Trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại thành phố Hồ Chí Minh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ MANG THAI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Thu Phương*, Đặng Thị Minh Trang*, Thái Thanh Trúc*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Trầm cảm, lo âu là những dạng rối loạn tâm thần phổ biến ở phụ nữ mang thai. Hầu hết
nghiên cứu tại Việt Nam về rối loạn tâm thần chu sinh chỉ tập trung vào trầm cảm sau sinh. Nghiên cứu về trầm
cảm, lo âu ở phụ nữ mang thai còn hạn chế.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 550 phụ nữ mang thai tại bệnh
viện Từ Dũ và Hùng Vương từ tháng 3-4/2019. Phụ nữ mang thai được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn có
cấu trúc. Trầm cảm, lo âu được đánh giá bằng thang đo CES-D và STAI-T đã được chuẩn hóa tại Việt Nam.
Kết quả: Tỷ lệ thai phụ có dấu hiệu trầm cảm, lo âu là 24,0%, 16,0%. Các yếu tố làm tăng tỷ lệ trầm cảm
bao gồm áp lực do mong đợi giới tính từ chồng (PR=2,08; KTC 95%: 1,24-3,48), trải qua sự kiện buồn thai kỳ
(PR=2,16; KTC 95%: 1,47-3,19), gia đình có người rối loạn tâm thần (PR=4,56; KTC 95%: 1,67-12,47) và hỗ trợ
tinh thần từ chồng thấp (PR=1,93; KTC 95%: 1,32-2,83). Các yếu tố liên quan làm tăng tỷ lệ lo âu bao gồm thai
ngoài kế hoạch (PR=1,98; KTC 95%: 1,25-3,14), tiền sử rối loạn tâm thần (PR=3,44; KTC 95%: 1,17-10,10), trải
qua sự kiện buồn thai kỳ (PR=1,93; KTC 95%: 1,23-3,05), hỗ trợ tinh thần từ chồng (PR=2,67-2,80).
Kết luận: Trầm cảm và lo âu là phổ biến ở phụ nữ mang thai. Cần bổ sung các phòng tư vấn tâm lý và có
chương trình sàng lọc trầm cảm hoặc lo âu cho phụ nữ mang thai, đặc biệt là phụ nữ mang thai có nguy cơ cao.
Từ khóa: trầm cảm, lo âu, phụ nữ mang thai, CES-D, STAI-T
ABSTRACT
DEPRESSION, ANXIETY AND ASSOCIATED FACTORS AMONG PREGNANT WOMEN
IN HO CHI MINH CITY
Pham Thi Thu Phuong, Dang Thi Minh Trang, Thai Thanh Truc
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 64 - 72
Background: Depression and anxiety are prevalent mental disorders in pregnant women. Most studies in
Vietnam of perinatal mental disorders only focus on postpartum depression. Studies of depression and anxiety
during pregnancy are limited.
Objectives: To determine prevalence of depression, anxiety and associated factors in pregnant women in Ho
Chi Minh City.
Materials and methods: A cross-sectional study was conducted in 550 pregnant women at Tu Du and
Hung Vuong Hospital from March to April 2019. Pregnant women were interviewed using a structural
questionnaire. Depression and anxiety were measured by the CES-D and STAI-T which have already been
validated in Vietnam.
Results: The prevalence of depression and anxiety in pregnant women was 24.0%, 16.0%. Factors
associated with depression included pressure from the expectation of baby sex from husbands (PR=2.08; 95% CI:
1.24-3.48), experience sad event in pregnancy (PR=2.16; 95% CI: 1.47-3.19), family history of mental disorders
*Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN. Phạm Thị Thu Phương
ĐT: 0981861858
Email: pttphuongytcc1115@ump.edu.vn
64
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
(PR=4.56; 95% CI: 1.67-12.47), low level of spiritual support from husband (PR=1.93; 95% CI: 1.32-2.83).
Factors associated with anxiety included unintended pregnancy (PR=1.98; 95% CI: 1.25-3.14), history of mental
disorders (PR=3.44; 95% CI: 1.17-10.10), experience sad event in pregnancy (PR=1.93; 95% CI: 1.23-3.05), low
level of spiritual support from husband (PR=2.67-2.80).
Conclusion: Depression and anxiety are prevalent in pregnant women during their pregnancy. Maternity
hospitals should provide psychological consulting services and screening program for depression or anxiety for
pregnant women, especially those who are at high-risk.
Key words: depression, anxiety, pregnant women, CES-D, STAI-T.
Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ khác như vô sinh
trước đó, các bệnh lý thai kỳ kèm theo, các sự
kiện buồn, gia đình có người rối loạn tâm thần
vẫn chưa được làm rõ(3,4,5,). Đồng thời, sự khác
biệt về văn hóa, điều kiện kinh tế xã hội thấp có
thể dẫn đến vấn đề về sức khỏe tâm thần ở thai
phụ tại Việt Nam.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mang thai là giai đoạn có nhiều thay đổi về
mặt thể chất, tinh thần. Phụ nữ mang thai
thường có nhiều suy nghĩ lo lắng, tâm trạng thay
đổi thất thường, từ đó có thể dẫn đến các rối
loạn tâm thần, phổ biến nhất là trầm cảm, lo âu.
Ước tính tỷ lệ mắc trầm cảm trong thai kỳ dao
động từ 7 – 15% ở các nước thu nhập cao, tăng
lên 19 – 25% ở các nước thu nhập thấp và trung
bình(1). Một số nghiên cứu gần đây thực hiện tại
Slovenia, Ả-rập Xê-út , Bangladesh cho thấy
khoảng 19,6 – 37,1% thai phụ mắc trầm cảm và
12,5 – 54% thai phụ mắc lo âu(2,3,4). Chưa có nhiều
báo cáo ở các nước khu vực Đông Nam Á,
nghiên cứu tiến hành tại Malaysia về các rối loạn
tâm thần chung cho kết quả tỷ lệ thai phụ mắc
các rối loạn tâm thần ở 3 tháng giữa và ba tháng
cuối lần lượt là 23,6% và 24,7%(5).
