Xác định một số tính chất có lợi của các chủng vi khuẩn Lactic phân lập được từ mắm ruốc Huế

HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 3(3) – 2019:1458-1467  
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TÍNH CHẤT CÓ LỢI CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN LACTIC  
PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ MẮM RUỐC HUẾ  
Đỗ Thị Bích Thủy*, Nguyễn Thị Diễm Hương, Đinh Thị Thu Thanh  
* Tác giả liên hệ:  
Đỗ Thị Bích Thủy  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm xác định khả năng chịu muối của mười chủng  
vi khuẩn lactic được ký hiệu lần lượt là (R1, R2, R5, R6, R8, R11,  
R12, R14, R15 và R18) thuộc loài Lactobacillus fermentum được  
phân lập từ mắm ruốc Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tất  
cả các chủng khảo sát đều có thể phát triển trong các nồng độ muối  
từ 5% đến 25% trong thời gian nuôi cấy là 48 giờ. Trong đó, chủng  
R5 có khả năng chịu muối cao nhất, OD600nm đo được sau khi nuôi  
cấy chủng R5 trong 48 giờ với nồng độ muối 25% là 0,1864. Vì  
vậy, chủng này được chọn đẻ xác định khả năng chịu axit, khả  
năng kết dính và khả năng kháng khuẩn. Số tế bào sống sót của  
chủng R5 sau ba giờ ủ ở pH 2 là 8,0043 logCFU/ml. Khả năng tự  
kết dính và đồng kết dính của chủng R5 lần lượt là 23,17% và  
24,85%. Khả năng kháng khuẩn của chủng vi khuẩn R5 với chỉ thị  
Salmonella và E. colitương đối cao vớiđường kính vòng kháng khuẩn  
dao động trong khoảng 11-12 mm. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến  
hành xác định hàm lượng nitơ formol và lượng NH3 trong nước mắm  
truyền thống khi bꢀ sung một lượng tế bào vi khuẩn lactic. Kết quả  
cho thấy sau một khoảng thời gian khảo sát nhất định, nước mắm  
đã được bꢀ sung một lượng tế bào vi khuẩn lactic Lactobacillus  
fermentum R5 có hàm lượng nitơ formol tăng lên và hàm lượng  
NH3 giảm xuống.  
Email:  
Trường Đại học Nông Lâm, Đại  
học Huế  
Nhận bài: 05/03/2019  
Chấp nhận bài: 02/05/2019  
Từ khóa: Lactobacillus  
fermentum, Khả năng chịu muối,  
Probiotic, Mắm ruốc Huế, Vi  
khuẩn lactic  
1. MỞ ĐẦU  
chịu 25% muối, Halobacillus thailandensis  
sp. nov., được phân lập từ sản phẩm nước  
mắm Thái Lan. Ngoài khả năng chịu nồng  
độ muối cao, chủng này còn có khả năng  
sinh tꢀng hợp 3 loại protease ngoại bào nên  
được kết luận là có thể sꢃ dụng để hoàn  
thiện sự lên men trong sản xuất nước mắm  
và mắm cá (Chaiyanani và cs., 1999).  
Tetragenococcus muriaticus được phân lập  
từ mắm cá (sau 6 tháng lên men) có khả  
năng chịu muối lên đến 30-32% (Kobayashi  
và cs., 2000). Các chủng vi khuẩn này có  
mꢂt trong nước mắm và các loại mắm có tác  
dụng tạo hương trong quá trꢅnh chuyển hóa  
lên men làm tăng chất lượng của sản phẩm.  
Các hợp chất mꢄi chính do chúng tạo thành là  
Vi khuẩn lactic là nhꢁng vi khuẩn Gram  
dương, catalase âm tính, sống trong điều kiện  
từ vi hiếu khí đến kị khí nghiêm ngꢂt, không có  
khả năng tạo bào tꢃ, tạo axit lactic là sản phẩm  
cuối cꢄng của quá trꢅnh lên men  
carbonhydrate. Vꢅ vậy, vi khuẩn lactic có vai  
trò quan trọng trong đời sống của chúng ta.  
Chúng là loại vi khuẩn có lợi, có khả năng  
bảo quản, chế biến và làm tăng giá trị dinh  
dưỡng cho một số thực phẩm. Nhiều nghiên  
cứu đã được thực hiện và công bố về nhiều  
công dụng khác của vi khuẩn lactic. Các  
chủng vi khuẩn lactic có khả năng chịu  
muối đã được công bố trong sản phẩm nước  
mắm, các loại mắm. Chủng vi khuẩn lactic  
1458  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 3(3) – 2019:1458-1467  
1-propanol,  
2-methylpropanal  
and  
lactic còn góp phần tạo hương vị đꢂc trưng  
của nước mắm nhờ quá trình lên men.  
