Nghiên cứu bào chế hệ vi tự nhũ hóa chứa Diclofenac

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ HỆ VI TỰ NHŨ HÓA CHỨA DICLOFENAC  
Nguyễn Mạnh Huy1, Trần Thị Bích Hiền1, Nguyễn Đăng Thoại1  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Khảo sát lựa chọn được công thức bào chế hệ vi tự nhũ hóa chứa diclofenac  
(DIC) ổn định, khả năng hòa tan tốt DIC. Đối tượng và phương pháp: Khảo sát độ tan của  
DIC trong các tá dược có khả năng tạo hệ vi tự nhũ. Xây dựng giản đồ pha từ các tá dược tiềm  
năng chọn lựa bằng phương pháp pha loãng với nước và đánh giá cảm quan vi nhũ tương tạo  
thành. Khảo sát khả năng tải DIC của các giá mang SMEDDS (DIC-SMEDDS) với tỷ lệ tải  
5,0% - 10,0% - 12,5% (kl/kl) và đánh giá các tính chất cơ lý hóa về cảm quan, độ bền, thế zeta,  
kích thước giọt và độ bền trong 3 môi trường pH 1,2, pH 4,5 và pH 6,8. Hàm lượng DIC trong  
các thử nghiệm được định lượng bằng quang phổ UV-Vis ở bước sóng 261 nm. Kết quả: Xây  
dựng được công thức và quy trình điều chế DIC-SMEDDS quy mô 100g đạt các chỉ tiêu đánh  
giá gồm Capryol 90 - Labrasol: Cremophor EL (1:1) - Transcutol HP: Benzyl alcohol (1:1) với tỷ  
lệ các pha là 20:35:45 (CT307) tải được DIC với tỷ lệ 10,0%, đạt được các yêu cầu về tính chất  
lý hóa (kích thước giọt trung bình và thế zeta lần lượt là 43,12 nm và -29,3 mV; đạt độ bền  
trong 3 môi trường pH khảo sát). Quy trình định lượng DIC bằng quang phổ UV-Vis tại bước  
sóng 261 nm đạt yêu cầu quy trình phân tích. Kết luận: DIC-SMEDDS đã được xây dựng và  
bào chế thành công ở quy mô 100g. Hệ đạt các chỉ tiêu cơ lý hóa theo yêu cầu SMEDDS, có độ  
hòa tan cao. Đây là một giải pháp tiềm năng giúp cải thiện độ tan, độ bền đồng thời nâng cao  
sinh khả dụng đường uống cho DIC cũng như để thiết kế dạng bào chế mới cho các hoạt chất  
có khả năng hòa tan trong nước kém hoặc thuốc thuộc nhóm II (BCS).  
* Từ khóa: Hệ vi tự nhũ hóa (SMEDDS); Diclofenac; Độ hòa tan cao; Sinh khả dụng.  
Preparation and Formulation of Self-Microemulsifying Drug  
Delivery System (SMEDDS) Containing Diclofenac  
Summary  
Objectives: To improve the solubility and bioavailability, SMEDDS with many outstanding  
advantages were chosen for this study with the aim of preparing the formula of SMEDDS  
containing DIC, which is durable, stable, and high-dissolution. Subjects and methods: Solubility  
of DIC were investigated in several excipients capable of creating SMEDDS. Phase diagrams  
were constructed from selected potential excipients by the water dilution method and  
appearance evaluation. The DIC-loaded SMEDDS (DIC-SMEDDS) with a ratio of 5.0-10.0-  
12.5% (w/w) were investigated and evaluated the appearance, stability, zeta potential,  
droplet size, and stability profiles in 3 different pH buffer media (pH 1.2, pH 4.5, and pH 6.8).  
1Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch  
Người phản hồi: Nguyễn Đăng Thoại ([email protected])  
Ngày nhận bài: 11/5/2021  
Ngày bài báo được đăng: 28/5/2021  
5
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
The most stable DIC-SMEDDS having high drug loading was reprepared. UV method at 261 nm  
was used for the determination of DIC in the experiments. Results: The preparation process of  
DIC-SMEDDS on a scale of 100g, including Capryol 90 - Labrasol: Cremophor EL (1:1) -  
Transcutol HP: Benzyl alcohol (1:1) in the ratio of 20:35:45 (CT307) loaded 10.0% of DIC was  
successfully prepared. This formula met the criteria of physical and chemical SMEDDS  
properties with average droplet size and zeta potential of 43.12 nm and -29.3 mV, respectively.  
DIC-SMEDDS showed the stability of DIC in 3 different pH media The UV method at 261 nm for  
determination of DIC in the experiments met the requirements of an analytical procedure.  
Conclusion: The DIC-SMEDDS was successfully formulated on a scale of 100g, met the  
SMEDDS physico-chemical properties, had high dissolution. SMEDDS could be a potential  
solution to improve solubility, durability, and oral bioavailability for DIC as well as to design a  
new dosage form for the active substances with poor water solubility as a BCS class II agent.  
