Tình hình vấy nhiễm vi sinh vật ở thịt heo tại một số chợ ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

66  
Journal of Science – Phu Yen University, No.26 (2021), 66-73  
TÌNH HÌNH VẤY NHIỄM VI SINH VẬT Ở THỊT HEO  
TẠI MỘT SỐ CHỢ Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN  
Nguyễn Thị Hồng Sen*  
Trường Đại học Phú Yên  
Ngày nhận bài: 24/7/2020; Ngày nhận đăng: 08/01/2021  
Tóm tắt  
Các chợ tại thành phố Tuy Hòa Phú Yên là nơi cung cấp chính thịt heo cho nhu cầu tiêu  
dùng tại thành phố với 119 quầy. Có 71,67% số mẫu thịt heo khảo sát đạt chất lượng về tổng số  
vi khuẩn hiếu khí; 80,83 % đạt về tiêu chuẩn số lượng E. coli và 88,33% đạt về tiêu chuẩn  
Salmonella (theo TCVN 7046:2002). So sánh giữa các chợ thì tại chợ phường 7, các chỉ tiêu vi  
sinh vật trên thịt đạt cao nhất; thấp nhất là tại chợ trung tâm thành phố Tuy Hòa.  
Từ khóa: chợ, thịt heo, vi sinh vật, thành phố Tuy Hòa.  
trưởng (Clenbuterol và Salbutamol), các  
hoá chất khác như Auramine O... trong  
thức ăn chăn nuôi gây ảnh hưởng nghiêm  
trọng đến sức khoẻ và tính mạng con  
người.  
1. Đặt vấn đề  
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát  
triển, nhu cầu đời sống không ngừng được  
nâng cao, lượng thực phẩm tiêu thụ hàng  
ngày tăng lên đáng kể, trong đó chất lượng  
vệ sinh an toàn thực phẩm được xem là vấn  
đề quan trọng. Trong những năm qua, tổng  
lượng thịt tiêu thụ ngày một tăng nhất là  
thịt heo. Để có được thịt đạt tiêu chuẩn vệ  
sinh an toàn thực phẩm phải đảm bảo đồng  
thời các khâu của quá trình từ chăn nuôi,  
giết mổ đưa đến tay người tiêu dùng. Ngoài  
qui trình nuôi dưỡng chăm sóc tốt, cũng  
phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn vệ  
sinh thú y.  
Vệ sinh an toàn thực phẩm nhất là trên  
sản phẩm động vật đã và đang trở thành  
vấn đề bức xúc của xã hội. Những chất độc  
hại gây ô nhiễm đối với thực phẩm có  
nguồn gốc động vật bao gồm các nhóm vi  
sinh vật gây ô nhiễm như Bacillus cereus,  
Clostridium botulium, Clostridium perfringen,  
E.coli, Salmonella, Staphylococcus aureus,...  
Ngoài ra, việc ô nhiễm tồn dư như hoá chất  
bảo vệ thực vật, kim loại nặng, thuốc kháng  
sinh, hay việc sử dụng các hormon sinh  
_______________________________  
Hiện nay, việc giết mổ và kinh doanh  
thịt heo ở nước ta nói chung, tỉnh Phú Yên  
nói riêng vẫn còn nhiều bất cập về vệ sinh  
an toàn thực phẩm, đặc biệt là sự vấy  
nhiễm vi khuẩn trên thân thịt, là nguyên  
nhân làm cho các vụ ngộ độc thực phẩm  
ngày càng gia tăng. Kết quả của nghiên cứu  
nhằm đánh giá tình hình vấy nhiễm vi  
khuẩn trong thịt heo tại một số chợ trên địa  
bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Từ  
đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn để  
khuyến cáo các cơ quan quản lý và người  
buôn bán thịt cần có những biện pháp nhằm  
hạn chế sự vấy nhiễm của vi khuẩn gây  
bệnh, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng.  
2. Địa điểm, nội dung và phương pháp  
nghiên cứu  
2.1. Địa điểm nghiên cứu  
Thực hiện lấy mẫu tại các chợ: chợ  
trung tâm thành phố Tuy Hòa, chợ phường  
7 và chợ Tân Hiệp.  