benzaldehyde (Udomsil và cs., 2010). Bên  
cạnh khả năng chịu muối ở nồng độ cao, hệ  
vi khuẩn lactic còn có nhiều tính chất có lợi  
cho sức khỏe, chức năng probiotic. Chủng  
vi sinh vật có tính chất probiotic trước hết  
phải sống sót qua được điều kiện khắc nghiệt  
của dạ dày. pH của dạ dày người thường dao  
động trong khoảng 1 đến 4. Một số nghiên  
cứu khảo sát khả năng sống sót của chủng  
nghiên cứu ở các khoảng pH từ 1 đến 3 hoꢂc  
4 (Liong và Shah, 2005; Maragkoudakis và  
cs., 2006). Một số nghiên cứu khác chỉ khảo  
sát ở pH đại diện của dạ dày (pH = 2 - 2,5)  
(Maria, 2006; Sangtiago và cs., 2008). Hệ vi  
khuẩn lactic có thể cạnh tranh không gian  
với vi khuẩn gây bệnh bằng cách cản chúng  
bám dính vào thành ruột nên vi khuẩn lactic  
có thể làm giảm nguy cơ tiêu chảy (Kos và  
cs., 2003; Rahman và cs., 2008). Ba chỉ tiêu  
quan trọng trong việc đánh giá khả năng  
bám dính của vi khuẩn probiotic có liên  
quan đến tác động của chúng với vật chủ,  
đó là khả năng tự kết dính, đồng kết dính và  
bám dính với đường ruột của vật chủ. Đã có  
nhiều công bố có liên quan đến khả năng  
bám dính của LAB (Kos và cs., 2003;  
Greene và cs., 1994). Khả năng sinh tꢀng  
hợp bacteriocin của vi khuẩn lactic làm cho  
chúng ức chế các vi khuẩn gây bệnh đường  
ruột (Rhys và cs., 2008). Các nghiên cứu về  
probiotic trên vi khuẩn lactic ở Việt Nam  
tập trung khảo sát khả năng bám dính, khả  
năng sinh bacteriocin, khả năng chịu muối  
mật và axit (Nguyễn Thị Hoài Hà và cs.,  
2002; Nguyễn Vũ Tường Vy và cs., 2007).  
Với mục đích cung cấp một phần  
thông tin về sự đa dạng, tính chất của hệ vi  
khuẩn lactic có trong mắm ruốc Huế (sản  
phẩm được lên men từ các nguyên liệu thủy  
sản với nồng độ muối 10-12%); chúng tôi  
đã thực hiện đề tài "Khảo sát một số tính  
chất có lợi của các chủng vi khuẩn lactic  
phân lập từ mắm ruốc Huế”.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu  
Mười chủng vi khuẩn lactic được ký  
hiệu lần lượt là (R1, R2, R5, R6, R8, R11,  
R12, R14, R15 và R18) thuộc loài  
Lactobacillus fermentum phân lập từ mắm  
ruốc Huế đã được định danh bằng các  
phương pháp MALDI-TOF MS và giải  
trình tự gen PheS tại phòng thí nghiệm vi  
sinh, Đại học Ghent, Bỉ.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Khảo sát khả năng chịu muối  
Khả năng chịu mꢂn của các chủng vi  
khuẩn lactic được đánh giá qua giá trị  
OD600nm (mật độ quang – optical density)  
khi nuôi chúng trong môi trường MRS lỏng  
có chứa các nồng độ muối tương ứng là 0%,  
5%, 10%, 15%, 20% và 25% sau 24 giờ và  
48 giờ theo phương pháp của Kobayashi  
(2004). Phân tích kết quả dựa trên sự so  
sánh giá trị OD ở các nồng độ muối để đưa  
ra kết luận khả năng tồn tại và phát triển của  
các chủng ở các nồng độ muối khác nhau.  
2.2.2. Khảo sát khả năng chịu axit  
Mắm ruốc Huế là một loại nước  
chấm đꢂc trưng được chế biến từ con khuyết  
và muối với quy trꢅnh lên men phức tạp do  
tác dụng của hệ vi sinh vật trong nguyên  
liệu. Trong sản xuất nước mắm, vi khuẩn  
lactic đóng vai trò vô cꢄng quan trọng.  
Không chỉ tham gia vào quá trình thủy phân  
protein để tạo thành axit amin, vi khuẩn  
Khả năng chịu axit của chủng khảo  
sát được đánh giá qua lượng vi khuẩn sống  
sót sau khi ủ ở pH 2 trong 3 giờ. Số tế bào  
vi khuẩn sống sót được xác định theo  
phương pháp đếm khuẩn lạc trên đĩa thạch  
(Lee và cs., 2011)  
1459  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 3(3) – 2019:1458-1467  
2.2.3. Khảo sát khả năng bám dính  
cấy ở 37 °C trong 48 giờ. Sau thời gian nuôi  
cấy, ghi nhận sự tạo thành vòng vô khuẩn  
xuất hiện xung quanh giếng thạch.  
2.2.3.1. Khảo sát khả năng tự kết dính (Kos  
và cs., 2003)  
2.2.5. Định lượng nitơ formol bằng phương  
pháp Sorensen  
Sinh khối tế bào của vi khuẩn thu  
được sau khi nuôi cấy được rꢃa 2 lần bằng  
đệm PBS (8 g NaCl; 0,2 g KCl; 1,44 g  
Na2HPO4; 0,24 g KH2PO4; nước cất đủ 1  
lít); pH 7,2 vô trꢄng; sau đó được tái huyền  
phꢄ trong đệm PBS (OD600nm =1) (OD ban  
đầu). Để yên huyền phù này ở 37 °C trong  
5 giờ để tạo điều kiện cho các vi khuẩn  
lactic tự kết dính và lắng xuống và đo OD  
dịch trên bề mꢂt. Khả năng tự kết dính là  
phần trăm độ giảm OD600nm dịch bề mꢂt của  
mẫu đã để yên 5 giờ so với ban đầu.  