Tại Việt Nam, hầu hết nghiên cứu về rối loạn
tâm thần chu sinh chỉ tập trung vào trầm cảm
sau sinh, các nghiên cứu về trầm cảm, lo âu ở
phụ nữ mang thai còn hạn chế. Hai nghiên cứu
do Fisher J tiến hành tại Hà Nội và Hà Nam cho
kết quả lần lượt 29,1% thai phụ ở tam cá nguyệt
cuối (năm 2007), 17,4% thai phụ ở giai đoạn sớm
và giai đoạn muộn thai kỳ (năm 2010) mắc các
rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, lo
âu(11,12). Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ thực
hiện ở khu vực phía Bắc Việt Nam, khoảng thời
gian các nghiên cứu được thực hiện tính đến
thời điểm hiện tại khá dài, số liệu báo cáo có thể
không phù hợp với thời điểm hiện tại. Do đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này tại hai bệnh
viện phụ sản Hùng Vương và Từ Dũ với mục
tiêu xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu ở phụ nữ
mang thai và các yếu tố liên quan.
Có nhiều bằng chứng cho thấy trầm cảm và
lo âu trong thai kỳ có thể gây nhiều ảnh hưởng
bất lợi cho cả mẹ và bé. Thai phụ mắc trầm cảm,
lo âu có nguy cơ sinh non, sinh nhẹ cân, nguy cơ
tiền sản giật cao hơn những thai phụ không mắc
trầm cảm, lo âu(6,7). Lo âu trong quá trình mang
thai của mẹ làm tăng nguy cơ trẻ mắc các bệnh
như khó thở, phát ban, hen suyễn lúc nhỏ và khi
trưởng thành, làm chậm sự phát triển trí não và
hệ thần kinh vận động của trẻ sơ sinh, gây ảnh
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Có 550 phụ nữ mang thai tại hai bệnh viện
Hùng Vương và Từ Dũ từ tháng 3-4/2019.
hưởng đến hành vi, cảm xúc của trẻ sau này(8,9)
.
Những nghiên cứu trước đây đã tập trung
tìm ra các yếu tố nguy cơ cho trầm cảm, lo âu
trong thai kỳ. Cụ thể trầm cảm, lo âu thai kỳ có
liên quan đến trình độ học vấn thấp thu nhập
thấp, thai ngoài kế hoạch, tiền sử trầm cảm, mức
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang.
Phương pháp chọn mẫu
độ hỗ trợ từ chồng kém, bạo lực từ chồng(4,5,10)
.
Tại mỗi bệnh viện, chúng tôi chọn 3 phòng
65
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
khám ngẫu nhiên, sử dụng kỹ thuật chọn mẫu
hệ thống, cứ mỗi năm phụ nữ mang thai
(PNMT) đến khám thai thì một PNMT được tiếp
cận và mời tham gia vào nghiên cứu. Kỹ thuật
chọn mẫu đảm bảo rằng mỗi ngày phỏng vấn
khoảng 28-30 thai phụ, điều này phù hợp với
nguồn nhân lực của nghiên cứu (2 nghiên cứu
viên). Mỗi bệnh viện có 269 PNMT thỏa tiêu chí
(PNMT trên 18 tuổi, có khả năng giao tiếp và đủ
sức khỏe, hoàn thiện các thang đo trầm cảm, lo
âu) được đưa vào phân tích.
chuyên lần lượt là 79,8% và 83,0%, hệ số tin
cậy nội bộ Cronbach’s alpha là 0,81, được sử
dụng trong nghiên cứu trước đây sàng lọc
trầm cảm trong thai kỳ ở phụ nữ mang
thai(2,14). Tổng số điểm của thang đo dao động
từ 0 – 60, được tính bằng cách cộng điểm số
của câu hỏi lại. Điểm cắt 16 phân biệt các thai
phụ có trầm cảm hay không trầm cảm(2,14)
.
Trong nghiên cứu hiện tại, tính tin cậy nội bộ
của CES-D với hệ số Cronbach alpha là 0,81.
Lo âu được đánh giá bởi tiểu mục STAI-T
của thang đo STAI(15). Thang đo STAI gồm hai
tiểu mục là quy mô đo lường lo âu thời điểm
hiện tại (STAI-State trạng thái lo âu hiện tại) và
quy mô đo lường lo âu chung (STAI-Trait đặc
điểm của lo âu). Mỗi tiểu mục có 20 câu, mỗi câu
có 4 mức độ trả lời từ hầu như không bao giờ
đến luôn luôn tương ứng với điểm số từ 1-4. Hệ
số tin cậy nội bộ cho thang đo dao động từ 0,86
đến 0,95, độ nhạy, độ đặc hiệu của STAI lần lượt
là 78,3% và 71,0%(15). STAI đã được chuẩn hóa tại
Việt Nam, được sử dụng rộng rãi trong các
nghiên cứu ở phụ nữ mang thai(2,4). Nghiên cứu
này chỉ sử dụng tiểu mục STAI – Trait của thang
đo STAI để khảo sát lo âu trong thai kỳ,
Cronbach’s alpha của STAI-T trong nghiên cứu
này là 0,85. Điểm cắt 45 được sử dụng để phân
biệt có lo âu hay không lo âu.