Phân lập vi khuẩn tại Bộ môn Cơ sở thú  
y – Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 26 (2021), 66-73  
67  
Tây Nguyên và Trung tâm kiểm tra vệ sinh  
Thú y Trung Ương 1.  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
2.2.1. Tỷ lệ mẫu thịt có vấy nhiễm vi khuẩn  
tại các chợ  
2.2.2. Đánh giá tỉ lệ nhiễm vi sinh vật trên thịt  
heo tại các chợ theo thời điểm trong năm.  
2.2.3. Đánh giá tỉ lệ nhiễm vi sinh vật trên thịt  
heo tại các chợ theo đặc điểm của sạp bán.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện nghiên cứu này chúng tôi đã  
áp dụng các QCVN 01-04/2009, QCVN 01-  
05/2009 việc thực hiện lấy mẫu và chuẩn bị  
mẫu thực hiện theo TCVN 4833-93.  
Xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí theo  
TCVN 4833.  
Xác định vi khuẩn E.coli theo phương  
pháp MPN.  
Xác định vi khuẩn Salmonella spp. theo  
ISO.6579.  
Bảng 1. Số lượng mẫu tại các chợ ở các thời điểm  
TT  
1
2
Chợ  
Số mẫu thịt /thời điểm  
Tổng 4 thời điểm  
Tuy Hòa  
Phường 7  
Tân Hiệp  
Tổng  
5
5
5
20  
20  
20  
3
15  
60  
Mẫu được thu thập vào 4 thời điểm:  
5 giờ, 7 giờ, 9 giờ và 11 giờ.  
Chia thành 2 đợt lấy mẫu:  
Bước 6: Lặp lại bước 4 và 5 trên các  
mảnh thịt khác. Một mẫu lấy từ 5 mảnh thịt  
khác nhau.  
Đợt 1: tháng 4/ 2019: 60 mẫu  
Đợt 2: tháng 10/ 2019: 60 mẫu  
Tổng cộng: 120 mẫu  
-Bảo quản và vận chuyển mẫu :  
Ngay sau khi lấy mẫu, mẫu phải được để  
vào thùng lạnh có đá và giữ nhiệt độ ở mức  
Phương pháp thu thập mẫu  
o
3-8 C từ lúc lấy mẫu đến khi phân tích.  
- Mẫu thịt heo được lấy chủ yếu thịt nạc.  
Mỗi sạp lấy 1 mẫu ở mỗi thời điểm, mỗi  
mẫu được lấy ở 5 điểm trên sạp (như hình  
1), mỗi điểm lấy khoảng 20g sau đó gộp  
các miếng vừa cắt thành một mẫu cho vào  
túi đựng mẫu vô trùng.  
Đối với phân tích vi sinh vật, thời gian lưu  
mẫu tối đa từ lúc lấy mẫu tới khi phân tích  
là 24 giờ. Không được để mẫu đông lại  
trước khi phân tích vi sinh.  
- Qui trình lấy mẫu:  
Bước 1: Chuẩn bị đầy đủ vật liệu và  
dụng cụ trước khi thực hiện lấy mẫu  
Bước 2: Dán tem ký hiệu mẫu  
Bước 3: Lựa chọn xác định các súc thịt  
lấy mẫu (như hình 1)  
Bước 4: Yêu cầu người bán hàng cắt  
100 – 200g thịt từ các súc thịt đã được lựa  
chọn  
Bước 5: Cho miếng mô vừa cắt vào túi  
vô trùng bằng chất dẻo, đóng miệng túi.  
Cho mẫu vào trong thùng bảo quản.  
Hình 1. Vị trí lấy mẫu trong 1 sạp  
- Mẫu được lấy vào lúc (5h, 7h, 9h,  
11h sáng), mẫu sau đó được bảo quản trong  
thùng bảo ôn lạnh rồi chuyển về phòng xét  
nghiệm.  
- Nhận diện mẫu:  
Những thông tin dưới đây cần phải  
cung cấp đầy đủ và đính kèm theo mỗi mẫu  
để thuận tiện cho việc nhận diện mẫu:  
+ Ngày lấymẫu  
68  
Journal of Science – Phu Yen University, No.26 (2021), 66-73  
+ Thông tin về cơ sở nơi mẫu được  
mềm Minitab 16.  
lấy: HTX ABC, nông dân XYZ, cơ sở bán  
buôn 123, v.v.  