Định lượng nitơ formol có trong mẫu  
nước mắm sau khi đã pha loãng đến nồng  
độ thích hợp rồi xác định gián tiếp lượng  
amin (Hà Duyên Tư, 2009). Tiến hành nuôi  
cấy chủng vi khuẩn trong 24 giờ ở nhiệt độ  
phòng trong tủ ấm, sau đó ly tâm thu sinh  
khối ở 5000 vòng/phút trong 5 phút ở nhiệt  
độ 4oC, rꢃa sinh khối bằng đệm phosphate  
0,1M pH 7,2. Tái huyền phꢄ trong đệm PBS  
sao cho OD600nm ~ 1. Phân phối huyền phù  
vào nước mắm với mật độ là 108 CFU/ml  
nước mắm và bảo quản ở tủ ấm 37oC. Tiến  
hành phân tích hàm lượng nitơ formol theo  
các mốc thời gian là 3, 6 và 9 ngày. Kết quả  
được tính theo công thức:  
2.2.3.2. Khảo sát khả năng đồng kết dính  
với Escherichia coli (E. coli) (Vlková và cs.,  
2008)  
Sau khi rꢃa 2 lần bằng đệm PBS, sinh  
khối tế bào của chủng vi khuẩn lactic và E.  
coli được tái huyền phꢄ đến OD600nm = 1.  
Đồng thời trộn lẫn hai huyền phù này với  
nhau với thể tích bằng nhau. Tiến hành đo  
OD600nm dung dịch trên bề mꢂt sau khi để  
yên huyền phù của mỗi chủng và hỗn hợp  
huyền phù của hai chủng ở 37 °C trong 5  
giờ. Khả năng đồng kết dính được tính theo  
công thức:  
Số gram nitơ acid amin có trong 1 lít  
nước mắm:  
(
)
푎 − 푏 × 푇 × 0,0007 × 100 × 1000  
푥 =  
20 × 푉  
Trong đó:  
- x: lượng gram nitơ acid amin có  
trong 1 lít nước mắm  
- a: số ml dung dịch NaOH 0,05N  
dꢄng để chuẩn dung dịch thí nghiệm  
( )  
Tỷ lệ đồng kết dính %  
퐴
+퐴  
푋
푌
− 퐴  
(
)
푋+푌  
2
- b: số ml dung dịch NaOH 0,05N  
dꢄng để chuẩn dung dịch kiểm chứng  
=
× 100  
퐴
+퐴  
푋
푌
2
trong đó AX là OD600nm sau 5 giờ của vi  
khuẩn lactic; AY là OD600nm sau 5 giờ của E.  
coli; và AX+Y là OD600nm sau 5 giờ của vi  
khuẩn lactic và E.coli.  
- T: hệ số hiệu chỉnh nồng độ của  
dung dịch NaOH đem dꢄng so với nồng độ  
chuẩn.  
- V: số ml nước mắm cho vào bình  
định mức  
2.2.4. Khảo sát khả năng kháng khuẩn  
Sꢃ dụng phương pháp khuếch tán  
giếng thạch để khảo sát khả năng kháng  
khuẩn của vi khuẩn lactic theo mô tả của  
Mishra và Prasad (2005). Theo đó, dịch nꢀi  
thu được bằng cách ly tâm (14.000  
vòng/phút, 10 phút ở 4 °C) canh trường đã  
nuôi cấy ở 37 °C trong 24 giờ, được cho vào  
các giếng thạch đã tạo trên môi trường MRS  
agar chứa chủng kiểm định (E. coli,  
Salmonella). Đĩa thạch sau đó được nuôi  
- 0,0007: số gram nitơ với 1ml  
NaOH 0,05N  
2.2.6. Xác định hàm lượng NH3 trong nước  
mắm bằng phương pháp Kjeldahl  
Phân tích hàm lượng NH3 trong nước  
mắm đối chứng và nước mắm có bꢀ sung  
chủng vi khuẩn lactic bằng hệ thống chưng  
cất đạm (Hà Duyên Tư, 2009). Chủng được  
nuôi cấy trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng  
trong tủ ấm, sau đó ly tâm thu sinh khối ở  
1460  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 3(3) – 2019:1458-1467  
5000 vòng/phút trong 5 phút ở nhiệt độ 4oC,  
rꢃa sinh khối bằng đệm phosphate 0,1M pH  
7,2. Tái huyền phꢄ trong đệm PBS sao cho  
OD600nm~ 1. Phân phối huyền phꢄ vao nước  
mắm với mật độ là 108 CFU/ml nước mắm  
và bảo quản ở tủ ấm 37oC. Tiến hành phân  
tích hàm lượng NH3 theo các mốc thời gian  
là 3 ngày, 6 ngày, 9 ngày. Kết quả được tính  
theo công thức sau:  
2.2.7. Phương pháp toán học xử lý số liệu  
Số liệu được tꢀng hợp và xꢃ lý bằng  
chương trꢅnh Microsoft Excel 2010. Kết quả  
thí nghiệm được phân tích bằng chương  
trình One Way ANOVA và kiểm định  
Tukey trên phần mềm SPSS 18.0 để so sánh  
các giá trị trung bình có sự sai khác có ý  
nghĩa về mꢂt thống kê.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
V 1,42  
3.1. Khả năng chịu muối của hệ vi khuẩn  
lactic phân lập từ mắm ruốc Huế  
Hàm lượng NH3 (mg/ml) =  
p
Khả năng chịu mꢂn của các chủng vi  
khuẩn lactic phân lập từ mắm ruốc Huế  
được đánh giá qua giá trị OD600nm sau khi  
nuôi cấy chúng trong môi trường MRS lỏng  
có chứa các nồng độ muối tương ứng là 0%,  
5%, 10%, 15%, 20% và 25% sau 48 giờ. Kết  
quả thu được trình bày ở Bảng 1.  