Phương pháp thu thập số liệu
Sau khi được cung cấp thông tin về nghiên
cứu và thai phụ đồng ý tham gia vào nghiên
cứu, nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn mặt
đối mặt thai phụ bằng bộ câu hỏi soạn sẵn trong
khoảng 30 phút. Bộ câu hỏi sau khi hoàn thành
được kiểm tra tính đầy đủ thông tin, mã hóa
theo số và hoàn toàn bảo mật thông tin. Để đảm
bảo đạo đức nghiên cứu, đối với những thai phụ
muốn nhận kết quả sàng lọc của họ, chúng tôi sẽ
gửi trả kết quả qua e-mail sau khi tổng hợp (theo
thông tin đối tượng cung cấp thêm). Chúng tôi
cũng hướng dẫn những thai phụ có dấu hiệu
trầm cảm, lo âu trao đổi với bác sĩ sản khoa
trong những lần khám tiếp theo để được chẩn
đoán chính xác hơn.
Công cụ thu thập số liệu
Phân tích dữ kiện
Bộ câu hỏi bao gồm các đặc điểm về kinh tế -
xã hội như tuổi, giới, nghề nghiệp, tình trạng
hôn nhân; các yếu tố liên quan đến thai kỳ hiện
tại và tiền sử thai kỳ như tuổi thai, số lần khám
thai, PARA. Đặc điểm tâm lý – xã hội liên quan
đến thai kỳ như áp lực do mong muốn giới tính,
trải qua sự kiện buồn, mức độ hỗ trợ từ chồng và
gia đình về vật chất, tinh thần, công việc nhà;
bạo lực từ chồng.
Sử dụng tỷ lệ để tóm tắt dữ liệu và kiểm
định Chi bình phương với mức p<0,05 được
xem là có ý nghĩa thống kê. Số đo dịch tễ PR
với khoảng tin cậy 95% được dùng để lượng
hóa mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu với các
yếu tố liên quan. Để xác định các yếu tố có liên
quan độc lập với trầm cảm, lo âu trong thai kỳ
thì dùng đến phương pháp phân tích đa biến,
trong đó sử dụng cách tiếp cận BMA (Bayesian
model averaging).
Trầm cảm được đánh giá bởi CES-D gồm
20 câu, mỗi câu được đánh giá tương ứng với
thang điểm Likert từ 0 – 3 là 4 mức độ hiếm
khi, đôi khi, thỉnh thoảng và hầu hết thời gian
trong 7 ngày(13). Thang đo CES-D đã được
chuẩn hóa tại Việt Nam với độ nhạy, độ
Y đức
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng
Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh số: 34/ĐHYD-HĐĐĐ
66
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
ngày 01/3/2019.
và 31,7%. Đa số thai phụ kết hôn và sống gần
chồng (94,6%). Hầu hết thai phụ có cảm nhận
kinh tế gia đình ở mức đủ sống (90,3%). Hơn
90% thai phụ tham gia vào nghiên cứu chưa có
con (52,0%) hoặc có 1 con. Phần lớn tuổi thai của
các thai phụ đang ở giai đoạn tam cá nguyệt thứ
hai chiếm 46,4%.
KẾT QUẢ
Trong tổng số 550 phiếu khảo sát thu thập
được, số phiếu đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích
là 537 chiếm 97,64%. Dựa trên điểm cắt CES-
D≥16 và STAI-T≥45, có 24,0% thai phụ được sàng
lọc có các triệu chúng trầm cảm và 16, 0% có
triệu chứng lo âu (Bảng 1). Nhóm thai phụ trong
độ tuổi 25 – 29 chiếm cao nhất (37,1%), nhóm
thai phụ từ 35 trở lên chiếm thấp nhất với 11,3%.
Đa số thai phụ là dân tộc kinh (95,7%). Thai phụ
có học vấn đã hoàn thành trên THPT chiếm cao
nhất với tỷ lệ 46,2%. Nghề nghiệp của thai phụ
chủ yếu là nhân viên văn phòng/viên chức và
công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 33,9%
Tỷ lệ trầm cảm cao hơn được tìm thấy ở thai
phụ có nghề nghiệp là viên chức/văn phòng
(p=0,038) hoặc nghề nghiệp khác (p=0,019), tình
trạng hôn nhân sống xa chồng/mẹ đơn thân
(p=0,007), tình trạng kinh tế nghèo (p=0,005). Tỷ
lệ lo âu cao hơn được tìm thấy ở thai phụ có
nghề nghiệp là nội trợ (p=0,024), tình trạng hôn
nhân sống xa chồng/mẹ đơn thân (p <0,001).