* Keywords: SMEDDS; Diclofenac; High dissolution; Bioavaiability.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
dược chất [3]. SMEDDS bao gồm hỗn  
hợp đẳng hướng của pha dầu, chất diện  
hoạt/đồng diện hoạt và t ự t ạo thành vi  
nhũ tương khi pha loãng trong nước [4].  
Liều điều trị của DIC là 25 - 100 mg, do  
vậy nghiên cứu này khảo sát lượng tải  
DIC trong khoảng từ 25 - 50 mg để phát  
triển hệ thống phân phối thuốc tự nhũ hóa  
của DIC. Mục tiêu: Khảo sát một số hệ tá  
dược có khả năng tự nhũ hóa tạo vi nhũ  
tương DIC để ứng dụng vào các dạng  
bào chế.  
Diclofenac (DIC) là dược chất thuộc  
nhóm kháng viêm không steroid (NSAID),  
nhóm dẫn xuất acid phenylacetic, có tác  
dụng chống viêm, giảm đau và giảm sốt  
nhanh, được sử dụng trong điều trị viêm  
khớp mạn tính, viêm khớp do gút, giảm  
đau sau phẫu thuật và viêm đa khớp [1].  
Tuy nhiên, hiệu quả điều trị c ủa DIC bị  
hạn chế do khả năng hòa tan trong nước  
kém (0,012 mg/ml) dẫn đến khả n ăng  
hấp thu qua đường uống thấp. DIC có  
giá trị logP là 4,51 [2] và thuộc nhóm II  
theo hệ thống phân loại sinh dược học  
(Biopharmaceutical Classification Sysytem -  
BCS). Việc nghiên cứu cải thiện độ tan,  
cải thiện sinh khả dụng của DIC được các  
nhà bào chế hiện nay rất quan tâm.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
1. Nguyên vật liệu - trang thiết bị  
* Nguyên vật liệu: Diclofenac (Trung Quốc,  
TCCS), cremophor EL, labrasol, maisine CC,  
labrafac PG, labrafil M1944CS, transcutol  
HP, acrysol EL-135, peceol, plurol oleic  
CC497, lauroglycol 90, capryol 90 (Pháp,  
TCCS), benzyl alcohol, tween 80, kali  
dihydrophosphat, natri hydroxid, acid  
hydrocloric, methanol (Trung Quốc, TCCS),  
florite R (Nhật, TCCS), syloid FP 244 (Mỹ,  
TCCS). Các tá dược, dung môi, hóa chất  
cần thiết khác cho thí nghiệm đạt tiêu  
chuẩn dược dụng hay phân tích.  
Trong số các phương pháp cải thiện  
độ tan, hệ vi tự nhũ (Self Microemulsifying  
Drug Delivery Systems - SMEDDS) có  
nhiều ưu điểm như thành phần và  
phương pháp bào chế đơn giản, dễ nâng  
cấp quy mô, áp dụng cho cả dược chất  
thuộc nhóm II, nhóm IV theo BCS. Đây  
cũng là xu hướng của thế giới hiện nay  
trong việc nghiên cứu cải thiện độ tan các  
6
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
* Trang thiết bị: Cân kỹ thuật (Sartorius 0,45 µm, pha loãng bằng methanol đến  
TE412 - Đức), cân phân tích (Kern ABS nồng độ thích hợp. Xác định nồng độ DIC  
220-4 - Đức), máy đo kích thước nano và bằng phương pháp đo độ hấp thu ở bước  
thế zeta (Zetasizer Nano S90 - Anh), máy sóng 261 nm. Từ k ết quả thu được, độ  
ly tâm (Eppendorf Minispin - Đức), máy tan của DIC trong các tá dược được xác  
đo quang phổ UV-Vis (Shimadzu UV- định [5].  
1601PC - Nhật Bản), máy thử độ hòa tan  
(Erweka - Đức), máy khuấy từ gia nhiệt (2  
mag MIX 6 - Đứ c), bể đun cách thủy có  
bộ phận lắc, bể siêu âm, máy Vortex, tủ  
đông, tủ lạnh, tủ ủ ấm và một số dụng cụ  
thủy tinh.  
- Xây dựng giản đồ pha:  
Giản đồ pha được thiết lập để xác định  
các vùng có khả năng điều chế giá mang  
SMEDDS. Giản đồ pha được xây dựng  
theo phương pháp pha loãng. Dựa trên  
độ tan của DIC trong pha dầu, chất diện  
hoạt, chất đồng diện hoạt, các tá dược  
tiềm năng được dùng để thiết lập công  
thức (CT) giá mang SMEDDS, tỷ lệ pha  
dầu dao động từ 15 - 30%, chất diện hoạt  
từ 30 - 50%, chất đồng diện hoạt từ  
20 - 55%.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
* Xây dựng công thức và quy trình bào  
chế SMEDDS chứa DIC (DIC-SMEDDS):  
- Khảo sát độ tan của DIC trong một số  
tá dược:  
Độ tan của DIC trong các pha dầu,  
chất diện hoạt và chất đồng diện hoạt có  
khả năng tạo hệ vi tự nhũ được khảo sát  
bằng phương pháp quá bão hòa.  