+ Mẫu gộp số, ví dụ: mẫu thịt số1  
+ Đánh dấu lên bao bì đối với những  
sản phẩm đã đóng gói  
Chú thích: bất kỳ thông tin nào cần  
thiết cho việc truy nguyên nguồn gốc của  
mẫu cũng như các điều kiện hoành cảnh khi  
lấy mẫu, ví dụ như: nông dân ở chuồng trại  
đang tiêu độc khử trùng, làm vệ sinh gần đó  
hoặc vệ sinh cá nhân của người lao động tại  
cơ sở không đảm bảo, v.v.  
3. Kết quả và thảo luận  
Chúng tôi tiến hành thu thập 120 mẫu  
thịt tại các chợ trên địa bàn thành phố Tuy  
Hòa. Các mẫu được phân tích các chỉ tiêu  
TSVKHK, E.coli, Salmonella tại Trung tâm  
kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I và bộ  
môn Cơ sở Thú y của trường Đại học Tây  
Nguyên. Kết quả về các chỉ tiêu VSV thịt  
như sau:  
3.1. Kết quả kiểm tra nhiễm vi sinh vật  
trên thịt tại các chợ  
3.1.1. Kết quả kiểm tra tổng số vi khuẩn  
hiếu khí  
2.4. Xử lý số liệu  
Phân tích và xử lý số liệu bằng phần  
Bảng 2. Kết quả kiểm tra TSVKHK trên thịt heo tại các chợ  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Chợ  
n
Không đạt  
Đạt  
Tuy Hòa  
Phường 7  
Tân Hiệp  
Tổng  
40  
40  
40  
16  
5
13  
34  
40,00  
12,50  
32,50  
28,33  
24  
35  
27  
86  
60,00  
87,50  
67,50  
71,67  
120  
n là số mẫu kiểm tra TSVKHK tại 2 đợt lấy mẫu  
87.5%) và chợ Tân Hiệp có 27 mẫu đạt  
(chiếm 67.5%).  
Tỷ lệ (%)  
Như vậy, kết quả kiểm tra sự vấy nhiễm  
của TSVKHK trên 120 mẫu thịt heo tại các  
chợ như sau: có 86 mẫu đạt chỉ tiêu  
TSVKHK (chiếm 71.67%).  
100  
50  
0
Sự khác biệt về tình hình nhiễm  
TSVKHK tại các chợ này có ý nghĩa với P  
< 0.05. Trong đó mẫu thịt heo thu thập tại  
chợ phường 7 có tỷ lệ đạt cao nhất, thấp  
nhất là mẫu tại chợ Tuy Hòa.  
Trung  
tâm Tuy  
Hòa  
Phường Tân Hiệp  
7
Biểu đồ 1. Tỷ lệ mẫu thịt heo đạt tiêu  
chuẩn về TSVKHK  
Qua kết quả bảng 2 và biểu đồ 1 cho  
thấy: qua 2 đợt lấy mẫu, kết quả kiểm tra  
chỉ tiêu TSVKHK theo TCVN 7046:2002 ở  
các chợ khảo sát cụ thể như sau: ở chợ  
trung tâm Tuy Hòa có 24 mẫu đạt (chiếm  
60%), chợ phường 7 có 35 mẫu đạt (chiếm  
So với kết quả nghiên cứu của Khiếu  
Thị Kim An (2009), tỷ lệ thịt đạt tiêu chuẩn  
về TSVKHK ở các chợ và siêu thị trên địa  
bàn thành phố Hà Nội là 42,55%; theo Tô  
Liên Thu (2006), tại các chợ có quản lý của  
Hà Nội, tỷ lệ thịt heo đạt chỉ tiêu về  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 26 (2021), 66-73  
69  
TSVKHK là 26,7%. Trong khi đó, Lê Hữu  
Nghị, Tăng Minh Nhật (2005) cho biết tỷ lệ  
thịt đạt giới hạn cho phép về chỉ tiêu  
TSVKHK tại các chợ trên địa bàn thành  
phố Huế là 25 – 48,86%. Như vậy, kết quả  
về tỷ lệ thịt đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu  
TSVKHK trong nghiên cứu của chúng tôi  
cao hơn nhiều so với các kết quả nghiên  
cứu của các tác giả trên.  
