Đa hình đơn nucleotide RS1799796 của gen XRCC3 trong ung thư vú

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
ĐA HÌNH ĐƠN NUCLEOTIDE RS1799796 CỦA GEN XRCC3  
TRONG UNG THƯ VÚ  
Bùi Thị Hương Giang, Nguyễn Quý Linh, Trần Huy Thịnh,  
Phạm Văn Thái, Nguyễn Thanh Bình, Tạ Thành Văn,  
Nguyễn Viết Tiến, Trần Vân Khánh.  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Gen XRCC3 mã hóa protein liên quan đến RAD51, tham gia vào việc tái tổ hợp tương đồng (HRR) cho  
DNA và đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của nhiễm sắc thể và sửa chữa hư hỏng  
DNA. Các đa hình gen XRCC3 có thể làm thay đổi thành phần của protein được mã hóa, và có thể ảnh  
hưởng tới chức năng sửa chữa DNA, từ đó liên quan đến sự tăng hoặc giảm nguy cơ ung thư trong đó có  
ung thư vú. Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu xác định tính đa hình đơn rs1799796 tại intron  
5 của gen XRCC3 ở nhóm bệnh nhân mắc ung thư vú so với nhóm đối chứng. 150 bệnh nhân mắc ung  
thư vú và 150 người phụ nữ khỏe mạnh đã được lựa chọn vào nghiên cứu. Sử dụng kỹ thuật enzym cắt  
giới hạn (RCR-RFLP) để phân tích kiểu gen của XRCC3, sau đó xác định tỉ lệ phân bố và khả năng mắc  
bệnh của các kiểu gen. Kết quả cho thấy tỉ lệ alen A là 0,553 và alen G là 0,447. Tỉ lệ phân bố của các  
kiểu gen AA, AG, GG lần lượt ở nhóm bệnh là 31,3%, 48,0%, 20,7% và ở nhóm chứng là 36,7%, 41,3%,  
22,0%. Các alen và kiểu gen của SNP rs1799796 không có sự khác biệt ở nhóm bệnh và nhóm chứng.  
Từ khóa: Ung thư vú, đa hình đơn A17893G, rs1799796, gen XRCC3  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ung thư vú (UTV) là bệnh lý ác tính phổ biến  
hàng đầu ở phụ nữ trong cả hai khu vực các  
nước phát triển và đang phát triển, phổ biến thứ  
2 trên thế giới sau ung thư phổi với 2,08 triệu ca  
UTV mới được chẩn đoán (chiếm 25 % tổng số  
ung thư) tính tới năm 2018. Ở Việt Nam, tính  
tới năm 2018, số ca mắc ung thư vú trên cả  
nước là 15229 với 6103 ca tử vong [1].  
năng sửa chữa DNA thấp hơn ở bệnh nhân  
ung thư vú [2][3]. Sự tái tổ hợp tương đồng  
(Homologous recombination - HR) được coi  
như là cơ chế chính cho việc sửa chữa sự đứt  
gãy sợi đôi DNA – DSB (double-strand break).  
Hoạt động trung tâm của HR được tạo ra bởi  
protein RAD51 [4]. Gen XRCC3 (X-Ray Repair  
Cross-Complementing group 3) của người có  
vị trí 14q32.3 (cánh dài NST 14, vùng 3, băng  
2, băng phụ 3), gồm 17.876 cặp base và có 10  
exon mã hóa protein XRCC3 là một thành viên  
của họ protein RAD51 [5]. Một số đa hình đơn  
nucleotid (SNP) đã được xác định ở gen này,  
trong đó, SNP rs1799796 tại vị trí intron 5 đã  
được nhiều nghiên cứu trên thế giới phân tích  
về vai trò với bệnh lý ung thư vú. Kết quả của  
những báo cáo này còn tồn tại mâu thuẫn. Một  
Cơ chế chính xác của ung thư vú vẫn chưa  
được hiểu rõ nhưng một số nghiên cứu trên  
thế giới đã chứng minh có mối liên hệ chặt chẽ  
giữa mức độ tổn thương DNA cao hơn và khả  
Tác giả liên hệ: Trần Vân Khánh,  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 16/07/2019  
Ngày được chấp nhận: 12/08/2019  
TCNCYH 122 (6) - 2019  
1
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
số nghiên cứu cho thấy sự liên quan giữa SNP  
rs1799796 có ý nghĩa thống kê. Mặt khác, một  
số nghiên cứu lại cho biết không có mối liên  
quan nào giữa SNP rs1799796 và nguy cơ mắc  
bệnh.  