Bảng 1. Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu với đặc điểm dân số - xã hội (n=537)
Trầm cảm CES-D ≥16 (n=129, 24,0%)
Lo âu STAI-T ≥45 (n=86, 16,0%)
Tổng (n=537)
n (%)
n (%)
p
RR KTC 95%
n (%)
p
RR KTC 95%
Nhóm tuổi
18 – 24 tuổi
25 – 29 tuổi
30 – 34 tuổi
≥35 tuổi
123 (22,9)
199 (37,1)
154 (28,7)
61 (11,3)
33 (26,8)
44 (22,1)
36 (23,4)
16 (26,2)
1
24 (19,5)
1
0,333
0,509
0,931
0,82 (0,56-1,22) 32 (16,1)
0,87 (0,58-1,31) 23 (14,9)
0,429
0,315
0,185
0,82 (0,51-1,33)
0,77 (0,45-1,29)
0,59 (0,27-1,29)
0,98 (0,59-1,63)
7 (11,5)
Dân tộc
0,813
Khác
Kinh
23 (4,30)
6 (26,1)
1,09 (0,54-2,21)
1
3 (13,0)
0,691
0,81 (0,28-2,36)
1
514 (95,7)
123 (23,9)
83 (16,1)
Trình độ học vấn đã hoàn thành
8 (17,4)
≤Tiểu học
THCS
46 (8,6)
1
5 (10,9)
1
106 (19,7)
137 (25,5)
248 (46,2)
21 (19,8)
30 (21,9)
70 (28,2)
0,727
0,515
0,131
1,17 (0,48-2,89) 20 (18,9)
1,33 (0,56-3,15) 21 (15,3)
1,87 (0,83-4,20) 40 (16,1)
0,239
0,463
0,377
1,74 (0,69-4,35)
1,41 (0,56-3,53)
1,48 (0,62-3,56)
THPT
>THPT
Nghề nghiệp
Công nhân
Viên chức/văn phòng
Nội trợ
170 (31,7)
182 (33,9)
105 (19,5)
80 (14,9)
29 (17,1)
48 (26,4)
28 (26,7)
24 (30,0)
1
21 (12,4)
1
0,036
0,058
0,021
1,74 (1,04-2,92) 30 (16,5)
1,77 (0,98-3,19) 24 (22,9)
2,08 (1,12-3,89) 11 (13,7)
0,275
0,024
0,757
1,33 (0,80-2,24)
1,85 (1,09-3,15)
1,11 (0,56-2,20)
Khác
Nơi ở hiện tại
TPHCM (nội thành)
TPHCM (ngoại thành)
Tỉnh khác (thành phố)
Tỉnh khác (xã/huyện)
238 (44,3)
65 (12,1)
76 (14,2)
158 (29,4)
51 (21,4)
23 (35,4)
23 (30,3)
32 (20,3)
1
36 (15,1)
1
0,016
0,107
0,779
1,65 (1,10-2,49) 12 (18,5)
1,41 (0,93-2,15) 20 (26,3)
0,95 (0,64-1,40) 18 (11,4)
0,510
0,024
0,294
1,22 (0,67-2,21)
1,74 (1,07-2,82)
0,75 (0,44-1,28)
Tình trạng hôn nhân
0,007 1,96 (1,27-3,03) 13 (44,8) <0,001 3,12 (1,98-4,92)
Khác
29 (5,4)
13 (44,8)
Kết hôn sống gần chồng
508 (94,6)
116 (22,8)
1
73 (14,4)
1
Cảm nhận kinh tế - gia đình
5 (16,7)
111 (22,9) 0,447
13 (59,1) 0,005
Giàu/rất giàu
Trung bình
Nghèo
30 (5,6)
485 (90,3)
22 (4,1)
1
4 (13,3)
1
1,37 (0,61-3,11) 74 (15,3)
3,55 (1,48-8,49) 8 (36,4)
0,778
0,066
1,14 (0,45-2,92)
2,73 (0,94-7,93)
67
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
Bảng 2. Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu với yếu tố tiền sử và thai kỳ hiện tại (n=537)
Trầm cảm CES-D ≥16 (n=129, 24,0%)
n (%) RR KTC 95%
Lo âu STAI-T ≥45 (n=86, 16,0%)
Tổng (n=537)
n (%)
Đặc điểm
p
n (%)
p
RR KTC 95%
YẾU TỐ SẢN KHOA
Tiền sử sinh mổ (n=258)
Có
95 (36,8)
20 (21,1)
44 (27,0)
0,287
0,78 (0,49-1,24) 13 (13,7)
0,272
0,680
0,964
0,357
0,181
0,647
0,492
0,72 (0,40-1,31)
1
Không
163 (63,2)
1
31 (19,0)
Tiền sử sinh non (n=258)
6 (21,4) 0,661 0,85 (0,40-1,79)
58 (25,2)
Tiền sử sinh nhẹ cân (n=258)
Có
28 (10,9)
4 (14,3)
0,82 (0,32-2,12)
1
Không
230 (89,1)
1
40 (17,4)
Có
18 (7,0)
3 (16,7)
0,407
0,66 (0,23-1,88)
3 (16,7)
0,98 (0,33-2,84)
1
Không
240 (93,0)
61 (25,4)
1
41 (17,1)
Tiền sử sẩy thai
Có
59 (11,0)
15 (25,4)
1,07 (0,67-1,70)
1
7 (11,9)
0,72 (0,35-1,48)
1
Không
478 (89,0)
114 (23,8) 0,789
79 (16,5)
Tiền sử phá thai
Có
38 (7,1)
16 (42,1)
0,007
1,86 (1,24-2,80)
1
9 (23,7)
1,53 (0,84-2,82)
1
Không
499 (92,9)
113 (22,6)
77 (15,4)
Tiền sử thai chết lưu
Có
26 (4,8)
7 (26,9)
0,723
1,13 (0,59-2,16)
5 (19,2)
1,21 (0,54-2,73)
1
Không
511 (95,2)
122 (23,9)
1
81 (15,9)
Số con hiện có
≥ 2 con
≤1 con
46 (8,6)
17 (37,0)
0,032
1,62 (1,07-2,44)
1
9 (19,6)
1,25 (0,67-2,32)
1
491 (91,4)
112 (22,8)
77 (15,7)
THAI KỲ HIỆN TẠI
Giai đoạn thai kỳ
Tam cá nguyệt 1
Tam cá nguyệt 2
Tam cá nguyệt 3
98 (18,2)
249 (46,4)
190 (35,4)
22 (22,4)
62 (24,9)
45 (23,7)
1
9 (10,5)
1
0,634
0,815
1,11 (0,72-1,70) 43 (50,0)
1,06 (0,67-1,65) 34 (39,5)
0,062
0,053
2,06 (0,97-4,41)
2,16 (0,99-4,70)
Nhóm số lần mang thai
55 (23,8)
Lần đầu
Lần thứ 2
231 (43,0)
200 (37,3)
106 (19,7)
1
35 (40,7)
0,90 (0,64-1,28) 34 (39,5)
1,23 (0,84-1,79) 17 (19,8)
1
43 (21,5)
31 (29,2)
0,569
0,283
0,602
0,834
1,15 (0,69-1,92)
1,07 (0,57-2,01)
Lần thứ 3 trở lên
Thai ngoài kế hoạch
Có
193 (35,9)
344 (64,1)
62 (32,1)
67 (19,5)
0,001
1,65 (1,23-2,22) 49 (57,0) <0,001 2,82 (1,72-4,65)
Không
1
37 (43,0)
1
Bệnh lý thai kỳ
Có
96 (17,9)
30 (31,2)
99 (22,4)
0,067
1,39 (0,99-1,96) 17 (19,8)
69 (80,2)
0,618
1,16 (0,61-2,13)
1
Không
441 (82,1)
1
sự kiện buồn trong thai kỳ (p <0,001), thay đổi
khi mang thai (p=0,006), tiền sử rối loạn tâm thần
(p=0,014), gia đình có người rối loạn tâm thần
(p=0,003) có mối liên quan đến trầm cảm. Lo âu
cũng được xác định có liên quan đến áp lực giới
tính thai nhi từ chồng và bố mẹ chồng (p=0,001),
trải qua sự kiện buồn trong thai kỳ (p <0,001),
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở những thai
phụ có từ 2 con trở lên (p=0,032), thai phụ có tiền
sử phá thai (p=0,007), thai phụ mang thai ngoài kế
hoạch (p=0,001) cao hơn. Lo âu được tìm thấy có
mối liên quan với thai ngoài kế hoạch (p <0,001).