3.1.2. Kết quả kiểm tra vi khuẩn E.coli  
trên thịt  
Bảng 3. Kết quả đánh giá chỉ tiêu E.coli trên thịt heo tại các chợ  
Chợ Không đạt Tỷ lệ (%) Đạt Tỷ lệ (%)  
Tuy Hòa 12 30,00 28 70,00  
n
40  
Phường 7  
Tân Hiệp  
Tổng  
40  
40  
3
8
7,50  
20,00  
19,17  
37  
32  
97  
92,50  
80,00  
80,83  
120  
23  
n là số mẫu kiểm tra vi khuẩn E.coli tại 2 đợt lấy mẫu  
Qua kết quả bảng 3 cho thấy: qua 2 đợt  
lấy mẫu, kết quả kiểm tra chỉ tiêu E.coli  
theo TCVN 7046:2002 ở các chợ khảo sát  
cụ thể như sau: ở chợ trung tâm Tuy Hòa  
có 28 mẫu đạt (chiếm 70%), chợ phường 7  
có 37 mẫu đạt (chiếm 92,5%) và chợ Tân  
Hiệp có 32 mẫu đạt (chiếm 80%). Như vậy,  
kết quả kiểm tra sự vấy nhiễm của vi khuẩn  
E.coli trên 120 mẫu thịt heo tại các chợ như  
sau: có 97 mẫu đạt chỉ tiêu E.coli (chiếm  
80.83%%).  
Tương tự như vậy, sự khác biệt về tình  
hình nhiễm vi khuẩn E.coli tại các chợ là có  
ý nghĩa (P < 0.05). Tại chợ phường 7 cũng  
có tỷ lệ mẫu thịt heo đạt cao nhất (92%), so  
với chợ Tuy Hòa (70%).  
Tỷ lệ (%)  
100  
80  
60  
40  
20  
0
Trung  
tâm Tuy  
Hòa  
Phường  
Tân  
Hiệp  
7
Biểu đồ 2. Tỷ lệ mẫu thịt heo đạt tiêu  
chuẩn về E. coli  
3.1.3. Kết quả kiểm tra vi khuẩn  
Salmonella trên thịt  
Bảng 4. Tình hình nhiễm Salmonella tại các chợ  
Không đạt Tỷ lệ (%) Đạt  
20,00 32  
Chợ  
n
Tỷ lệ (%)  
80,00  
Tuy Hòa  
Phường 7  
Tân Hiệp  
Tổng  
40  
8
40  
40  
1
5
2,50  
12,50  
11,67  
39  
35  
97,50  
87,50  
120  
14  
106  
88,33  
n là số mẫu kiểm tra vi khuẩn Salmonella tại 2 đợt lấy mẫu  
Qua kết quả bảng 4 cho thấy: qua 2  
đợt lấy mẫu, kết quả kiểm tra chỉ tiêu  
Salmonella theo TCVN 7046:2002 ở các  
chợ khảo sát cụ thể như sau: ở chợ trung  
tâm Tuy Hòa có 32 mẫu đạt (chiếm 80%),  
chợ phường 7 có 39 mẫu đạt (chiếm 97.5%)  
70  
Journal of Science – Phu Yen University, No.26 (2021), 66-73  
và chợ Tân Hiệp có 35 mẫu đạt (chiếm  
87.5%). Như vậy, kết quả kiểm tra sự vấy  
nhiễm của vi khuẩn Salmonella trên 120  
mẫu thịt heo tại các chợ như sau: có 106  
mẫu đạt chỉ tiêu Salmonella (chiếm  
88,33%%). Sự khác biệt về tình hình nhiễm  
vi khuẩn Salmonella tại các chợ là có ý  
nghĩa (P = 0.05).  
Bảo Khánh, (2010) thì ở các cơ sở kinh  
doanh tại Ninh Bình, Nam Định, Hải  
Dương, Hà Nội tỷ lệ mẫu thịt heo không  
đạt là 13,33-33,33%.Như vậy so với kết  
quả của chúng tôi thì thịt heo tại các chợ  
thuộc Tp. Tuy Hòa có tỷ lệ đạt cao hơn.  
Tỷ lệ (%)  
Theo nghiên cứu của Đỗ Ngọc  
100  
Thúy và cộng sự (2006), tỷ lệ nhiễm và một  
số đặc tính của vi khuẩn Salmonella spp.  
phân lập từ thịt tươi bán trên địa bàn Hà  
Nội, trong 100 mẫu được kiểm tra, vi khuẩn  
Salmonella có mặt trong 56% mẫu thịt heo.  
