Kiến thức, thái độ về sàng lọc ung thư đại trực tràng của người dân từ 50-75 tuổi trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2019

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
2. Manila, W.H.O.W.P.R.O. Dengue in the Western  
Bệnh nhân ở các khoảng tuổi nhiễm cả 4 type  
virus: type 1 (DENV-1), type 2 (DENV-2), type 3  
(DENV-3) và type 4 (DENV-4). Trong đó khoảng  
khoảng tuổi 6-10 chiếm tỉ lệ cao nhất (50,43% -  
63,24%), sau đó là khoảng tuổi 11-15 (23,53% -  
38,46%), và thấp nhất là khoảng tuổi ≤ 5  
(11,11% - 15,79%) ở cả 4 type virus, tuy nhiên  
không có sự khác biệt về tuổi giữa các type  
virus, với p = 0,1338. Tỉ lệ nhiễm virus của hai  
giới là tương đương nhau ở các type virus 1, 2  
và 4. Ở type 3 tỉ lệ ở nữ (63,16%) cao hơn ở  
nam (36,84%), tuy nhiên sự khác biệt giữa hai  
giới không có ý nghĩa thống kê với p = 0,2513  
Pacific.  
2010;  
Available  
from:  
http://  
20 December 2010.  
3. Huy, R., et al., National dengue surveillance in  
Cambodia  
1980-2008:  
epidemiological  
and  
virological trends and the impact of vector control.  
Bulletin of the World Health Organization, 2010.  
88(9): p. 650-657.  
4. Ooi, E.E., Changing Pattern of Dengue  
Transmission in Singapore. 2001.  
5. Yew, Y.W., et al., Seroepidemiology of dengue  
virus infection among adults in Singapore. Ann  
Acad Med Singap, 2009. 38(8): p. 667-75.  
6. Guzmán, M.G., et al., Effect of age on outcome  
of secondary dengue 2 infections. Int J Infect Dis,  
2002. 6(2): p. 118-24.  
7. Lanciotti R. S., et al., Rapid detection and typing  
of dengue viruses from clinical samples by using  
reverse transcriptase-polymerase chain reaction. J  
Clin Microbiol, 1992. 30(3): p. 545-51.  
8. Halsey E. S., et al., Correlation of serotype-specific  
dengue virus infection with clinical manifestations.  
PLoS Negl Trop Dis, 2012. 6(5): p. e1638.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Geneva, W.H.O. Fact sheet N°117, Dengue  
and dengue hemorrhagic fever, March 2009;  
Available  
from:  
mediacentre/factsheets/fs117/en/, accessed 26  
December 2010.  
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ SÀNG LỌC UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG  
CỦA NGƯỜI DÂN TỪ 50-75 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀN KIẾM,  
HÀ NỘI NĂM 2019  
Nguyễn Quỳnh Anh*, Nguyễn Thu Hà*  
TÓM TẮT30  
SUMMARY  
KNOWLEDGE AND ATTITUDES RELATED TO  
COLORECTAL CANCER SCREENING OF  
PEOPLE AGED 50-75 YEARS IN HOAN KIEM  
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ và nhận thức  
về rào cản đối với việc chi trả tiền túi để thực hiện  
sàng lọc ung thư đại trực tràng của người dân từ 50-  
75 tuổi trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội năm  
2019.Phương pháp: Điều tra cắt ngang trên 402 đối  
tượng 50-75 tuổi đến khám bệnh thông thường tại các  
phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm y tế quận  
Hoàn Kiếm từ tháng 1 đến tháng 3/2019. Kết quả và  
kết luận: Kiến thức và thái độ ("không nghĩ mình có  
bệnh" hay "thiếu hiểu biết thông tin khám sàng lọc",  
"không biết về phương pháp này có thể sàng lọc  
được" hay "chỉ khi nào có biểu hiện bệnh thì mới đi  
khám") là yếu tố phổ biến nhất (43,7%) mà đối tượng  
đưa ra trong số các rào cản được đối tượng chỉ ra  
trong việc chi trả tiền túi để thực hiện xét nghiệm  
FOBT. Rào cản phổ biến nhất đối với chi trả tiền túi  
đối với nội soi đại trực tràng liên quan đến sự "sợ hãi  
khi phát hiện ra bệnh", "sợ đến bệnh viện", "sợ gây  
mê", "sợ đưa dụng cụ vào cơ thể gây khó chịu" hay  
"sợ đau" (34,8%).  