5’-GACACCTCTACAGAGGACG-3’  
Mồingược:  
3’-CTGTGCCTAACCATCGAGAA-5’  
Thành phần phản ứng PCR (thể tích 10 µl)  
gồm: 1,4 µl H2O, 5,0 µl Tag polymerase, 0,3 µl  
mồi xuôi, 0,3 µl mồi ngược và 3,0 µl DNA.  
Chu trình nhiệt của phản ứng: [94ºC/30 giây,  
56ºC/30 giây, 72ºC/30 giây] 35 chu kỳ.  
Xác định SNP rs1799796 của gen XRCC3  
bằng kỹ thuật enzym cắt giới hạn:  
Hiện nay tại Việt Nam, đa hình đơn  
nucleotide của gen XRCC3 trên bệnh nhân ung  
thư vú vẫn đang là vấn đề bỏ ngỏ, do đó đề tài  
được thực hiện với mục tiêu: Xác định tỷ lệ đa  
hình đơn nucleotid rs1799796 của gen XRCC3  
trên bệnh nhân ung thư vú và nhóm người bình  
thường tại Việt Nam.  
Thành phần của phản ứng: 0,3 µl enzym  
Pvu II, 1 µl buffer NE 3.1, 1,7 µl H2O và 7 µl  
sản phẩm PCR. Phản ứng cắt được ủ ở 37ºC  
trong khoảng 12 giờ, sau đó điện di trên gel  
agarose 1,5% với điện thế 80V trong 60 phút  
và chụp ảnh bằng hệ thống máy EC3 Imaging  
System. Khi enzym cắt đoạn gen sẽ tạo ra các  
đoạn DNA có kích thước 650 bp (kiểu gen GG);  
283 bp và 367 bp (kiểu gen AA); 280 bp, 367 bp  
và 650 bp (kiểu gen AG).  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
- Nhóm bệnh: 150 bệnh nhân mắc ung thư  
vú điều trị tại Bệnh viện K Trung Ương cơ sở  
Tân Triều. Các bệnh nhân đã được thăm khám  
lâm sàng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng và  
giải phẫu bệnh để chẩn đoán xác định ung thư  
vú.  
3. Phân tích số liệu  
- Nhóm chứng: 150 phụ nữ không mắc ung  
thư vú hoặc ung thư nào khác đến khám sức  
khỏe định kì hoặc vì bệnh lành tính tại bệnh  
viện Phụ Sản Trung Ương.  
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích  
số liệu. Kiểm định Χ2 để so sánh tỉ lệ kiểu gen  
của nhóm bệnh và nhóm chứng. Để ước tính  
mối liên quan giữa các kiểu gen và khả năng  
mắc ung thư vú dùng tỉ suất OR với khoảng tin  
cậy 95%. Các kiểm định ý nghĩa khi p < 0,05.  
Các đối tượng thuộc nhóm bệnh và nhóm  
chứng được lấy 2ml máu chống đông bằng  
EDTA.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
2. Phương pháp  
Đề tài đã được Hội đồng Đạo đức của  
trường Đại Học Y Hà Nội chấp thuận theo quyết  
định số 107/HĐĐĐĐHYHN. Bệnh nhân hoàn  
toàn tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Bệnh  
nhân có quyền rút lui khỏi nghiên cứu khi không  
đồng ý tiếp tục tham gia vào nghiên cứu. Các  
thông tin cá nhân được bảo mật.  