Trong đó:  
V: số ml H2SO4 0,1N chuẩn độ  
1,42: số mg N ứng với 1ml H2SO4 0,1N  
p: lượng mẫu phân tích tính bằng ml  
Bảng 1. Khả năng chịu muối của hệ vi khuẩn lactic phân lập từ mắm ruốc Huế sau 48 giờ nuôi cấy  
Tên chủng  
R1  
0%  
5%  
10%  
15%  
20%  
25%  
0,3376b  
0,3582b  
0,2565c  
0,1978c  
0,2499b  
0,2943b  
0,3173b  
0,3157d  
0,2477b  
0,3012b  
0,7636a  
0,8484a  
0,8632a  
0,8280a  
0,8060a  
0,8012a  
0,6867a  
0,8334a  
0,8008a  
0,8216a  
0,1162d  
0,2322c  
0,4125b  
0,3100b  
0,1665c  
0,0833e  
0,1492c  
0,4390b  
0,1919d  
0,1625c  
0,1111e  
0,1662d  
0,2196d  
0,1583d  
0,1022e  
0,0943d  
0,1272e  
0,3521c  
0,2292c  
0,1389e  
0,1252c  
0,1347f  
0,1179f  
0,1492e  
0,1101d  
0,1135c  
0,1335d  
0,1594e  
0,1534e  
0,1470d  
0,0822f  
0,1462e  
0,1821e  
0,1233f  
0,0638f  
0,0604f  
0,0751f  
0,1474f  
0,1413f  
0,0679f  
R2  
R5  
R6  
R8  
R11  
R12  
R14  
R15  
R18  
Số liệu xử lý Ducan’s theo dòng (chữ cái in thường) thể hiện sự sai khác theo nồng độ muối của từng  
chủng. Các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác về ý nghĩa thống kê (P< 0,05).  
Qua Bảng 1, chúng tôi nhận thấy tất  
cả các chủng vi khuẩn lactic phân lập được  
từ mắm ruốc Huế đều có khả năng thích  
nghi và phát triển ở tất cả các nồng độ muối  
từ 5% - 25%. Giá trị OD600nm của các chủng  
vi khuẩn lactic biến thiên qua các nồng độ  
muối là khác nhau. Trong đó, các chủng vi  
khuẩn lactic có khả năng thích nghi và phát  
triển mạnh nhất tại nồng độ muối 5% với giá  
trị OD của chủng R5 đạt 0,8632 là cao nhất  
và chủng R12 đạt 0,6867 là thấp nhất sau ở  
48 giờ nuôi cấy. Khả năng phát triển của các  
chủng vi khuẩn lactic tại nồng độ muối 15%  
giảm so với nồng độ 10%. Ở nồng độ muối  
20% và 25% vẫn có khả năng sống sót tuy  
nhiên sự thích nghi và phát triển của các  
chủng vi khuẩn lactic có xu hướng giảm so  
với các nồng độ khảo sát ở trên. Đꢂc biệt  
chủng lactic R5 khả năng sống sót vẫn còn  
cao ở nồng độ 20% và 25% với giá trị OD  
lần lượt là 0,1179 và 0,1821.  
Tất cả các chủng vi khuẩn lactic phân  
lập từ mắm ruốc Huế có khả năng thích nghi  
và phát triển ở các nồng độ muối 5-25%,  
đều này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu  
của Udomsil và cs. (2010) đối với loài  
Tetragenococcus halophilus. Các tác giả đã  
tiến hành khảo sát khả năng chịu muối của T.  
halophilus tại nồng độ 25% trong các mẫu  
nước mắm và cho thấy, chúng vẫn sống sót  
sau bảy tháng trong nước mắm. Juste và cs.  
(2008) đã công bố rằng T. halophilus có khả  
năng phát triển tại nồng độ muối là 25% và  
28,5% ở pH7.  
1461  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 3(3) – 2019:1458-1467  
Điều này đã chứng tỏ rằng, khả năng  
chịu muối của các chủng vi khuẩn lactic được  
phân lập từ mắm ruốc Huế là cao, trong đó  
chủng R5 có khả năng thích nghi và phát  
triển tốt nhất. Chính vì vậy, chủng vi khuẩn  
lactic R5 phân lập từ mắm ruốc Huế có tiềm  
năng ứng dụng lớn trong việc sản xuất các sản  
phẩm lên men chứa nồng độ muối cao như  
nước mắm, các sản phẩm mắm cá.  
3.2. Khả năng chịu axit của Lactobacillus  
fermentum R5 phân lập từ mắm ruốc  
Huế  
Khả năng chịu axit của chủng  
Lactobacillus fermentum R5 được khảo sát  
bằng cách xác định số tế bào sống qua các  
mốc thời gian liên tục từ 0 đến 3 giờ trong  
môi trường pH 2 (Bảng 2).  