Cân từng thành phần pha dầu, chất  
diện hoạt, chất đồng diện hoạt theo mỗi  
CT cho vào eppendorf 2 ml. Lắc hỗn hợp  
đến khi đạt sự đồng nhất và để tại nhiệt  
độ phòng trong 24 giờ. Sau đó, pha loãng  
hệ 100 lần với nước cất và đánh giá cảm  
quan (bảng 1) [3]. Chọn các h ệ tá dược  
tạo hỗn hợp trong suốt hoặc trong mờ  
trong vùng hình thành vi nhũ tương trên  
Lấy một lượng dư DIC cho vào  
eppendorf loại 2 ml có ch ứa sẵn 1 ml  
từng loại tá dược. Hỗn hợp thu được đem  
lắc trong 1 phút, siêu âm trong 10 phút,  
để ổn định tại nhiệt độ phòng trong vòng  
24 giờ. Dịch thu được đem ly tâm 5.000 giản đồ pha. Các hệ này được khảo sát  
khả năng tải DIC trong thử nghiệm tiếp theo.  
vòng/phút trong 10 phút, lọc qua màng lọc  
Bảng 1: Phân loại khả năng tự nhũ của hệ SMEDDS.  
Nhóm  
Tính chất nhũ tương hình thành*  
(*) Hệ SMEDDS nếu đạt mức I hoặc II  
I
Hình thành nhũ tương nhanh trong vòng 1 phút, nhũ tương trong suốt hoặc ánh xanh  
Hình thành nhũ tương nhanh trong vòng 2 phút, nhũ tương trong suốt hoặc ánh xanh  
Hình thành nhũ tương chậm trong vòng 3 phút và tạo thành một chất lỏng trắng sữa  
Hình thành nhũ tương chậm hơn 3 phút và xuất hiện vài giọt dầu  
II  
III  
IV  
V
Khó hình thành nhũ tương, xuất hiện giọt dầu  
Nguồn: “Bioavailability Enhancement of Poorly Soluble Drugs By Smedds: A Review”  
Jaiswal P. and Aggarwal G. (2017) [3].  
7
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
Pha loãng các DIC-SMEDDS 100 lần  
với nước cất, tiến hành các thử nghiệm  
sau:  
- Khảo sát khả n ăng tải của hệ  
SMEDDS nền đã được thiết lập:  
Đối với mỗi hệ dược chất được chọn,  
các hệ giá mang SMEDDS được khảo sát  
tỷ lệ tải DIC với 3 m ức lần lượt là 5,0%,  
10,0% và 12,5% (kl/kl).  
- Ly tâm: Vi nh ũ tương hình thành từ  
pha loãng 100 lần trong nước cất các  
DIC-SMEDDS được đem đi ly tâm với tốc  
độ 10.000 vòng/phút trong thời gian 15  
Cân chính xác 0,5g hỗn hợp từng CT  
tá dược của giá mang SMEDDS cho vào  
eppendorf 2 ml rồi lắc trong 1 phút và siêu  
âm trong 10 phút đến khi đồng nhất. Cân  
chính xác lượng DIC theo tỷ lệ được chọn  
cho tiếp vào, lắc trong 1 phút và siêu âm  
trong 10 phút, rồi để t ại nhiệt độ phòng  
trong 24 giờ. Ly tâm tốc độ 5.000  
vòng/phút trong 10 phút. Các CT kết tủa  
bị loại bỏ. Các CT đạt yêu cầu được pha  
loãng 100 lần bằng nước cất, quan sát  
các CT sau 2, 4, 8 giờ và đánh giá cảm  
quan để xác định các CT đạt yêu cầu. Tỷ  
lệ t ải phù hợp được chọn cho các thử  
nghiệm tiếp theo.  
phút. Hệ đạt yêu cầu khi không xảy ra s  
ự
kết tủa, kết bông hay hiện tượng tách lớp.  
- Chu kỳ đông - rã đông: Thực hiện với  
6 chu kỳ, thời gian mỗi chu kỳ là 12 giờ (6  
giờ để đông và 6 giờ rã đông). Hệ đạt yêu  
cầu khi không xảy ra sự kết tủa, kết bông  
hay tách lớp.  
- Chu kỳ nhiệt độ nóng - lạnh: Thực  
hiện với 6 chu kỳ, thời gian mỗi chu kỳ là  
12 giờ (6 giờ tại nhiệt độ 40C và 6 gi ờ để  
tại nhiệt độ phòng). Hệ đạt yêu cầu khi  
không xảy ra s ự k ết tủa, kết bông hay  
tách lớp.  