- Tách chiết DNA: DNA tổng số được tách  
chiết từ mẫu máu theo kit PROMEGA  
-
Kỹ thuật PCR-RFLP (PCR-Restrict  
Fragment Length Polymophism)  
Vùng gen chứa SNP rs1799796 của gen  
XRCC3 được khuếch đại bằng cách sử dụng  
cặp mồi:  
Mồi xuôi:  
2
TCNCYH 122 (6) - 2019  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
III. KẾT QUẢ  
1.Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu  
Nhóm bệnh  
(n = 150)  
Nhóm chứng  
(n = 150)  
Đặc điểm  
p
n
%
n
%
≤ 39  
22  
14,7  
32,7  
30,7  
22,0  
29  
19,3  
33,3  
29,3  
18,0  
40 – 49  
49  
50  
Tuổi  
0,656  
50- 59  
≥ 60  
46  
44  
33  
27  
Tuổi trung bình  
49,53 ± 0,83  
49,9 ± 11,6  
0,48  
Mãn kinh  
Còn kinh  
≤ 19  
86  
64  
1
57,3  
42,7  
0,67  
80,7  
17,3  
1,3  
90  
60  
3
60,0  
40,0  
2,0  
Tình trạng  
kinh nguyệt  
0,639  
20 – 29  
≥ 30  
121  
26  
2
115  
26  
6
76,7  
17,3  
4,0  
Tuổi sinh con  
lần đầu  
0,369  
Chưa có con  
Khi so sánh các tiêu chí về tuổi và tình trạng kinh nguyệt cho thấy nhóm bệnh và nhóm chứng  
tương đồng nhau với p > 0,05. Ở những bệnh nhân ung thư vú, nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là  
nhóm tuổi từ 40 đến 49 tuổi chiếm 32,7% và ít nhất là nhóm tuổi ≤ 39 tuổi chiếm 14,7%. Tuổi trung  
bình mắc bệnh là 49,53 tuổi. Tuổi sinh con lần đầu trong nhóm bệnh chiếm tỉ lệ nhiều nhất là từ 20 -  
29 tuổi (80,7%), hiếm thấy bệnh nhân ung thư vú sinh con lần đầu dưới 19 tuổi (chiếm 1%).  
Tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh đã mãn kinh chiếm 57,3%, nhiều hơn so với những bệnh nhân còn  
kinh (chiếm 42,7%).  
2. Mối liên quan giữa SNP rs1799796 với một số yếu tố trong bệnh ung thư vú  
Đoạn gen XRCC3 chứa SNP rs1799796 ở nhóm bệnh nhân ung thư vú sau khi PCR, sản phẩm  
đã được điện di và soi bản gel dưới tia UV kiểm tra cho hình ảnh rõ ràng, sắc nét, không xuất hiện  
vạch phụ. Băng điện di có kích thước phù hợp với kích thước của đoạn gen đã PCR là 650 bp.  
Các đoạn gen này sau khi khuếch đại (PCR) được cắt bằng enzym PvuII.  
TCNCYH 122 (6) - 2019  
3
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Hình 1. Hình ảnh điện di sản phẩm cắt đoạn gen XRCC3 bằng enzym PvuII mẫu bệnh nhân  
ung thư vú  
M: Marker 100 bp; AA: mẫu chứng mang kiểu gen AA; GG: mẫu chứng mang kiểu gen GG; kiểu  
gen AA (V138, V142, 146, 178, 184); kiểu gen AG (V139, V145, V179); kiểu gen GG (V177).  
Sản phẩm của đoạn gen XRCC3 sau khi cắt bằng enzym cho thấy các băng rõ nét, phân tách  
rõ ràng, kích thước của băng điện di phù hợp với đoạn gen bị cắt với các độ dài là 283 bp, 367 bp,  
650 bp.  
Kết quả giải trình tự kiểm tra độ đặc hiệu của sản phẩm PCR  
Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên sản phẩm PCR đại diện của của các kiểu gen AA, AG, GG khi  
phân tích bằng kỹ thuật PCR-RFLP để kiểm tra lại bằng phương pháp giải trình tự. Kết quả kiểm tra  
được chỉ ra ở hình 2.  
Hình 2. Kết quả giải trình tự sản phẩm PCR đoạn gen XRCC3 chứa SNP rs1799796 của các  
bệnh nhân mang kiểu gen AA, AG, GG  
Kết quả giải trình tự thu được trùng khớp với kết quả xác định kiểu gen bằng phương pháp PCR-  
RFLP.  
Bảng 2. Tỉ lệ kiểu gen và kiểu alen của SNP rs1799796 trong nhóm bệnh và nhóm chứng  
Nhóm bệnh  
Nhóm chứng  
Kiểu alen và kiểu gen  
p
n
%
n
%
A
166  
134  
55,3  
44,7  
172  
128  
57,3  
42,7  
Kiểu alen  
G
p = 0,34  
4
TCNCYH 122 (6) - 2019  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Nhóm bệnh  
Nhóm chứng  
p
Kiểu alen và kiểu gen  
n
%
n
%
AA  
47  
72  
31  
31,3  
48  
55  
62  
33  
36,7  
41,3  
22  
Kiểu gen  
AG  
GG  
p = 0,488  
20,7  
Tỷ lệ alen G thu được ở nhóm bệnh là 0,447 và ở nhóm chứng là 0,427.  