Bảng 2. Khả năng sống sót của các chủng Lactobacillus fermentum R5 trong điều kiện pH 2  
Số tế bào sống còn lại theo thời gian (log CFU/ml)  
0 giờ  
1 giờ  
2 giờ  
3 giờ  
9,779  
9,685  
8,066  
7,960  
Kết quả trên cho thấy khả năng chịu  
axit của chủng Lactobacillus fermentum  
R5 là cao. Số tế bào sống sót ở 0 giờ là  
9,779 logCFU/ml, nhưng sau 3 giờ thꢅ khả  
năng sống sót của chủng vi khuẩn  
Lactobacillus fermentum R5 có xu hướng  
giảm so với lúc ban đầu (đạt 7,96  
logCFU/ml). Kết quả nghiên cứu về khả  
năng chịu axit phù hợp với nghiên cứu của  
Maragkoudakis và cs. (2006) khi khảo sát  
khả năng chịu axit của một số chủng  
Lactobacillus cho thấy các chủng có khả  
năng chịu axit mạnh nhất là Lb. paracasei  
subsp. paracasei ACA-DC 130, Lb.  
plantarum ACA-DC 146, Lb. rhamnosus  
ACA-DC 112, với mức giảm log CFU/mL  
từ 8,6 xuống còn lần lượt là 6,8; 5,7 và 7,1  
sau 3 giờ ủ ở pH 2.  
Chủng Lactobacillus fermentum R5 phân  
lập từ mắm ruốc Huế có khả năng chịu axit  
tốt đáp ứng được tiêu chí chịu axit của các  
chủng probiotic.  
3.3. Khả năng kết dính của Lactobacillus  
fermentum R5 phân lâp từ mắm ruốc  
Huế  
Khảo sát khả năng kết dính của vi  
khuẩn lactic là nghiên cứu có ý nghĩa thực  
tiễn. Đây là đꢂc tính mang lại nhiều lợi ích  
cho vi khuẩn lactic trong quá trình sinh  
trưởng và phát triển. Chính vì vậy, chúng  
tôi đã tiến hành khảo sát khả năng tự kết  
dính và đồng kết dính với E. coli của chủng  
nghiên cứu Lactobacillus fermentum R5.  
Kết quả được thể hiện ở Hình 1.  
%
24,852  
25.0  
24.5  
24.0  
23.5  
23.0  
22.5  
22.0  
23,172  
Tự kết dính Đồng kết dính  
Hình 1. Khả năng tự kết dính và đồng kết dính của chủng Lactobacillus fermentum R5  
1462  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 3(3) – 2019:1458-1467  
Kết quả ở hình 1 cho thấy khả năng  
bám dính của chủng Lactobacillus  
fermentum R5 ở các điều kiện khác nhau là  
hoàn toàn khác nhau. Trong đó, khả năng tự  
kết dính của chủng Lactobacillus  
fermentum R5 với tỷ lệ phần trăm kết dính  
đạt 23,172%. Chủng này cũng thể hiện khả  
năng đồng kết dính với E.coli nhưng có tỷ  
lệ cao hơn với giá trị đạt được là 24,852%.  
chủng Lactobacillus fermentum R5 phân  
lập từ mắm ruốc Huế phù hợp với kết quả  
công bố của các nhà khoa học trên.  
Khả năng đồng kết dính của vi khuẩn  
lactic với vi sinh vật gây bệnh làm tăng khả  
năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây  
bệnh, góp phần cân bằng hệ vi sinh đường  
ruột. Collado và cs. (2007) đã khảo sát khả  
năng đồng kết dính của các chủng vi khuẩn  
lactic và cho thấy sau 4 giờ, tỷ lệ đồng kết  
dính trong khoảng 6% đến 27%. Kos và cs.  
(2003) đã nghiên cứu khả năng đồng kết  
dính của Lb. acidophilus M92 (chủng này  
đang được sꢃ dụng sản xuất chế phẩm  
probiotic) với Enterococcus faecium L3,  
Escherichia coli 3014, Salmonella công bố  
kết quả từ 15,11% đến 19,46%. Các kết quả  
này cho thấy rằng khả năng đồng kết dính  
với vi khuẩn gây bệnh của chủng  
Lactobacillus fermentum R5 (24,852%) khá  
cao nên có thể làm điều kiện sꢃ dụng trong  
probiotic.  
Nhờ có khả năng tự kết dính mà các  
vi khuẩn lactic cùng một dòng liên kết được  
với nhau tạo thành các “tꢀ”, vꢅ thế chúng  
giúp tăng cường được sức sống và sự phát  
triển của chủng theo kiểu mối quan hệ hỗ  
trợ cùng loài. Khả năng tự kết dính còn có  
sự liên quan đến khả năng bám dính đường  
ruột và còn làm tăng khả năng lưu lại trong  
đường tiêu hóa của chủng vi sinh vật. Maria  
(2006) khi nghiên cứu về đꢂc điểm sinh lý  
của một số chủng Lactobacillus để tuyển  
chọn dòng làm probiotic đã đưa ra kết quả  
về tự kết dính của 11 chủng Lactobacillus  
gồm các loài Lb. casei; Lb. johnsonii; Lb.  
paracasei; Lb. rhamnosus và Lb.  
plantanum với kết quả chủ yếu nằm trong  
khoảng từ 20% đến 40%. Một kết quả  
nghiên cứu khác của chúng tôi đã đưa ra tỷ  
lệ kết dính của chủng Lactobacillus  
fermentum DC1 sau 5 giờ là 24,49% (Đỗ  
Thị Bích Thủy và cộng sự; 2012). Qua đó  
có thể nhận thấy khả năng tự kết dính của  
3.4. Kết quả khả năng kháng khuẩn của  
Lactobacillus fermentum R5 phân lập từ  
mắm ruốc Huế  
Kết quả kiểm tra tính kháng khuẩn  
của chủng Lactobacillus fermentum R5 thể  
hiện hoạt tính bằng phương pháp khuếch tán  
đĩa thạch cho thấy xuất hiện các vòng sáng  
vô khuẩn với đường kính khác nhau (Bảng  
3 và Hình 2).  