Kết quả Bảng 3 cho thấy áp lực giới tính thai
nhi từ chồng và bố mẹ chồng (p <0,001), trải qua
68
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
tiền sử rối loạn tâm thần (p=0,001).
Bảng 3. Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu với các đặc điểm tâm lý - xã hội liên quan thai kỳ (n=537)
Trầm cảm CES-D ≥16 (n=129, 24,0%)
n (%) RR KTC 95%
Áp lực do mong đợi giới tính từ chồng (n=535)
Lo âu STAI-T ≥45 (n=86, 16,0%)
Tổng (n=537)
n (%)
Đặc điểm
p
n (%)
p
RR KTC 95%
Có
29 (5,4)
20 (69,0) <0,001
108 (21,3)
3,23 (2,40-4,34)
1
11 (37,9)
74 (14,6)
0,001
2,59 (1,56-4,32)
1
Không
506 (94,6)
Áp lực do mong đợi giới tính từ bố mẹ chồng (n=529)
Có
30 (5,7)
18 (60,0) <0,001
110 (22,0)
2,72 (1,95-3,81)
1
11 (36,7)
73 (14,6)
0,001
0,915
2,51 (1,50-4,20)
1
Không
499 (94,3)
Thay đổi không mong muốn
Có
Không
315 (58,7)
222 (41,3)
89 (28,3)
40 (18,0)
0,006
1,57 (1,13-2,18)
1
50 (15,9)
36 (16,2)
0,98 (0,66-1,45)
1
Sự kiện buồn trong thai kỳ
Có
97 (18,1)
47 (48,5) <0,001
82 (18,6)
2,60 (1,96-3,45)
1
32 (33,0) <0,001
54 (12,3)
2,69 (1,84-3,92)
1
Không
440 (81,9)
Tiền sử rối loạn tâm thần
Có
6 (1,1)
4 (66,7)
0,014
2,83 (1,58-5,09)
1
4 (66,7)
0,001
0,807
4,32 (2,37-7,86)
1
Không
531 (98,9)
125 (23,5)
82 (15,4)
Gia đình có người rối loạn tâm thần
Có
5 (0,9)
4 (80,0)
0,003
3,40 (2,14-5,42)
1
1 (20,0)
1,25 (0,21-7,30)
1
Không
532 (99,1)
125 (23,5)
85 (16,0)
Bảng 4. Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu với các yếu tố gia đình (n=537)
Trầm cảm CES-D ≥16 (n=129, 24,0%)
n (%) RR KTC 95%
Mối quan hệ với mẹ chồng (n=523)
39 (18,0)
Lo âu STAI-T ≥45 (n=86, 16,0%)
Tổng (n=537)
n (%)
Đặc điểm
p
n (%)
p
RR KTC 95%
Tốt/Rất tốt
Bình thường
Không tốt lắm
217 (41,5)
293 (56,0)
13 (2,5)
1
26 (12,0)
1
80 (27,3)
7 (53,8)
0,016
1,52 (1,08-2,14) 51 (17,4)
0,095
0,038
1,45 (0,94-2,25)
2,57 (1,05-6,27)
<0,001 3,00 (1,68-5,34)
4 (30,8)
Mối quan hệ vợ chồng (n=535)
71 (19,6)
Tốt/Rất tốt
Bình thường
Không tốt lắm
362 (67,7)
168 (31,4)
5 (0,9)
1
39 (10,8)
1
52 (31,0)
5 (100)
0,004
1,58 (1,16-2,15) 42 (25,0)
<0,001
<0,001
2,32 (1,56-3,45)
7,43 (4,37-12,61)
<0,001 5,10 (4,14-6,28)
HỖ TRỢ TỪ CHỒNG
Hỗ trợ vật chất
4 (80,0)
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
391 (72,8)
132 (24,6)
14 (2,6)
88 (22,5)
36 (27,3)
5 (35,7)
1
46 (11,8)
1
0,260
0,213
1,21 (0,87-1,69) 34 (25,8)
<0,001
<0,001
2,19 (1,47-3,26)
3,64 (1,88-7,07)
Không/Hiếm khi
1,59 (0,77-3,28)
6 (42,9)
Hỗ trợ tinh thần
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
427 (79,5)
96 (17,9)
14 (2,6)
81 (19,0)
42 (43,8)
6 (42,9)
1
46 (10,8)
1
<0,001 2,31 (1,71-3,11) 34 (35,4)
<0,001
<0,001
3,29 (2,24-4,83)
3,98 (2,05-7,73)
Không/Hiếm khi
0,012
2,26 (1,20-4,27)
6 (42,9)
Hỗ trợ công việc nhà
1
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
390 (72,6)
110 (20,5)
37 (6,9)
72 (18,5)
37 (33,6)
20 (54,1)
44 (11,3)
1
<0,001 1,82 (1,30-2,55) 27 (24,5)
<0,001 2,93 (2,04-4,21) 15 (40,5)
HỖ TRỢ TỪ GIA ĐÌNH
<0,001
<0,001
2,18 (1,41-3,35)
3,59 (2,22-5,81)
Không/Hiếm khi
Hỗ trợ vật chất
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
229 (42,6)
197 (36,7)