- Xác định ảnh hưởng pH lên độ bền  
vững DIC-SMEDDS:  
- Phương pháp điều chế SMEDDS  
chứa DIC (DIC-SMEDDS):  
Thời gian hệ đạt độ b ền: Pha loãng  
các DIC-SMEDDS 100 lần trong môi  
trường pH 1,2; 4,5 và 6,8 và để trong 24  
giờ tại nhiệt độ phòng, ghi nhận thời gian  
mà DIC bị tủa lại, hệ bị đục hoặc thay đổi  
màu sắc theo thời gian. Lựa chọn CT đạt  
yêu cầu cho thử nghiệm tiếp theo.  
Công thức hệ vi tự nhũ với tỷ lệ tải DIC  
thích hợp được chuẩn bị như sau: Cân  
chính xác 0,5g hệ tá d ược theo tỷ lệ có  
sẵn cho vào eppendorf 2 ml, lắc trong 1  
phút và siêu âm trong 10 phút đến khi  
đồng nhất. Cân chính xác lượng DIC cho  
vào hệ, lắc trong 1 phút và siêu âm trong  
10 phút đến đồng nhất, rồi để tại nhiệt độ  
phòng trong 24 giờ, sau đó ly tâm với tốc  
độ 5.000 vòng/phút trong 10 phút để kiểm  
tra xem DIC có b ị kết tủa lại hay không.  
Các DIC-SMEDDS sau khi chuẩn bị xong  
để trong 48 giờ trước khi tiến hành các  
đánh giá tiếp theo.  
- Đo phân bố kích th ước giọt vi nh ũ  
tương tạo thành và thế zeta:  
Các mẫu DIC-SMEDDS đạt yêu cầu  
độ bền nhiệt động, độ bền trong các môi  
trường pH được đo phân bố kích thước  
hạt và thế zeta. Các mẫu được pha loãng  
100 lần rồi tiến hành đo phân bố kích  
thước hạt và thế zeta trên thiết bị  
Zetasizer Nano S90. Lựa chọn hệ có kích  
thước, phân bố kích thước hạt và thế  
zeta đạt yêu cầu SMEDDS.  
* Khảo sát đánh giá tính chất của DIC-  
SMEDDS:  
- Xác định độ bền nhiệt động của DIC-  
SMEDDS:  
8
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
- Xác định biến thiên lượng diclofenac chất và tá d ược cho vào cốc becher, sau  
trong các môi trường pH khác nhau theo  
thời gian:  
đó khuấy đều trên máy khuấy từ và pha  
loãng 100 lần với các môi tr ường pH.  
Mẫu sau khi pha loãng được để trên bể  
cách thủy có bộ phận lắc tại 370C tạo môi  
trường lẫn chuyển động mô phỏng hệ tiêu  
hóa rồi rút mẫu lần lượt vào các thời điểm  
0,5 giờ - 1 gi ờ - 2 gi ờ - 4 gi ờ - 6 gi ờ - 8  
giờ để xác định lượng diclofenac (%) có  
trong mẫu.  
Mẫu DIC-SMEDDS đạt yêu cầu về  
kích thước giọt và thế zeta được lựa chọn  
để xác định biến thiên lượng DIC trong 3  
môi trường pH 1,2; 4,5 và 6,8 nhằm xác  
định một cách tương đối khả n ăng giải  
phóng hoạt chất từ hệ tự nhũ. Tiến hành  
bằng cách cân 100g hỗn hợp gồm hoạt  
KẾT QUẢ  
1. Xây dựng công thức và quy trình bào chế SMEDDS chứa DIC  
* Khảo sát độ tan của DIC trong một số tá dược tiềm năng:  
Biểu đồ 1: Kết quả độ tan của DIC trong các tá dược khảo sát.  
Kết quả độ tan của DIC trong các tá dược khảo sát được trình bày trong biểu đồ 1  
cho thấy với pha dầu, độ tan của DIC giảm dần theo thứ tự capryol 90 > labrafac PG >  
peceol > acrysol EL-135 > maisine CC > plurol oleic CC 497. Capryol 90, labrafac PG  
và peceol được lựa chọn để xây dựng giản đồ pha. Với nhóm chất diện hoạt và đồng  
diện hoạt, độ tan của DIC giảm dần theo thứ tự: Transcutol HP > lauroglycol 90 >  
labrasol > cremophor EL > tween 80 > labrafil M1944CS. Transcutol HP được lựa chọn  
làm chất đồng diện hoạt, các chất diện hoạt được lựa chọn cho các khảo sát là  
labrasol và lauroglycol 90. Cremophor EL mặc dù có khả năng hòa tan DIC thấp nhưng  
để tăng khả năng diện hoạt nên được lựa chọn phối hợp cùng các chất diện hoạt khác  
để khảo sát các CT [4, 6]. Bên cạnh đó, do hệ tá dược xây dựng cần có khả năng tải  
cao nên benzyl alcohol (BA) được thêm vào với trò đồng diện hoạt, giúp tăng khả năng  
hòa tan của hệ đối với DIC [7].  