Bảng 3. Khả năng kháng E. coli và Salmonella của chủng Lactobacillus fermentum R5  
Chủng chỉ thị  
E. coli  
Salmonella  
Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)  
12 ± 0,05  
11 ± 0,03  
Qua Bảng 3 có thể thấy chủng  
Lactobacillus fermentum R5 có khả năng  
kháng khuẩn với hai chủng chỉ thị là E. coli  
và Salmonella. Trong đó đường kính vòng  
kháng với E. coli là 12 ± 0,05 mm, đối với  
Salmonella có vòng kháng 11 ± 0,03 mm  
.
1463  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 3(3) – 2019:1458-1467  
E. coli  
Salmonella  
Hình 2. Vòng kháng E. coli và Salmonella của Lactobacillus fermentum R5  
Kết quả nghiên cứu về khả năng  
kháng khuẩn phù hợp với nghiên cứu của  
nhiều tác giả. Wakil và cs. (2012) đã khảo  
sát khả năng kháng E. coli và Salmonella  
của các chủng thuộc Lactobacillus và cho  
thấy L. brevis kháng E. coli với đường kính  
vòng kháng khuẩn là 10 ± 0,1 mm, kháng  
Salmonella spp. là 5 ± 0,1 mm, L.  
plantarum kháng Salmonella với kích thước  
vòng kháng khuẩn là 10 ± 0,1 mm. Nwafor  
(2014) đã khảo sát khả năng kháng E. coli  
và Salmonella typhi của các loài vi khuẩn  
lactic L. acidophilus, L. lactic, L. bugaricus,  
L. casei, Leuconotoc sp, S. thermophiles, S.  
cremoris, S. pyogenes. Đường kính vòng  
kháng khuẩn kháng E. coli dao động từ 3 ±  
0,05 mm đến 6 ± 0,25 mm, đường kính vòng  
kháng khuẩn kháng Salmonella typhi dao  
động từ 4 ± 0,2 mm đến 10 ± 0,02 mm. Qua  
kết quả nghiên cứu có thể thấy chủng  
Lactobacillus fermentum R5 có khả năng  
kháng khuẩn tốt với hai chủng E. coli và  
Salmonella.  
3.5. Xác định hàm lượng nitơ formol và  
NH3 cꢀ trong nưꢁc mắm  
3.5.1. Xác định hàm lượng nitơ formol có  
trong nước mắm  
Kết quả xác định hàm lượng nitơ  
formol trong nước mắm khi ta bꢀ sung chủng  
Lactobacillus fermentum R5 vào trong nước  
mắm truyền thống được thể hiện ở Hꢅnh 3.  
g/l  
10  
8,63  
8,05  
8
6
4
2
0
6,18  
6,65  
7,82  
7,35  
ĐC  
R5  
3 ngày  
6 ngày  
9 ngày  
Hꢀnh 3. Sự biến đꢀi của hàm lượng nitơ formol trong nước mắm khi bꢀ sung chủng Lactobacillus  
fermentum R5 theo thời gian  
Qua Hình 3 ta nhận thấy theo thời  
gian hàm lượng nitơ formol của mẫu nước  
mắm có bꢀ sung chủng Lactobacillus  
fermentum R5 cao hơn so với mẫu nước  
mắm đối chứng. Qua các mốc thời gian 3  
ngày, 6 ngày, 9 ngày thꢅ hàm lượng nitơ  
1464  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 3(3) – 2019:1458-1467  
formol có xu hướng tăng lên, cụ thể ở sau  
3 ngày hàm lượng nitơ formol trong mẫu  
nước mắm có bꢀ sung chủng Lactobacillus  
fermentum R5 là 6,65 g/l và sau 9 ngày thꢅ  
hàm lượng nitơ formol là 8,63 g/l.  
3.5.2. Xác định hàm lượng NH3 có trong  
nước mắm  
Kết quả xác định hàm lượng NH3 có  
trong nước mắm khi ta bꢀ sung chủng  
Lactobacillus fermentum R5 vào trong  
nước mắm truyền thống được thể hiện ở  
Hꢅnh 4.  
mg/ml  
1
0,77  
0.8  
0,64  
0,55  
0.6  
0.4  
0.2  
0
0,68  
ĐC  
0,59  
0,50  
R5  
3 ngày  
6 ngày  
9 ngày  
Hꢀnh 4. Sự biến đꢀi của hàm lượng NH3 trong nước mắm khi bꢀ sung chủng  
Lactobacillus fermentum R5 theo thời gian  
muối NaCl ở các nồng độ 5% đến 25%.  