111 (20,7)
48 (21,0)
53 (26,9)
28 (25,2)
1
23 (10,0)
1
0,152
0,373
1,28 (0,91-1,81) 43 (21,8)
1,20 (0,80-1,81) 20 (18,0)
0,001
0,039
2,17 (1,36-3,48)
1,79 (1,03-3,13)
Không/Hiếm khi
69
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
Trầm cảm CES-D ≥16 (n=129, 24,0%)
Lo âu STAI-T ≥45 (n=86, 16,0%)
Tổng (n=537)
n (%)
Đặc điểm
n (%)
p
RR KTC 95%
n (%)
p
RR KTC 95%
Hỗ trợ tinh thần
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
385 (71,7)
123 (22,9)
29 (5,4)
76 (19,7)
41 (33,3)
12 (41,4)
1
43 (11,2)
1
0,001
0,002
1,69 (1,22-2,33) 33 (26,8)
2,10 (1,30-3,38) 10 (34,5)
<0,001
<0,001
2,40 (1,60-3,61)
3,09 (1,74-5,49)
Không/Hiếm khi
Hỗ trợ công việc nhà
1
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
293 (54,6)
106 (19,7)
138 (25,7)
59 (20,1)
34 (32,1)
36 (26,1)
34 (11,6)
1
0,011
0,161
1,59 (1,11-2,28) 30 (28,3)
1,30 (0,90-1,86) 22 (15,9)
<0,001
0,210
2,44 (1,57-3,78)
1,37 (0,84-2,26)
Không/Hiếm khi
Bạo lực từ chồng
<0,001 2,27 (1,59-3,25) 13 (34,2)
73 (14,6)
Có
38 (7,1)
19 (50,0)
0,002
2,34 (1,43-3,81)
1
Không
499 (92,9)
110 (22,0)
1
Bảng 5. Các yếu tố liên quan độc lập đến trầm cảm, lo âu ở phụ nữ mang thai (n=537)
Đặc điểm
ĐA BIẾN TRẦM CẢM
phc
PRhc KTChc 95%
Khả năng xuất hiện của mô hình
Áp lực do mong đợi giới tính từ chồng (n=535) (có)
Sự kiện buồn thai kỳ (có)
Gia đình có người rối loạn tâm thần (có)
Hỗ trợ tinh thần từ chồng
Thường xuyên
0,005 2,08 (1,24-3,48)
<0,001 2,16 (1,47-3,19)
0,003 4,56 (1,67-12,47)
0,097
1
Thỉnh thoảng
0,001 1,93 (1,32-2,83)
0,206 1,80 (0,72-4,45)
Không/Hiếm khi
ĐA BIẾN LO ÂU
Thai ngoài kế hoạch (có)
Sự kiện buồn thai kỳ (có)
Tiền sử rối loạn tâm thần
Hỗ trợ tinh thần từ chồng
Thường xuyên
0,004 1,98 (1,25-3,14)
0,005 1,93 (1,23-3,05)
0,025 3,44 (1,17-10,10)
0,353
1
Thỉnh thoảng
<0,001 2,67 (1,69-4,21)
0,020 2,80 (1,18-6,66)
Không/Hiếm khi
thai phụ có các dấu hiệu trầm cảm (24,0%) và
một phần sáu thai phụ có các dấu hiệu lo âu
(16,0%). Kết quả phù hợp với nghiên cứu gộp
của Fisher J (2012) ở các nước đang phát
triển(1). Có nét tương đồng với các nghiên cứu
trước đây tại Slovenia, Ả-rập Xê-út,
Bangladesh với tỷ lệ trầm cảm trong khoảng
Bảng 4 cho thấy các yếu tố như mối quan hệ
với mẹ chồng, với chồng không tốt, hỗ trợ từ
chồng và gia đình thấp, bạo lực từ chồng (các giá
trị p <0,05) là những yếu tố làm tăng tỷ lệ mắc
trầm cảm, lo âu.
Bảng 5 thể hiện kết quả phân tích đa biến.
Kết quả cho thấy các yếu tố liên quan độc lập tới
trầm cảm gồm áp lực do mong đợi giới tính từ
chồng, trải qua sự kiện buồn thai kỳ, gia đình có
người rối loạn tâm thần và hỗ trợ tinh thần từ
chồng. Các yếu tố liên quan độc lập đến lo âu
bao gồm thai ngoài kế hoạch, tiền sử rối loạn
tâm thần, trải qua sự kiện buồn thai kỳ, hỗ trợ
tinh thần từ chồng.
19,6 – 37,1% và lo âu 12,5 – 54%(2,3,4)
.
Ngoài ra, nghiên cứu nhận thấy có 4,5%
thai phụ có dấu hiệu trầm cảm mức độ vừa
(điểm CES-D từ 21-24) và 5,4% thai phụ có các
dấu hiệu trầm cảm mức độ nặng (điểm CES-D
≥25), kết quả có sự khác biệt so với nghiên cứu
của tác giả Podvornik N (có 8,4% thai phụ ở
mức độ trầm cảm nặng với mức điểm ≥22)(2).