Ở nhóm bệnh, tỉ lệ kiểu gen AG chiếm nhiều nhất là 48,0%. Tỉ lệ kiểu gen AA thấp hơn là 31,3%.  
Tỉ lệ kiểu gen GG thấp nhất chỉ chiếm 20,7%. Ở nhóm chứng, tỉ lệ kiểu gen cũng tương tự với tỉ lệ  
gen AG, AA và GG lần lượt là: 41,3, 36,7% và 22,0%. Không có sự khác biệt về sự phân bố kiểu alen  
và kiểu gen ở 2 nhóm bệnh và chứng.  
Bảng 3. Nguy cơ mắc bệnh của các cặp kiểu gen SNP rs1799796 ở nhóm nghiên cứu  
Nhóm bệnh  
Nhóm chứng  
Các cặp kiểu gen  
OR (95%CI)  
p
n
31  
47  
72  
47  
103  
47  
31  
119  
72  
78  
%
n
33  
55  
62  
55  
95  
55  
33  
117  
62  
88  
%
GG  
20,8  
31,3  
48,0  
31,3  
68,7  
31,3  
20,8  
79,2  
48  
22,0  
36,7  
41,3  
36,7  
63,3  
36,7  
22,0  
78,0  
41,3  
58,7  
GG với AA  
AG với AA  
1,09 (0,59 - 2,06) 0,767  
1,36 (0,81 - 2,28) 0,244  
1,27 (0,78 - 2,05) 0,329  
0,92 (0,53 - 1,61) 0,778  
1,31 (0,83 - 2,07) 0,246  
AA  
AG  
AA  
GG + AG  
AA  
GG + AG  
với AA  
GG  
GG với  
AG + AA  
AG + AA  
AG  
AG với  
GG + AA  
GG + AA  
52  
Khi so sánh khả năng mắc bệnh của các kiểu gen chứa alen G với các kiểu gen còn lại cho thấy:  
không thấy có mối liên quan với khả năng mắc bệnh ung thư vú.  
IV. BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu này, độ tuổi của các bệnh  
nhân thuộc nhóm bệnh dao động từ 23 đến 70  
tuổi, hay gặp nhất là bệnh nhân thuộc nhóm  
khoảng 40 - 59 tuổi, ít gặp nhất là nhóm bệnh  
nhân ≤ 39 tuổi. Sự phân bố về nhóm tuổi này  
cũng tương đồng với một số nghiên cứu của  
các tác giả khác tại Việt Nam như: Theo tác giả  
Nguyễn H.Lan thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú cao  
nhất cũng ở nhóm 40 - 59 tuổi (chiếm tổng số  
69,3%) [6]. Nghiên cứu này cũng phù hợp với  
TCNCYH 122 (6) - 2019  
5
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
tác giả Nguyễn Tuấn Hưng(2008) [7] .  
có vai trò làm giảm nguy cơ mắc bệnh.Theo  
Bettina Kuschel (2002) nghiên cứu trên 2205  
ca bệnh và 1806 phụ nữ Anh khỏe mạnh, so  
sánh tỉ lệ AG/AA và GG/AA cho kết quả OR=  
0,8 ; 95% CI lần lượt là 0,6 – 1,0 và 0,7 -0,9 ;  
p = 0,008, hoặc theo Shizhong Han 2006 phân  
tích gộp trên 12518 ca bệnh và 19 526 chứng  
từ 7 nghiên cứu (11 so sánh), kết quả cho thấy  
những người có kiểu gen biến thể (G / G + A  
/ G) có nguy cơ ung thư giảm đáng kể so với  
những người có kiểu gen A / A theo mô hình di  
truyền trội (OR, 0,92; P = 0,0004; KTC 95%) ,  
0,87 – 0,96) [13; 14].  
Về tình trạng kinh nguyệt của nhóm bệnh  
nhân tham gia nghiên cứu, kết quả thu được  
cho thấy tỉ lệ gặp bệnh nhân ung thư vú trong  
nhóm mãn kinh cao hơn nhóm còn kinh. Kết  
quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng phù  
hợp với nghiên cứu của các tác giả tại Việt Nam  
như Nguyễn Bá Đức (2003) [8].  