Nguyễn Quốc Cường (2018) khi xét  
50  
0
Tuy Hòa  
Phường 7 Tân Hiệp  
nghiệm mẫu thịt heo tại một số chợ tại  
Nghệ An cho thấy 25% mẫu không đạt tiêu  
chuẩn về E. coli và 10% không đạt về chỉ  
tiêu Salmonella. Trong khi đó, theo Đặng  
Biểu đồ 3. Tỷ lệ mẫu thịt heo đạt về chỉ tiêu  
Salmonella  
3.1.4. Tổng hợp kết quả kiểm tra vi sinh  
vật trên thịt tại các chợ  
Bảng 5. Tổng hợp kết quả kiểm tra vi sinh vật trên thịt tại các chợ  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Chợ  
n
Không đạt  
Đạt  
Tuy Hòa  
Phường 7  
Tân Hiệp  
Tổng  
120  
120  
120  
360  
36  
9
30,00  
84  
111  
94  
70,00  
7,50  
21,67  
19,72  
92,50  
78,33  
80,28  
26  
71  
289  
7046:2002 tại các chợ khảo sát được thể  
hiện qua bảng 5 như sau:  
Tỷ lệ (%)  
Kiểm tra 360 mẫu thịt heo về các  
chỉ tiêu vi sinh vật như TSVKHK, E. coli  
và Salmonella có 289 mẫu đạt tiêu chuẩn  
TCVN 7046:2002 về chỉ tiêu này, chiếm  
80,28%. Chợ trung tâm Tuy Hòa, có 84  
mẫu đạt về chỉ tiêu vi sinh (TSVKHK,  
E.coli, Salmonella) chiếm 70%. Chợ  
phường 7 có 111 mẫu đạt (chiếm 92,5%).  
Chợ Tân Hiệp có 94 mẫu đạt (chiếm  
78,33%).  
100  
50  
0
Trung tâm  
Tuy Hòa  
Phường 7 Tân Hiệp  
Biểu đồ 4. Tổng hợp tỷ lệ mẫu thịt heo đạt  
về chi tiêu vi sinh vật  
Kết quả tổng hợp về kiểm tra chỉ  
tiêu vi sinh vật trên 360 mẫu theo TCVN  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 26 (2021), 66-73  
71  
Sự khác biệt về tỷ lệ mẫu thịt heo  
đạt về chỉ tiêu vi sinh giữa các chợ là có ý  
nghĩa (P < 0.05). Kết quả này đúng với việc  
khảo sát tình hình vệ sinh nơi bày bán tại  
các chợ. Tại chợ phường 7 có điều kiện vệ  
sinh tốt hơn là ở chợ trung tâm thành phố  
Tuy Hòa.  
3.2. Kết quả kiểm tra vi sinh vật trên thịt  
heo tại các chợ theo thời điểm trong năm  
Bảng 6. Tình hình nhiễm vi sinh vật trên thịt heo ở các chợ theo thời điểm trong năm  
Tuy Hòa Phường 7 Tân Hiệp  
Thời điểm  
Tỷ lệ  
(%)  
Số mẫu  
Tỷ lệ  
(%)  
Số mẫu  
Tỷ lệ  
(%)  
Số mẫu đạt  
đạt  
đạt  
46  
38  
76,67  
63,33  
58  
96,67  
88,33  
53  
88,33  
68,33  
Đợt 1 (n = 60)  
Đợt 2 (n = 60)  
P
53  
41  
P=0.111>0.05  
P=0.083>0.05  
P=0.008<0.05  
Chúng tôi tiến hành lấy mẫu nghiên  
cứu làm 2 đợt trong năm 2019: đợt 1 vào  
tháng 4 tức là mùa khô và đợt 2 vào tháng  
10 là mùa mưa. Kết quả cho thấy mặc dù  
vào mùa khô tỷ lệ mẫu đạt cao hơn vào  
mùa mưa, nhưng sự khác biệt không có ý  
nghĩa thống kê (P>0,05). Theo chúng tôi  
việc vấy nhiễm vi sinh vật sẽ phụ thuộc  
nhiều vào tình hình vệ sinh, bệnh tật của  
heo khi đưa vào giết mổ, phụ thuộc yếu tố  
vệ sinh trong quá trình giết mổ, vận chuyển  
và khi bày bán chứ không phụ thuộc nhiều  
vào yếu tố thời tiết. Đồng ý rằng khi nhiệt  
độ nóng, ẩm là điều kiện thuận lợi cho vi  
sinh vật phát triển, tuy nhiên nếu yếu tố vệ  
sinh tốt sẽ loại trừ sự vấy nhiễm vi sinh vật  
và hạn chế sự ô nhiễm trên thân thịt.  