Từ kết quả trên Hình 3 ta nhận thấy  
theo thời gian hàm lượng NH3 của mẫu nước  
mắm có bꢀ sung chủng Lactobacillus  
fermentum R5 thấp hơn so với mẫu nước  
mắm đối chứng. Qua các mốc thời gian 3  
ngày, 6 ngày, 9 ngày thꢅ hàm lượng NH3 có  
xu hướng giảm xuống, cụ thể ở 3 ngày hàm  
lượng NH3 cuả chủng Lactobacillus  
fermentum R5 là 0,68 mg/ml và sau 9 ngày  
thꢅ hàm lượng nitơ formol là 0,5 mg/ml.  
Trong đó, chủng được ký hiệu R5 là chủng  
có khả năng phát triển tốt nhất ở các nồng  
độ muối. Vì vậy, chủng này đã được chọn  
để tiến hành khảo sát các chỉ tiêu tiếp theo.  
- Một số đꢂc điểm của Lactobacillus  
fermentum R5 như sau: Số tế bào sống sót  
của chủng R5 sau ba giờ ủ ở pH 2 là 7,960  
log CFU/ml. Khả năng tự kết dính và đồng  
kết dính với E.coli của chủng R5 với tỷ lệ  
phần trăm kết dính lần lượt đạt 23,172% và  
24,852%. Chủng R5 có khả năng kháng  
khuẩn với hai chủng chỉ thị là E. coli và  
Salmonella với đường kính vòng kháng lần  
lượt là 12 ± 0,05 mm và 11 ± 0,03 mm.  
Từ kết quả thể hiện trên Hình 3 và 4,  
chúng tôi tạm thời nhận định rằng khi bꢀ  
sung vào nước mắm một lượng tế bào vi  
khuẩn lactic Lactobacillus fermentum R5  
thꢅ qua một khoảng thời gian nhất định hàm  
lượng nitơ formol sꢆ tăng lên và hàm lượng  
NH3 sꢆ giảm xuống. Vì vậy, bꢀ sung chủng  
Lactobacillus fermentum R5 giúp cải thiện  
được chất lượng của nước mắm truyền  
thống, tăng hàm lượng các chất có lợi và  
giảm hàm lượng các chất không tốt ở trong  
nước mắm.  
- Bꢀ sung vào nước mắm một lượng  
tế bào vi khuẩn lactic Lactobacillus  
fermentum R5 với mật độ là 108 CFU/ml  
nước mắm thꢅ qua một khoảng thời gian  
nhất định hàm lượng nitơ formol sꢆ tăng lên  
và hàm lượng NH3 sꢆ giảm xuống.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tài liệu tiếng Việt  
4. KẾT LUẬN  
- Tất cả các chủng vi khuẩn lactic  
thuộc loài Lactobacillus fermentum phân  
lập từ mắm ruốc Huế đều có khả năng chịu  
Nguyễn Thị Hoài Hà, Phạm Văn Ty và Nguyễn  
Thị Kim Quy. (2002). Nghiên cứu khả năng  
sinh tꢀng hợp bacterioxin của loài  
1465  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 3(3) – 2019:1458-1467  
Lactobacillus plantarum L24. Tạp chí Di  
truyền học và ứng dụng, Chuyên san Công  
nghệ sinh học, 47–52.  
Lactobacillus acidophilus M92. Journal of  
Applied Microbiology, 94, 981–987.  
Lee, J., Yun, H. S., Cho, K. W., Oh, S., Kim, S.  
H., Chun, T., Kim, B., & Whang, K.Y.  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương.  
(2012). Xác định và khảo sát một số tính chất  
(2011).  
characteristic  
Evaluation  
so  
of  
fnewly  
probiotic  
isolated  
có  
lợi  
của  
chủng Lactobacillus  
fermentum DC1 phân lập từ sản phẩm dưa  
cải Huế. Tạp chí Khoa học, Đại học Huế ,  
71(2), 175 –185.  
Lactobacillus spp,:Immunemodulation and  
longevity. International Journal of Food  
Microbiology, 148, 80–86.  
Hà Duyên Tư. (2009). Phân tích hóa học thực  
phẩm. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ  
Thuật.  
Liong, M. T., & Shah, N. P. (2005). Acid and  
bile tolerance and cholesterol removal  
ability of Lactobacilli strains. Journal of  
Dairy Science, 88, 55 – 66.  
Nguyễn Vũ Tường Vy, Nguyễn Văn Thanh và  
Trần Thu Hoa. (2007). Khảo sát khả năng  
chịu đựng acid, muối mật và kháng sinh của  
một số vi sinh vật là nguyên liệu sản xuất  
probiotic dꢄng đường uống. Tạp chí Dược  
học, 378, 255–263.  
Maragkoudakis, P. A., Zoumpopouloua, G.,  
Miarisa, C., Kalantzopoulosa, G., Potb, B.,  
& Tsakalidou, E. (2006). Probiotic potential  
of Lactobacillus strains isolated from dairy  
products. International Dairy Journal, 16,  
189–199.  
2. Tài liệu tiếng nưꢁc ngoài  
Mishra, V., & Prasad, D. N. (2005). Application  
of in vitro methods for selection of  
Lactobacillus casei strains as potential  
probiotics. International Journal Food  
Microbiol, 103, 109-115.  
Chaiyanani, S., Maugel T., Huq, A., Robbi, F.  
T., & Colwell, R. R. (1999). Polyphasic  
Taxonomy of  
a
Novel Halobacillus,  
Halobacillus thailandensis sp. nov. isolated  
from Fish Sauce. Systematic and Applied  
Microbiology, 22, 360–365.  