9
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
* Xây dựng giản đồ pha:  
Bảng 2: Kết quả cảm quan các hệ giá mang SMEDDS được chọn để khảo sát.  
Pha dầu  
(Oil)  
Chất đồng diện hoạt  
(Co-S)  
Điểm đánh giá  
cảm quan  
CT  
Chất diện hoạt (Sur)  
Labrasol  
CT1  
CT2  
CT3  
Capryol 90  
Capryol 90  
Capryol 90  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
IV, V  
IV, V  
I, II  
Lauroglycol 90  
Labrasol:Cremophor EL (1:1)  
Lauroglycol 90:Cremophor EL  
(1:1)  
III, IV  
CT4  
Capryol 90  
Transcutol HP:BA (1:1)  
CT5  
CT6  
CT7  
Labrafac PG Labrasol  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
IV, V  
IV, V  
II, III  
Labrafac PG Lauroglycol 90  
Labrafac PG Labrasol:Cremophor EL (1:1)  
Labrafac PG Lauroglycol 90:Cremophor EL  
(1:1)  
III, IV  
CT8  
CT9  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Peceol  
Labrasol  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Transcutol HP:BA (1:1)  
III, IV  
IV,V  
CT10 Peceol  
CT11 Peceol  
Lauroglycol 90  
Labrasol:Cremophor EL (1:1)  
III, IV  
III, IV  
Lauroglycol 90:Cremophor EL  
(1:1)  
CT12 Peceol  
Transcutol HP:BA (1:1)  
Vùng hình thành  
vi nhũ tương  
Biểu đồ 2: Giản đồ pha tạo thành từ CT7 (trái) và CT3 (phải).  
Kết quả xây dựng giản đồ pha được 15,0 - 40,0%, chất diện hoạt nằm trong  
trình bày trong bảng 2 và biểu đồ 2. Giản khoảng từ 10,0 - 50,0% và tỷ lệ phần trăm  
đồ ba pha (pseudo-ternary diagram) cho của chất đồng diện hoạt tương ứng với  
mỗi tổ hợp được thiết lập với tỷ lệ phần trục thứ 3. Tỷ l ệ phần trăm tương ứng  
trăm của pha dầu nằm trong khoảng từ giữa 3 thành phần được thiết lập dựa trên  
10  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
kinh nghiệm từ các bài báo khác liên hiện nhũ t ương trắng sữa. Do vậy, hai  
quan đến giản đồ pha bậc ba giả công thức trên sẽ được lựa chọn nghiên  
SMEDDS, trong đó sự xuất hiện của dầu cứu khả năng  
t ải dược chất của hệ  
được đảm bảo, phần trăm chất diện hoạt trong thử nghiệm tiếp theo.  
≤ 50,0% để giảm kích ứng đối với hệ tiêu  
* Khảo sát khả n ăng tải dược  
chất:  
Kết quả thể hiện trong bảng 3 cho thấy  
hóa của con người. Sự kết hợp không có  
cremophor EL (CT1-2-5-6-9-10) tạo thành  
nhũ tương đục như sữa khi pha loãng với  
nước cất; trong khi dạng kết hợp  
lauroglycol 90/cremophor EL: Cremophor  
EL với pha dầu peceol cũng cho cảm  
các hệ được tạo thành từ CT3 có khả  
năng tải tốt với tỷ l ệ 5,0% và 10,0%.  
Riêng các hệ được tạo thành từ CT7 ch ỉ  
tải tốt DIC với tỷ lệ 5,0%. Ở tỷ lệ 12,5%,  
phần lớn các hệ tạo thành từ cả CT3 và  
CT7 đều tạo thành hệ nhũ tương đục như  
sữa khi pha loãng 100 lần với nước cất và  
tạo kết tủa sau 4 - 8 giờ.  
quan không  
đạt khi pha loãng với  
nước cất. Trong các tổ hợp khảo sát, CT3  
và CT7 cho thấy khả năng nhũ hóa tốt khi  
pha loãng với nước, mặc dù CT7 vùng  
tạo vi nhũ tương hẹp hơn CT3 do có xuất  
Bảng 3: Kết quả đánh giá khả năng tải DIC trong các hệ SMEDDS khảo sát từ CT3  
và CT7.  