Đối với chợ Tân Hiệp, mặc dù sự  
khác biệt giữa 2 thời điểm lấy mẫu là có ý  
nghĩa về mặt thống kê (P<0.05) nhưng sự  
sai chênh lệch cũng không quá lớn, chúng  
tôi cho rằng nguyên nhân ở đây có thể do  
người bán hàng chủ quan không vệ sinh lại  
quầy hàng trước và sau ngày bán hàng làm  
ảnh hưởng đến khả năng vấy nhiễm VSV  
của thịt bày bán tại sạp.  
3.3. Kết quả kiểm tra vi sinh vật trên thịt  
heo tại các chợ theo đặc điểm của sạp  
bán  
Bảng 7. Tình hình vấy nhiễm vi khuẩn theo đặc điểm của sạp tại các chợ  
Tuy Hòa (n=120)  
Phường 7 (n=120)  
Tân Hiệp (n=120)  
Loại sạp  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Trên cao  
(n=72)  
Nền chợ  
(n=48)  
P
61  
23  
84,72  
47,92  
71  
40  
98,61  
83,33  
61  
33  
84,72  
68,75  
P=0.000<0.05  
P=0.002<0.05  
P=0.037<0.05  
72  
Journal of Science – Phu Yen University, No.26 (2021), 66-73  
Qua kết quả tại bảng 7, chúng tôi thấy  
Các chợ tại Tp. Tuy Hòa là nơi cung cấp  
chính thịt heo cho nhu cầu tiêu dùng tại  
thành phố với 119 quầy. Thịt heo được bày  
bán trên sạp bằng gỗ, inox hoặc lót bìa  
carton.  
Có 71,67% số mẫu thịt heo khảo sát đạt  
chất lượng về tổng số vi khuẩn hiếu khí;  
80,83 % đạt về tiêu chuẩn số lượng E. coli  
và 88,33% đạt về tiêu chuẩn Salmonella  
(theo TCVN 7046:2002).  
rằng loại hình bày bán cũng ảnh hưởng đến  
vệ sinh và chất lượng của thịt. Cụ thể là:  
Tại chợ trung tâm Tuy Hòa, với 72 mẫu  
lấy tại các sạp bán trên cao có 61 mẫu đạt  
TCVN 7046:2002 chiếm tỷ lệ 84.72%, trong  
khi với 48 mẫu lấy tại các sạp bán trên nền  
chợ chỉ có 23 mẫu đạt chiếm tỷ lệ 47.92%.  
Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê  
(P<0.05).  
Tại chợ Phường 7, trong số 72 mẫu lấy  
tại các sạp bán trên cao có 71 mẫu đạt  
chiếm tỷ lệ 98.61%, trong khi với 48 mẫu  
lấy tại các sạp bán trên nền chợ chỉ có 40  
mẫu đạt chiếm tỷ lệ 83.33%. Sự khác biệt  
này có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0.05).  
Tại chợ Tân Hiệp, với 72 mẫu lấy tại các  
sạp bán trên cao có 61 mẫu đạt chiếm tỷ lệ  
84.72%, còn với 48 mẫu lấy tại các sạp bán  
trên nền chợ có 33 mẫu đạt chiếm tỷ lệ  
68.75%. Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt  
thống kê (P<0.05).  
Qua đó chúng tôi nhận thấy, hình thức  
bày bán trên các sạp trên cao đảm bảo vệ  
sinh tốt hơn so với các sạp bán trên nền  
chợ. Nguyên nhân chúng tôi cho là khi bày  
bán trên nền chợ, người đi chợ qua lại  
khiến bụi bẩn bay lên quầy thịt làm tăng  
khả năng vấy nhiễm VSV hơn so với các  
quầy bày bán trên các sạp cao.  
So sánh giữa các chợ thì tại chợ phường  
7, các chỉ tiêu vi sinh vật trên thịt đạt cao  
nhất; thấp nhất là tại chợ trung tâm Tp. Tuy  
Hòa.  
Tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn về vi sinh vật  
giảm dần từ 5h đến 11h (90,00% đạt lúc 5h  
và 50,00% đạt lúc 11h).  
Tỷ lệ mẫu thịt heo đạt chỉ tiêu vi sinh  
vật tại thời điểm tháng 4 (mùa khô) và  
tháng 10 (mùa mưa) là tương đương nhau.  
Việc bày bán thịt heo trên sạp cao sẽ có  
tác dụng hạn chế sự vấy nhiễm vi sinh vật  
từ đất trong quá trình bày bán.  
4.2. Đề nghị  
Cần đẩy mạnh các hoạt động kiểm soát  
vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao ý thức  
sử dụng các loại thịt sạch, vệ sinh, đảm bảo  
cho tiêu dùng con người.  
Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu về  
tình hình vệ sinh nơi giết mổ, quá trình vận  
chuyển từ nơi giết đến chợ và sự vấy nhiễm  
vi sinh vật trên thân thịt từ đó xây dựng quy  
trình kiểm soát vệ sinh thực phẩm thịt, đảm  
bảo cung cấp sản phẩm đảm bảo chất  
lượng đến người tiêu dùng  
4. Kết luận – đề nghị  
4.1. Kết luận  
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra  
được một số kết luận về tình hình vệ sinh  
nơi bày bán và sự vấy nhiễm vi khuẩn trên  
thịt heo bán tại một số chợ thuộc Tp. Tuy  
Hòa như sau:  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đặng Bảo Khánh (2010). Khảo sát mức độ ô nhiễm vi sinh vật và các hoá chất tồn dư trong  
thịt trên địa bàn một số tỉnh miền Bắc, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Viện Khoa học  
nông nghiệp Việt Nam.  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 26 (2021), 66-73  
73  
Đỗ Ngọc Thúy, Cù Hữu Phú, Văn Thị Hường, Đào Thị Hảo, Nguyễn Xuân Huyên, Nguyễn  
Bạch Huệ (2006). Nghiên cứu đánh giá tình hình nhiễm một số loại vi khuẩn gây  
bệnh trong thịt tươi trên địa bàn Hà Nội. Tạp chí khoa học Thú y năm 2006, tập 13, số 3.  
Khiếu Thị Kim An (2009). Đánh giá tình trạng ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thực  
phẩm trong thịt lợn tại một số cơ sở giết mổ và kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Luận  
văn thạc sỹ nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp Hà Nội.  
Lê Hữu Nghị, Tăng Mạnh Nhật (2005). Tình trạng ô nhiễm vi sinh vật trong thịt qua giết  
mổ và bày bán tại một sổ chợ thành phố Huế. Khoa học kỹ thuật thú y, tập XII, số 2 -  
2005  
Nguyễn Quốc Cường (2018). Tình hình ô nhiễm vi sinh vật tại nơi giết mổ và nơi bày bán  
thịt lợn, gà do dự án Lifsap đầu tư tại Nghệ An. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Học  
viện Nông nghiệp Việt Nam  
Tô Liên Thu (2006). Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm một số vi khuẩn ở thịt lợn, gà tại Hà  
Nội và áp dụng biện pháp hạn chế sự phát triến của chúng. Luận án tiến sĩ nông  
nghiệp. Viện Thú y, Hà Nội 2006.  
The realities of bacterial infection on pork in some markets in  
Tuy Hoa city, Phu Yen province  
Nguyen Thi Hong Sen  
Phu Yen University  
Received: July 24, 2020; Accepted: January 08, 2021  
Abstract  
Samples were collected and examined from 119 stalls the markets which supplied pork  
for consumption in Tuy Hoa city Phu Yen province. 71.67% of the surveyed pork samples  
qualified for the total number of aerobic bacteria; 80.83% and 88.33% matched the standards  
of E.coli and Salmonella (following TCVN 7046: 2002), respectively. Compared among the  
markets, microbiological criteria showed the results of highest quality in the markets of Ward 7  
and the lowest quality in the Central Market of Tuy Hoa city.  
Keywords: market, pork, bacteria, Tuy Hoa city.  
pdf 8 trang yennguyen 25140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình vấy nhiễm vi sinh vật ở thịt heo tại một số chợ ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_vay_nhiem_vi_sinh_vat_o_thit_heo_tai_mot_so_cho_o.pdf