Điều này có thể lý giải do cách chọn điểm cắt
cho mức độ trầm cảm nặng của nghiên cứu
BÀN LUẬN
Nghiên cứu cho thấy trầm cảm, lo âu là
phổ biến ở phụ nữ mang thai, gần một phần tư
70
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
Nghiên cứu Y học
khác tác giả Podvornik N.
có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý họ. Mức độ hỗ
trợ từ chồng và gia đình là yếu tố độc lập với
trầm cảm, lo âu mà nghiên cứu thực hiện tại
nhiều nước trên thế giới của các tác giả Nasreen
Kết quả nghiên cứu cho thấy áp lực giới tính
từ chồng và bố mẹ chồng là những yếu tố làm
tăng tỷ lệ trầm cảm. Mặc dù xã hội ngày càng
phát triển nhưng mong muốn của một số gia
đình người Việt Nam và các nước châu Á nói
chung vẫn xem việc sinh con trai để nói dõi tông
đường quan trọng, nếu sinh không được con trai
sẽ bị mọi người trong gia đình, đặc biệt là gia
đình chồng cảm thấy không vui và gây áp lực
lớn đối với phụ nữ. Mang thai ngoài kế hoạch là
yếu tố độc lập liên quan đến lo âu, kết quả tương
đồng với các nghiên cứu trước đây của tác giả
Nasreen HE (2009), Podvornik N (2011),
HE (2009), Nagandla K (2014) đã tìm thấy(4,5)
.
Mang thai là giai đoạn tâm sinh lý người
phụ nữ có nhiều thay đổi, cảm xúc vui buồn thất
thường, cảm giác lo lắng bồn chồn luôn xuất
hiện, sức khỏe thể chất của họ cũng suy giảm
đáng kể, do đó hỗ trợ tinh thần và công việc nhà
từ chồng và gia đình là rất cần thiết đối với họ.
Việc thiếu hỗ trợ từ chồng và gia đình làm tăng
cảm giác cô đơn, không ai bên cạnh phụ giúp
làm thai phụ có cảm giác tự mình gánh lấy mọi
việc cùng một lúc có thể gây ra trầm cảm.
Nagandla K (2014), Alqahtani AH (2016)(2,3,4,5)
.
Qua khảo sát nhận thấy các thai phụ mang
thai ngoài kế hoạch phần lớn có con trước đó còn
quá nhỏ hoặc đã có hai con trở lên, do đó gánh
nặng kinh tế, chăm sóc dạy dỗ con cái tạo nhiều
áp lực cho họ. Mặt khác cũng có thể do chưa có
sự chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt sức khỏe, tâm
lý, kinh tế mà vô tình có thai có thể làm cho thai
phụ có nhiều lo lắng, bất an dẫn đến lo âu.
Sức khỏe tâm thần ở phụ nữ mang thai tại
Việt Nam chưa được chú trọng. Từ kết quả
nghiên cứu này và số lượng thai phụ thực tế tại
Việt Nam thì ước tính có 1.600.000 phụ nữ mang
thai có khả năng cơ nguy cơ có các dấu hiệu
trầm cảm, lo âu. Do đó, việc sàng lọc phát hiện
sớm giúp điều trị kịp thời để giảm gánh nặng
bệnh tật. Xét về mảng dự phòng, cần sàng lọc và
tầm soát cho các nhóm phụ nữ có nguy cơ cao có
thể có các dấu hiệu trầm cảm, lo âu để giảm kinh
phí thay vì sàng lọc tất cả các phụ nữ mang thai.
Tiền sử rối loạn tâm thần và gia đình có
người rối loạn tâm thần là những yếu tố độc lập
liên quan đến trầm cảm, lo âu. Kết quả tương
đồng với các tác giả Nasreen HE (2009), Van de
Loo KFE (2015) về tiền sử rối loạn tâm thần và
tác giả Jeong HG (2009) về yếu tố gia đình có
người rối loạn tâm thần(4,16,17). Việc trầm cảm có
liên quan đến tính di truyền vẫn đang là câu hỏi
chưa có câu trả lời và bằng chứng rõ ràng. Tuy
nhiên, dựa trên kết quả nghiên cứu này và một
vài nghiên cứu trước, nhận thấy cần sàng lọc và
theo dõi các thai phụ có tiền sử rối loạn tâm thần
hoặc gia đình có người rối loạn tâm thần(4,17). Có
sự tương đồng với nghiên cứu của tác giả Van
de Loo KFE (2015) ở mối liên quan giữa trầm
cảm, lo âu và việc thai phụ trải qua các sự kiện
buồn phiền trong thai kỳ(16).
Nghiên cứu cũng có một số điểm hạn chế
như nghiên cứu cắt ngang nên chỉ phản ánh
được tình trạng trầm cảm, lo âu của thai phụ tại
thời điểm nghiên cứu mà chưa cho biết chính
xác thai phụ có các triệu chứng trầm cảm, lo âu ở
thời điểm nào. Đồng thời cũng chưa thể hiện
mối liên hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan.
Các công cụ sử dụng đã được chuẩn hóa nhưng
chỉ là công cụ sàng lọc, chưa phải là công cụ
chẩn đoán.
Kết quả nghiên cứu có thể không đại diện và
ngoại suy được cho các vùng miền khác, cần
thực hiện các nghiên cứu tại các khu vực khác để
cho ra tỷ lệ chính xác nhất. Mặc dù cỡ mẫu
nghiên cứu lớn nhưng do có nhiều đặc điểm (hai
bệnh viện, ba giai đoạn thai kỳ) nên không thực
hiên các phân tích chuyên sâu như phân tích
phân nhóm, phân tích nhiều tầng.