Tỷ lệ tải DIC (%) Thành phần CT (%)  
Tỷ lệ tải DIC (%)  
Thành phần CT (%)  
CT  
CT  
5,0 10,0 12,5 Oil Sur  
Co-S  
5,0 10,0 12,5  
Oil  
Sur  
Co-S  
301  
302  
303  
304  
305  
306  
307  
308  
309  
310  
311  
312  
313  
314  
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
T
15  
15  
15  
15  
15  
20  
20  
20  
20  
20  
25  
25  
25  
25  
30  
35  
40  
45  
50  
30  
35  
40  
45  
50  
30  
35  
40  
45  
55  
50  
45  
40  
35  
50  
45  
40  
35  
30  
45  
40  
35  
30  
701  
702  
703  
704  
705  
706  
707  
708  
709  
710  
711  
712  
717  
714  
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
T
Đ
Đ
Đ
T
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
15  
15  
15  
15  
15  
20  
20  
20  
20  
20  
25  
25  
25  
25  
30  
35  
40  
45  
50  
30  
35  
40  
45  
50  
30  
35  
40  
45  
55  
50  
45  
40  
35  
50  
45  
40  
35  
30  
45  
40  
35  
30  
T
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
T
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
T
Đ
315  
316  
T
T
T
T
Đ
Đ
25  
30  
50  
30  
25  
40  
715  
716  
T
T
Đ
Đ
Đ
Đ
25  
30  
50  
30  
25  
40  
11  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
CT  
Tỷ lệ tải DIC (%) Thành phần CT (%)  
CT  
Tỷ lệ tải DIC (%)  
Thành phần CT (%)  
5,0 10,0 12,5 Oil Sur  
Co-S  
35  
5,0 10,0 12,5  
Oil  
30  
30  
30  
30  
Sur  
35  
40  
45  
50  
Co-S  
35  
317  
318  
319  
320  
T
T
T
T
T
T
T
T
Đ
Đ
Đ
Đ
30  
30  
30  
30  
35  
40  
45  
50  
717  
718  
719  
720  
T
T
T
T
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
30  
30  
25  
25  
20  
20  
T: Trong suốt; Đ: Đục  
Nhằm làm giảm kích ứng đối với CT 306 và CT 307 với hệ tá d ược là  
capryol  
90:labrasol/cremophor  
EL  
hệ tiêu hóa, các hệ giá mang sử d ụng  
nồng độ chất diện hoạt ≤ 50% và khảo sát  
tỷ l ệ pha dầu từ 15 - 30%. Kết quả  
từ b ảng 3 cho phép dự đoán CT307 và  
CT313 có tiềm năng tốt nhất do tạo được  
vi nhũ tương bền, ổn định khi pha loãng  
100 lần trong nước cất ở tỷ lệ tải 12,5%.  
(1/1):transcutol HP/benzyl alcohol (1/1)  
theo tỷ lệ 15:70:55 đã vượt qua tất cả các  
thử nghiệm, trong khi các hệ khác bị loại  
trong ít nhất một thử nghiệm.  
* Ảnh hưởng của pH lên độ bền vững  
của DI-SMEDDS:  
Ảnh hưởng của điều kiện pH được  
nghiên cứu để xác định sơ b ộ tính ổn  
định của thuốc khi đi qua hệ tiêu hóa, nơi  
pH tăng từ 1,2 - 6,8. Kết quả trong bảng 4  
chỉ ra rằng môi trường pH của đường tiêu  
hóa không ảnh hưởng đến độ b ền của  
2. Khảo sát đánh giá tính chất hệ  
DIC-SMEDDS  
* Độ b ền nhiệt động của các DIC-  
SMEDDS:  
Kết quả độ bền nhiệt động của các  
DIC-SMEDDS trong bảng 4 cho thấy DIC-SMEDDS.  
Bảng 4: Kết quả độ bền nhiệt động và tác động của pH lên các DIC-SMEDDS.  
CT  
Ly tâm  
Đ K  
KĐ K  
KĐ  
Chu kỳ Đ-RĐ  
Chu kỳ N-L  
pH 1,2  
pH 4,5  
pH 6,8  
301  
302  
303  
304  
305  
306  
307  
308  
309  
310  
Đ K  
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
KĐ K  
KĐ  
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ K  
Đ
Đ
Đ
Đ K  
Đ K  
Đ K  
Đ
Đ
12  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
CT  
Ly tâm  
Đ K  
KĐ  
Đ
Chu kỳ Đ-RĐ  
Chu kỳ N-L  
pH 1,2  
pH 4,5  
pH 6,8  
311  
312  
313  
314  
315  
316  
317  
318  
319  
320  
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ K  
Đ K  
Đ
Đ
Đ
Đ K  
KĐ  
KĐ  
KĐ  
KĐ  
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ
Đ K  
Đ K  
Đ K  
Đ
Đ K  
Đ K  
Đ
LT: Ly tâm; Đ-RĐ: Chu kỳ đông-rã đông; N-L: Chu kỳ nóng lạnh; Đ: Đạt; KĐ: Không đạt.  
* Kết quả đo kích thước giọt và thế zeta của vi nhũ tương:  
Cân 100 mg hệ DIC-SMEDDS với tỷ lệ tải hoạt chất 10,0% và pha loãng 100 lần với  
nước cất, đem đo kích thước và thế zeta thu được kết quả trong biểu đồ 3.  