Sau khi xác định được kiểu gen của SNP  
rs1799796 bằng phương pháp PCR-RFLP và  
kiểm tra lại bằng kỹ thuật giải trình tự, các số  
liệu sẽ được phân tích với phép kiếm định Χ2  
và đo OR với độ tin cậy 95%. Tỉ lệ alen G theo  
nghiên cứu này trên nhóm chứng là 0,427 và  
nhóm bệnh là 0,447. Ở Việt Nam, nghiên cứu  
của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của  
tác giả Nguyễn Hải Phương về tỉ lệ alen G trên  
nhóm bệnh nhân ung thư buồng trứng với tỉ lệ  
alen G trên nhóm chứng là 0,42 và nhóm bệnh  
là 0,39 [9]. Cùng nghiên cứu trên bệnh nhân  
ung thư vú, ở châu Á, tại Đài Loan tỉ lệ alen G  
của SNP rs1799796 ở nhóm chứng là 0,30 và  
nhóm bệnh là 0,29; còn trên chủng tộc người Ả  
rập Saudi, theo Alaa Mohammed Ali (2015) thì  
tỉ lệ này là 0.4 ở nhóm chứng và 0.39 ở nhóm  
bệnh [9; 10]. Như vậy ở các chủng tộc khác  
nhau, tỉ lệ SNP là không giống nhau.  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu đã xác định được đa hình đơn  
nucleotid rs1799796 của gen XRCC3 ở 2 nhóm  
bệnh nhân ung thư vú và nhóm chứng. Các  
phân tích dữ liệu cho thấy không có sự khác  
biệt về sự phân bố kiểu alen và kiểu gen ở 2  
nhóm bệnh và chứng, đồng thời không có mối  
liên quan giữa đa hình đơn nucleotid rs1799796  
và nguy cơ mắc ung thư vú.  
Lời cảm ơn  
Đề tài được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí  
của đề tài cấp Bộ Y tế “Nghiên cứu xây dựng  
quy trình xác định đột biến và đa hình thái đơn  
nucleotid trên một số gen liên quan đến ung thư  
vú và ung thư buồng trứng”. Nhóm nghiên cứu  
trân trọng cảm ơn Bệnh viện Phụ Sản Trung  
ương; Bệnh viện K- cơ sở Tân Triều, Bộ môn  
Hóa Sinh, Trung tâm Nghiên cứu Gen – Protein,  
Trường Đại học Y Hà Nội.  
Khi tiến hành kiểm định mối liên quan giữa  
3 kiểu gen AA, AG và GG, kết quả thu được là  
3 kiểu gen này không có sự khác biệt giữa 2  
nhóm bệnh và nhóm chứng. Phân tích sâu hơn  
các dữ liệu để so sánh khả năng mắc bệnh của  
các kiểu gen chứa alen G và các kiểu gen còn  
lại, chúng tôi cũng không ghi nhận được mối  
liên quan có ý nghĩa thống kê với khoảng 95%  
CI chứa 1. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp  
với một số nghiên cứu của các tác giả trên thế  
giới [11; 12]. Tuy nhiên, một vài tác giả khác  
cũng nghiên cứu SNP rs1799796 trên bệnh  
nhân ung thư vú lại đưa ra dẫn chứng chứng  
minh SNP này có liên quan và SNP rs1799796  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. IARC (2012). Cancer Fact Sheets:  
Breast cancer.  
2. Liu N, Lamerdin JE, Tebbs RS,  
Schild D, Tucker JD, Shen MR, et al. (1998)  
XRCC2 and XRCC3, new human Rad51-family  
members, promote chromosome stability and  
6
TCNCYH 122 (6) - 2019  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
protect against DNA cross-links and other  
damages. Mol Cell 1, 783 – 7933  
9. NguyễnHảiPhương, TrầnHuyThịnh,  
Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn, Nguyễn Viết  
Tiến (2018). Đa hình đơn nucleotide A17893G  
của gen XRCC3 trong ung thư buồng trứng.  
Tạp chí nghiên cứu y học, 115 (6), 53 - 59.  
10. Su C.H., Chang W.S., Hu P.S. et al  
(2015). Contribution of DNA Double-strand  
Break Repair Gene XRCC3 Genotypes to  
Triple-negative Breast Cancer Risk. Cancer  
Genomics and Proteomics, 12 (6), 359 - 367.  