Nwafor, O. E. (2014). Isolation and  
identification of lactic acid bacterial (LAB)  
from yoghurt and antibacterial activity  
against some clinical isolates. International  
Journal of Food Nutrition and Safety, 5(1),  
31–38.  
Collado, M. C., Meriluoto, J., Salminen, S.  
(2007). Development of new probiotics by  
strain combinations: Is it possible to improve  
the adhesion to Intestinal Mucus?. Journal of  
Dairy Science, 90, 2710–2716.  
Rahman, M., Kim, W. S., Kumura, H., &  
Shimazaki, K. (2008). Autoaggregation and  
surface hydrophobicity of Bifidobacteria.  
Greene, J. D., & Kalenhammer, T. R. (1994).  
Fctore invilved in adhenrence of Lactobacilli  
to human Caco-2 cells. Applied Envirnoment  
Microbiology, 60, 4487 – 4494.  
World  
Journal  
of  
Microbiology  
Biotechnology, 24, 1593–1598.  
Juste, A., Lievens, B., Frans, I., Marsh, T. L.,  
Klinge berg, M., Michiels, C. W., &  
Willems, K. A. (2008). Geretic and  
physiological diversity of Tetragnococcus  
halophilus strains isolated from sugar anh  
salt rich environment. Microbilogy, 154,  
2600–2610.  
Rhys, J. J., Hassan, M. H., Monique, Z., Gale,  
B., & John, R. T. (2008). Isolation of lactic  
axit bacteria with inhibitory activity against  
pathogens  
and  
spoilage  
organisms  
associated with fresh meat. Food  
Microbiology, 25, 228–234.  
Sangtiago, R. M., Alberto, M., Marias, J. B.,  
Frangcisco, P. N., & Maria, G. C. (2008).  
Screening of lactic acid bacteria and  
Bifidobacteria for potential probiotic use in  
Inberian dry fermented sausages. Meat  
Science, 80(3), 715 – 721.  
N., Imada, C., & Watanabe, E. (2004).  
Effect of culture conditions on lactic acid  
production of Tetragenococcus species.  
Journal Appl Microbiol, 96(6), 1215–21.  
Kos, B., Suskovic, M. J., Vukovic, S., Simpraga,  
M., & Frece1, J. (2003). Adhesion and  
Udomsil, N., Rodtong, S., Tanasupawat, S., &  
Yongsawatdigul, J. (2010). Proteinase  
aggregation  
ability of probiotic strain  
1466  
Đỗ Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Diễm Hương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 3(3) – 2019:1458-1467  
producing halophilic lactic acid bacteria  
isolated from fish sauce fermentation and  
their ability to produce volatile compounds.  
clostridia. Folia Microbiol (Praha), 53(3),  
263–269.  
Wakil, S. M., & Osamwonyi, U. O. (2012).  
Isolation and screening of antimicro-bial  
producing lactic acid bacteria from  
fermenting millet gruel. International  
Research Journal of Microbiology, 3(2),  
072 –079.  
International  
Journal  
of  
Food  
Microbiology, 141, 186–194.  
J. (2008). Auto-aggregation and co-  
aggregation ability in bifidobacteria and  
DETERMINATION OF SOME BENEFICIAL PROPERTIES OF LACTIC ACID  
BACTERIAL STRAINS ISOLATED FROM MAM RUOC HUE  
Do Thi Bich Thuy*, Nguyen Thị Diem Huong, Dinh Thi Thu Thanh  
*Corresponding Author:  
Do Thi Bich Thuy  
Email:  
ABSTRACT  
The study aims to determine the salt tolerance of ten lactic acid  
strains, denoted as (R1, R2, R5, R6, R8, R11, R12, R14, R15  
and R18) of Lactobacillus fermentum isolated from mam ruoc  
Hue. The results of the study showed that all of the strains were  
able to grow the concentration of NaCl from 5% to 25% during  
48 hours of incubation. The R5 strain had the highest salt  
intolerance. OD600nm measured after incubating the R5 strain  
for 48 hours containing 25% NaCl was 0.1864. Hence, this  
strain was selected to study on some properties of probiotic  
potential, acid intolerance, auto-aggregation and inhibition of  
bacterial growth. The number of viable cells of the R5 strain  
after three hours of incubation at pH 2 was 8,0043 logCFU/ml.  
The ability of autoaggregation was 23,17%, and the  
coaggregation with E. coli was 24,85%. The clear zone with a  
diameter of 10–12 mm appeared in the inhibition test against  
Escherichia coli and Salmonella. In addtion, we preliminarily  
determined of formol nitrogen contents and NH3 contents in  
the traditional fish sauce that was added with the number of  
lactic bacterial cells. The results showed that after a certain  
period of survey, formol nitrogen contents increased and NH3  
contents reduced in fish sauce.  
University of Agriculture and  
Forestry, Hue University  
Received: March 5th, 2019  
Accepted: May 2nd, 2019  
Keywords: Lactobacillus fermentum,  
Lactic acid bacteria, Mam ruoc Hue,  
Probiotic, Salt intolerance  
1467  
pdf 10 trang yennguyen 19260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định một số tính chất có lợi của các chủng vi khuẩn Lactic phân lập được từ mắm ruốc Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_mot_so_tinh_chat_co_loi_cua_cac_chung_vi_khuan_lact.pdf