Biểu đồ 3: Kết quả kích thước giọt và thế zeta của của CT 306 (trái) và CT 307 (phải).  
Kết quả đo kích thước giọt, thế zeta của CT 306 và CT 307 cho thấy hệ vi nhũ  
tương được tạo thành từ hai hệ này có kích thước nằm trong khoảng 20 nm - < 200 nm,  
trong đó phần lớn giọt vi nhũ tương tạo thành có kích thước từ 100 nm trở xuống.  
Thế zeta có giá trị tuyệt đối > 25 cho thấy khả năng tạo hệ vi nh ũ tương bền, tránh  
được hiện tượng tách lớp, kết tủa xảy ra do hiệu ứng tương tác tĩnh điện. Từ kết quả  
trên, CT 307 với dải phân bố kích thước giọt và thế zeta tốt hơn được chọn để thực  
hiện thử nghiệm đo lượng DIC biến thiên theo thời gian trong các môi trường pH  
khác nhau.  
13  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
* Xác định biến thiên lượng diclofenac trong các môi trường pH khác nhau theo  
thời gian:  
Biến thiên lượng diclofenac (%) theo thời gian trong 3 môi trường pH 1,2; 4,5 và  
6,8 được tiến hành trên máy đo độ hòa tan, rút mẫu phân tích theo thời gian và kết quả  
được thể hiện trong bảng 5.  
Bảng 5: Lượng diclofenac (%) trong các môi trường pH theo thời gian.  
Thành phần DIC (%) theo thời gian  
CT 307  
Thời gian  
0,5 giờ  
pH 1,2  
94,36  
98,66  
99,12  
98,88  
97,94  
96,90  
pH 4,5  
95,01  
97,85  
99,17  
99,02  
97,96  
97,45  
pH 6,8  
95,75  
99,60  
98,45  
98,05  
97,95  
95,80  
1 giờ  
2 giờ  
4 giờ  
6 giờ  
8 giờ  
Kết quả trên cho thấy diclofenac được giải phóng nhanh từ hệ DIC-SMEDDS khi  
hòa loãng vào cả 3 môi trường pH và l ượng diclofenac không giảm đi đáng kể (sau 8  
giờ đều còn trên 95% đối với cả 3 môi trường), từ đó cho thấy hệ DIC-SMEDDS trong  
bào chế được có độ hòa tan cao và ổn định trong đường tiêu hóa.  
* Kết quả định lượng DIC trong hệ vi tự nhũ hóa:  
Kết quả định lượng hàm lượng DIC có trong h ệ tự nhũ tạo vi nhũ tương được thể  
hiện trong bảng 6.  
Bảng 6: Kết quả định lượng hàm lượng DIC trong CT 307.  
CT  
Clt C  
1 C  
9,8%  
2 C  
9,9%  
3 C  
9,8%  
tb (n = 3)  
307  
10,0%  
9,83% 0,07%  
Kết quả định lượng hàm lượng DIC trong CT 307 đạt yêu cầu.  
BÀN LUẬN  
của DIC. Labrasol là chất diện hoạt được  
chọn khi so với lauroglycol 90 bởi khả  
năng nhũ hóa cao hơn, đồng thời khả  
năng hòa tan DIC khá tốt. Tuy nhiên, các  
kinh nghiệm và thí nghiệm đã chứng minh  
chỉ labrasol không thể t ạo vi nhũ t ương  
bền khi pha loãng SMEDDS với nước cất.  
Cremophor EL được chứng minh là có  
Các thử nghiệm về độ tan của DIC  
trong các giá mang khác nhau chỉ ra  
capryol 90 và labrafac PG là pha dầu tiềm  
năng nhất để t ạo ra SMEDDS có ch ứa  
DIC, trong khi transcutol HP với độ hòa  
tan cao nhất chỉ được chọn làm chất  
đồng diện hoạt, hỗ trợ c ải thiện độ tan  
14  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
khả năng nhũ hóa cao, đã được chọn để mặt của các giọt dầu thường là âm do sự  
bổ sung với tỷ lệ 1:1 vào labrasol làm hệ  
chất diện hoạt tiềm năng cao hơn. Bên  
cạnh đó, benzyl alcohol được lựa chọn để  
bổ sung vào chất đồng diện hoạt theo tỷ  
lệ 1:1 với transcutol HP nhằm tăng khả  
năng tải hoạt chất. Các thử nghiệm đã chỉ  
ra sự kết hợp của capryol 90 dưới dạng  
pha dầu, cremophor EL và labrasol (1:1,  
kl/kl) làm chất diện hoạt, transcutol HP và  
BA (1:1, kl/kl) như chất đồng diện hoạt đã  
được chọn để xây dựng SMEDDS có  
chứa DIC với tỷ l ệ l ần lượt là 20:30:50  
(CT306) hoặc 20:35:45 (CT307). Chất  
diện hoạt trong công thức đạt tỷ lệ < 40%,  
giảm đáng kể khả n ăng kích ứng hệ  
tiêu hóa.  
hiện diện của các acid béo tự do, thế zeta  
giúp dự đoán độ ổn định và hiệu ứng keo  
tụ trong các h ệ vi nh ũ t ương, khi giá trị  
thế zeta cao (trị tuyệt đối > 30 mV) duy trì  
hệ thống ổn định, nếu giảm xuống dưới  
mức này, chất keo sẽ kết tụ lại do các lực  
hấp dẫn [8].  