11. Alaa M.A., Huda A.K., Mohammad  
A.A et al (2015). Polymorphisms in DNA Repair  
Gene XRCC3 and Susceptibility to Breast  
Cancer in Saudi Females. BioMed Research  
International, 2016 (2016).  
3. Jyothish B, Ankathil R, Chandini R,  
et al (1998) DNA repair proficiency: a potential  
marker for identification of high risk members in  
breastcancerfamilies. CancerLetters. 124(1):9-  
13. doi:10.1016/S0304-3835(97)00419-9.  
4. Mimitou E.P., Symington L.S.  
(2009) Nucleases and helicases take center  
stage in homologous recombination. Trends  
in Biochemical Sciences. 34(5):264-272.  
doi:10.1016/j.tibs.2009.01.010.  
5. Tebbs R.S., Zhao Y., Tucker J.D.,  
et al. (1995) Correction of chromosomal  
instability and sensitivity to diverse mutagens  
by a cloned cDNA of the XRCC3 DNA repair  
gene. Proceedings of the National Academy  
of Sciences, 92(14):6354-6358. doi:10.1073/  
pnas.92.14.6354  
12. Han J., Hankinson S.E., Ranu H.,  
DeVivo I., and Hunter D.J., Polymorphisms  
in DNA double-strand break repair genes  
and breast cancer risk in the Nurses’ Health  
study,Carcinogenesis, 25(2), 189–195, 2004.  
13. Kuschel B., Auranen A., McBride  
S. et al. (2002), Variants in DNA double-  
strand break repair genes and breast cancer  
susceptibility, Search Results Human Molecular  
Genetics, 11(12), 1399 – 1407.  
6. Lan N, Laohasiriwong W, Stewart  
J. Survival probability and prognostic factors  
for breast cancer patients in Vietnam. Global  
Health Action. 2013;6(1):18860. doi:10.3402/  
gha.v6i0.18860.  
7. Nguyễn Tuấn Hưng (2012). Một số  
đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư vú đến  
khám tại bệnh viện K từ năm 2005- 2008. Tạp  
chí y học Thực Hành, 817 (4), 44 – 46.  
14. Han S., Zhang H.-T., Wang Z.et  
al. (2006.), DNA repair gene XRCC3  
polymorphisms and cancer risk: a meta-analysis  
of 48 case control studies, European Journal of  
Human Genetics, 14(10), 1136 – 1144,  
8. Nguyễn Bá Đức. Bệnh học ung thư  
vú, Nhà xuất bản Y học năm 2003. 76 - 88.  
Summary  
RELATIONBETWEENXRCC3GENEPOLYMORPHISMRS1799796  
AND BREAST CANCER RISK  
The gene XRCC3 that encodes proteins related to RAD51, is involved in homologous  
recombination (HRR) for DNA and therefore plays an important role in maintaining chromosomal  
stability and repairing DNA damage. XRCC3 gene polymorphisms can alter the composition of  
encoded proteins, and may affect DNA repair function, thereby related to an increase or decrease  
in cancer risk including breast cancer. This study was conducted with the aim of determining the  
polymorphism of rs1799796 in intron 5 of the XRCC3 gene in the group of patients with breast  
TCNCYH 122 (6) - 2019  
7
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
cancer compared to the control group. 150 patients with breast cancer and 150 healthy women were  
selected for the study. Using polymerase chain reaction-restriction fragment length polymorphism  
(RCR-RFLP) to analyze genotypes of XRCC3, we determined the distribution rate and susceptibility  
of genotypes. The frequency of allele A is 0.553 and allele G is 0.447. In the study group, the  
distribution of genotype AA, AG, GG are AA, AG, GG genotypes were 31.3%, 48.0%, 20.7% and in  
the control group, the distribution of genotype AA, AG, GG are 36.7%, 41.3%, 22.0%. Data analysis  
showed no relation between single nucleotide polymorphism rs1799796 and risk of breast cancer.  
Keywords: Breast cancer, SNP A17893G, rs1799796, XRCC3 gene.  
8
TCNCYH 122 (6) - 2019  
pdf 8 trang yennguyen 18420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đa hình đơn nucleotide RS1799796 của gen XRCC3 trong ung thư vú", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfda_hinh_don_nucleotide_rs1799796_cua_gen_xrcc3_trong_ung_thu.pdf