Qua khảo sát, nhận thấy các thai phụ trải
qua nhiều sự kiện như mất người thân, ly
thân/ly dị, vợ chồng cãi nhau, mất tài sản mất
công việc và những trải nghiệm này hoàn toàn
71
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020
KẾTLUẬN
Nghiên cứu Y học
pregnancy outcomes. Acta Obstetricia et Gynecologica
Scandinavica, 85(3):277-285.
8.
O'Connor TG, Heron J, Golding J, Beveridge M, Glover V (2002).
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trầm cảm
và lo âu là phổ biến ở phụ nữ mang thai (24,0%
trầm cảm và 16,0% lo âu). Các yếu tố độc lập làm
tăng tỷ lệ trầm cảm hoặc lo lắng bao gồm áp lực
do giới tính mong đợi từ chồng, trải qua sự kiện
buồn khi mang thai, mức độ hỗ trợ tinh thần của
chồng thấp, mang thai ngoài ý muốn, tiền sử rối
loạn tâm thần và tiền sử gia đình bị rối loạn tâm
thần. Do đó, các bệnh viện phụ sản tại Việt Nam
cần bổ sung các phòng tư vấn tâm lý cũng như
sàng lọc trầm cảm hoặc lo lắng cho phụ nữ mang
thai ở giai đoạn sớm và theo dõi suốt thai kỳ
cũng như sau sinh, đặc biệt là phụ nữ mang thai
có nguy cơ cao.
Maternal
antenatal
anxiety
and
children's
behavioural/emotional problems at 4 years. Report from the
Avon Longitudinal Study of Parents and Children. British
Journal of Psychiatry, 180:502-508.
9.
10.
11.
12.
Shahhosseini Z, Pourasghar M, Khalilian A, Salehi F (2015). A
Review of the Effects of Anxiety During Pregnancy on
Children's Health. Journal of the Academy of Medical Sciences of
Bosnia and Herzegovina, 27(3):200-202.
Yanikkerem E, Ay S, Mutlu S, Goker A (2013). Antenatal
depression: prevalence and risk factors in a hospital based
Turkish sample. Journal of the Pakistan Medical Association,
63(4):472-477.
Fisher J, Tran T, La BT, Kriitmaa K, Rosenthal D, Tran T (2010).
Common perinatal mental disorders in northern Viet Nam:
community prevalence and health care use. Bulletin of the World
Health Organization, 88(10):737-745.
Fisher J, Tran T, Tran DT, Dwyer T, Nguyen T, Casey GJ, et al
(2013). Prevalence and risk factors for symptoms of common
mental disorders in early and late pregnancy in Vietnamese
women: a prospective population-based study. Journal of
Affective Disorders, 146(2):213-219.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Fisher J, Cabral de MM, Patel V, Rahman A, Tran T, Holton S, et
al (2012). Prevalence and determinants of common perinatal
mental disorders in women in low- and lower-middle-income
countries: a systematic review. Bulletin of the World Health
Organization, 90(2):139-149.
13.
14.
Radloff LS (1977). The CES-D Scale: A self-report depression
scale for research in the general population. Applied Psychological
Measurement, 1(3):385-401.
Thai TT, Jones MK, Harris LM, Heard RC (2016). Screening
value of the Center for epidemiologic studies - depression scale
among people living with HIV/AIDS in Ho Chi Minh City,
Vietnam: a validation study. BMC Psychiatry, 16:145.
Spielberger CD, Gorsuch RL, Lushene R, Vagg PR, Jacobs GA
(1983). Manual for the State-Trait Anxiety Inventory (Form Y1 –
Y2). Consulting Psychologists Press, IV.
2.
3.
Podvornik N, Globevnik VV, Praper P (2015). Depression and
Anxiety in Women During Pregnancy in Slovenia. Slovenian
Journal of Public Health, 54(1):45-50.
15.
16.
Alqahtani AH, Al Khedair K, Al-Jeheiman R, Al-Turki HA, Al
Qahtani NH (2018). Anxiety and depression during pregnancy
in women attending clinics in a University Hospital in Eastern
province of Saudi Arabia: prevalence and associated factors.
International Journal of Women's Health, 23(10):101-108.
Van de Loo KFE, Vlenterie R, Nikkels SJ, Merkus PJFM,
Roukema J, Verhaak CM, et al (2018). Depression and anxiety
during pregnancy: The influence of maternal characteristics.
Birth, 45(4):478-489.
4.
5.
Nasreen HE, Kabir ZN, Forsell Y, Edhborg M (2011). Prevalence
and associated factors of depressive and anxiety symptoms
17.
Jeong HG, Lim JS, Lee MS, Kim SH, Jung IK, Joe SH (2013). The
association of psychosocial factors and obstetric history with
depression in pregnant women: focus on the role of emotional
support. General hospital psychiatry, 35(4):354-358.
during pregnancy:
a population based study in rural
Bangladesh. BMC Women's Health, 11:22.
Nagandla K, Nalliah S, Yin LK, Majeed ZA, Ismail M, Zubaidah
S, et al (2016). Prevalence and associated risk factors of
depression, anxiety and stress in pregnancy. International Journal
of Reproduction Contraception Obstetrics and Gynecology, 5:7.
Kurki T, Hiilesmaa V, Raitasalo R, Mattila H, Ylikorkala O
(2000). Depression and anxiety in early pregnancy and risk for
preeclampsia. Obstetrics and Gynecology, 95(4):487-490.
Ngày nhận bài báo:
12/11/2019
14/11/2019
10/03/2020
6.
7.
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
Ngày bài báo được đăng:
Neggers Y, Goldenberg R, Cliver S, Hauth J (2006). The
relationship between psychosocial profile, health practices, and
72
Bạn đang xem tài liệu "Trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tram_cam_lo_au_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_phu_nu_mang_thai_ta.pdf

