chung, tổng thể, những  
nét khái quát chứ không phải những nét riêng lẻ về đối tượng. Có thể nói ấn tượng  
ban đầu mang tính khái quát cao, là những hình ảnh chung nhất về đối tượng sau lần  
tiếp xúc đầu tiên.  
Ấn tượng ban đầu trong giao tiếp là những cảm nhận của chủ thể về đối  
tượng giao tiếp được hình thành trong lần gặp gỡ đầu tiên.  
Muốn gây ấn tượng tốt, cần tạo bầu không khí thân mật, hữu nghị trong giây  
phút đầu tiên, khiến cho đối tượng cảm thấy tự tin, yên tâm, tin tưởng vào người đối  
thoại. Điều này giúp chúng ta có thể đặt nền móng cho việc xây dựng hình ảnh tích  
cực về mình. Muốn vậy, trước hết cần chú ý đến những biểu hiện bề ngoài như: ánh  
mắt, nét mặt, dáng vẻ, nụ cười, cách ăn mặc, giọng nói… thậm chí cả cách bố trí bàn  
ghế, khoảng cách giữa chủ thể và khách thể khi giao tiếp.  
1.2. Tầm quan trọng của ấn tượng ban đầu trong giao tiếp  
Ấn tượng ban đầu có ý nghĩa rất lớn trong giao tiếp. Chỉ cần 4 phút để gây ấn  
tượng ban đầu nhưng mất tới 4 năm để xóa đi ấn tượng đó.  
Nếu tạo được ấn tượng tốt đối với người khác ngay trong lần đầu tiếp xúc, điều  
đó có nghĩa là họ có cảm tình với chúng ta và còn muốn gặp lần sau. Đó chính là điều  
kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài. Ngược lại, nếu  
ngay trong lần đầu gặp gỡ đã có những sơ suất và để lại ấn tượng không tốt, như vậy sẽ  
khó khăn trong những lần gặp tiếp theo và phải mất không ít công sức mới có thể xoá  
được ấn tượng đó. Ví dụ, Bác Hồ là người có khả năng tạo ấn tượng ban đầu trong  
giao tiếp rất tốt, luôn phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp, tạo được sự  
cảm mến của người gặp. Năm 1946, Bác sang Paris để thương thuyết với chính phủ  
Pháp. Một hôm, thủ tướng Pháp có hẹn tiếp kiến Hồ Chí Minh tại dinh. Khách đến,  
chậm rãi bước lên các bậc thềm, chủ ra, nhanh nhẹn bước xuống mấy bậc đưa tay ra  
cho khách, khách tiếp tục bước lên một bước nữa, đứng ngang hàng với chủ, hai  
bên bắt tay nhau đúng lễ nghi. Hành động mang đầy tính tự hào dân tộc, khiến cho  
13  
người khác phải tôn trọng và gây được ấn tượng tốt đẹp không chỉ với thủ tướng  
Pháp mà còn rất nhiều quan khách và nhà báo. Vì vậy, trong những phút xuất hiện  
đầu tiên, không chỉ là thể hiện vẻ đẹp bên ngoài mà cần toát lên vẻ đẹp từ bên trong  
qua cách ứng xử, trò chuyện.  
Ấn tượng ban đầu thể hiện sự đánh giá, thái độ của chủ thể về đối tượng giao  
tiếp. Ấn tượng ban đầu thường mang đậm màu sắc chủ quan, vì chủ thể không có  
điều kiện nhìn nhận đối tượng từ nhiều phía. Ấn tượng ban đầu chứa đựng sự nhận  
thức về đối tượng, kèm theo đó là những xúc cảm, tình cảm: quý mến hay ghét,  
thích hay không thích, hài lòng hay không hài lòng. Thái độ đó sẽ chi phối cách ứng  
xử của những quá trình giao tiếp về sau. Nếu có ấn tượng ban đầu là tốt thì họ sẽ  
hào hứng tiếp tục quan hệ, còn nếu không mối quan hệ tiến triển sẽ rất khó khăn  
hoặc không quan hệ nữa.  
1.3. Các kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu  
Ấn tượng ban đầu đóng vai trò hết sức quan trọng. Vậy, làm thế nào để tạo được  
ấn tượng tốt đối với lần gặp đầu tiên là vấn đề chúng ta cần quan tâm, đó không chỉ là  
dáng vẻ bề ngoài mà còn là những nét đẹp trong cách ứng xử, thái độ và vẻ đẹp tâm  
hồn. Sau đây là một số điều cần chú ý khi tạo ấn tượng ban đầu.  
Trang phục, trang điểm  
- Trang phục: một bộ trang phục giản dị, phù hợp với thân hình, địa vị người  
mặc thể hiện sự tự trọng, thái độ nghiêm túc, lịch sự trong giao tiếp, gây được ấn tượng  
tốt, dễ gần, sự thân thiện ngay lần tiếp xúc đầu tiên. Trang phục không nên quá cầu kì,  
màu sắc loè loẹt; nên mặc gọn gàng, giản dị, màu sắc trang nhã phù hợp với khổ người,  
lứa tuổi giới tính, khí hậu, môi trường làm việc.  
- Trang điểm: nếu biết cách trang điểm sẽ tôn thêm những nét hoàn mĩ, khắc  
phục bớt những hạn chế trên khuôn mặt cũng như vóc dáng của mình. Tuỳ thuộc  
vào khả năng sở thích của mỗi người, song dù hoàn cảnh nào cũng cần thực hiện  
phương châm đẹp, đứng đắn, hợp lứa tuổi, môi trường… không nên quá cầu kì biến  
trang điểm thành hoá trang  
Trang phục, trang điểm phù hợp sẽ giúp chúng ta tự tin hơn, đặc biệt lưu ý vẻ  
đẹp bên ngoài phải hài hòa với vẻ đẹp toát ra từ bên trong tâm hồn, kiến thức, tình  
cảm, đạo đức.  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang yennguyen 23640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_ky_nang_giao_tiep_va_lam_viec_nhom.pdf