Nghiên cứu cho thấy, SMEDDS đã  
chứng minh là cải thiện đáng kể khả năng  
hòa tan và sinh khả d ụng đường uống  
của DIC. Với những thử nghiệm khả  
quan, SMEDDS sẽ tiếp tục được nghiên  
cứu nhiều hơn cho các thuốc khác có độ  
tan kém trong nước, để ứng dụng trong  
hệ phân phối thuốc thuộc nhóm II và  
nhóm IV trên quy mô công nghiệp.  
Quá trình SMEDDS được thiết lập cho  
thấy sự đơn giản để thực hiện với các  
công cụ c ơ b ản và phương pháp đơn  
giản. Ảnh hưởng của các thí nghiệm về  
pH cho thấy DIC hầu như không bị phân  
hủy ở pH 1,2; 4,5 và 6,8 cũng như có sự  
phóng thích tương đối nhanh từ h ệ  
SMEDDS.  
KẾT LUẬN  
Công thức DIC-SMEDDS đã được xây  
dựng và bào chế thành công ở quy mô  
100g. Các thử nghiệm đã chỉ ra CT 307  
đạt các chỉ tiêu c ơ lý hóa theo yêu cầu  
SMEDDS, chứng minh hệ vi t ự nhũ hóa  
có thể là một giải pháp tiềm năng giúp cải  
thiện độ hòa tan, đồng thời nâng cao sinh  
khả dụng đường uống cho DIC.  
Theo liều DIC đường uống, tỷ l ệ t ải  
thuốc được chọn để sàng lọc. Kết quả  
cho thấy SMEDDS được lựa chọn có thể  
tải được DIC với tỷ lệ 10,0%. Kích thước  
giọt của vi nhũ tương từ DIC-SMEDDS là  
từ 20 nm - < 200 nm, với kích thước trung  
bình khoảng 43,12 nm đã chứng minh vi  
nhũ t ương được hình thành thành công  
từ nghiên cứu này. Ngoài ra, thế zeta của  
hệ vi nhũ tương tạo được là -29,3 4,55  
mV, chứng minh vi nhũ tương tạo thành  
đạt độ bền nhiệt động học. Điện thế zeta  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y t ế. Dược thư Quốc gia Việt Nam  
(lần xuất bản thứ hai). Nhà xuất bản Y học,  
Hà Nội. Chuyên luận Diclofenac 2018: 515-518.  
2. Krisztina Takács-Novák, Karl J Box,  
Alex Avdeef. Potentiometric pka determination  
of water-insoluble compounds: Validation  
study in methanol/water mixtures. International  
được sử d ụng để xác định điện tích bề Journal of Pharmaceutics 1997; 151(2):275-248.  
15  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
3. Jaiswal P, Aggarwal G. Bioavailability  
enhancement of poorly soluble drugs by  
smedds: A review. Journal of Drug Delivery  
and Therapeutics 2017; 7(1):98-109.  
6. Nasr A, Gardouh A, Ghonaim H, et al.  
Effect of oils, surfactants and cosurfactants on  
phase behavior and physicochemical properties  
of self-nanoemulsifying drug delivery system  
(snedds) for irbesartan and olmesartan.  
International Journal of Applied Pharmaceutics  
2016; 8(1):17-24.  
4. Khan B, Bakhsh S, Khan H, et al. Basics  
of self micro emulsifying drug delivery system.  
Journal of Pharmacy and Alternative Medicine  
2012; 1:17-20.  
7. Myoung-Ki Baek, Jong-Hwa Lee, et al.  
Self-microemulsifying drug-delivery system for  
improved oral bioavailability of pranlukast  
hemihydrate: Preparation and evaluation.  
International Journal of Nanomedicine 2017;  
8:167-176.  
5. Wu Lan, et al. A Self-microemulsifying  
drug delivery system (smedds) for a novel  
medicative compound against depression:  
A preparation and bioavailability study in rats.  
American Association of Pharmaceutical  
Sciences 2015; 16(5):1051-1058.  
8. Tarek M. Ibrahim. Self-emulsifying drug  
delivery formulations. Zagazig J. Pharm. Sci.  
2018; 27(1):1-21.  
16  
pdf 12 trang yennguyen 18540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu bào chế hệ vi tự nhũ hóa chứa Diclofenac", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_bao_che_he_vi_tu_nhu_hoa_chua_diclofenac.pdf