DISTRICT, HANOI, 2019  
Objective: To describe knowledge, attitudes and  
perceptions about barriers to colorectal cancer  
screening of people aged 50-75 years in Hoan Kiem  
district, Hanoi, 2019.Method: Cross-sectional survey  
conducted on 402 patients aged 50-75 years old who  
went to the outpatient clinics of Hoan Kiem District  
Medical Center from January to March 2019. Results  
and conclusion: Knowledge and attitudes ("don't  
think I have cancer" or "lack of information of  
screening ", "don't know about the screening  
techniques " or "only seek treatment when there is a  
sign of cancer) ") is the most common factor (43.7%)  
among the perceived barriers to out of pocket  
payment to FOBT. The most commom barrier to pay  
for colonoscopy involve "fear of finding out the  
disease", "fear of going to the hospital", "fear of  
anesthesia", "giving the device into the body causing  
discomfort" or "fear of pain" (34.8%).  
Từ khóa: kiến thức, thái độ, rào cản, sàng lọc ung  
thư đại trực tràng, nội soi đại trực tràng, FOBT  
Keywords: knowledge, attitude, percieved  
barriers, colonoscopy, colorectal cancer screening  
*Trường Đại học Y tế Công cộng  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quỳnh Anh  
Ngày nhận bài: 11.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 11.5.2021  
Ngày duyệt bài: 17.5.2021  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng (UTĐTT)  
cùng với các nhóm ung thư khác là một trong  
121  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
các nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tác giả Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Quỳnh Anh  
tật và tử vong tại Việt Nam[1]. Sự gia tăng số (2020)[2]. Phương pháp nghiên cứu của nghiên  
trường hợp mới mắc ung thư cùng với thực cứu này như sau:  
trạng đa số các trường hợp mắc được phát hiện  
khi đã ở giai đoạn muộn dẫn đến tỷ lệ tàn tật và  
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Điều tra cắt ngang.  
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Người dân đến  
tử vong cao và gánh nặng vật chất cũng như khám bệnh tại cơ sở y tế ban đầu trên địa bàn  
tinh thần lớn cho người bệnh, cho hệ thống thành phố Hà Nội thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa  
chăm sóc sức khỏe và toàn xã hội. Vì vậy, việc chọn sau: (i) từ 50 đến 75 tuổi; (ii) Chưa từng  
triển khai thành công các chương trình sàng lọc tham gia sàng lọc UTĐTT; (iii) đồng ý tham gia  
ung thư ở quy mô cộng đồng đóng vai trò vô phỏng vấn và đủ khả năng nghe nói hiểu tiếng  
cùng quan trọng nhằm giảm nhẹ gánh nặng Việt, không mắc bệnh tâm thần.  
bệnh tật và tử vong do các bệnh ung thư nói  
chung và UTĐTT nói riêng.  
3.3. Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng  
1 đến tháng 3 năm 2019.  
Sàng lọc UTĐTT sử dụng xét nghiệm xét  
3.4. Địa điểm thu thập số liệu: Các phòng  
nghiệm máu ẩn trong phân (FOBT) và sàng lọc khám thuộc Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm - là  
UTĐTT với trường hợp kết quả + và với các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu.  
trường hợp có nguy cơ cao được Bộ Y tế khuyến  
3.5. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:  
cáo thực hiện trong Quyết định số 3756/QĐ-BYT Tiến hành phỏng vấn toàn bộ đối tượng thỏa  
ngày 21/6/2018. Tuy nhiên đến thời điểm hiện mãn tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu đến khám  
tại, sàng lọc UTĐTT ở Việt Nam mới chỉ diễn ra bệnh thông thường tại các phòng khám bệnh  
thí điểm ở một số tỉnh thành phố lớn . Để có thể ngoại trú thuộc Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm  
triển khai được chương trình sàng lọc UTĐTT từ tháng 1 đến tháng 3/2019. Tổng cỡ mẫu thu  
một cách hiệu quả tại Việt Nam, việc tìm hiểu về thập được là 402 đối tượng.  
kiến thức, thái độ của đối tượng đích về sàng lọc  
3.6. Biến số nghiên cứu: Bộ số liệu của  
UTĐTT cũng như nhận thức của đối tượng đích nghiên cứu gốc bao gồm nhiều biến số về sẵn  
về các rào cản đối với sàng lọc UTĐTT sử dụng sàng chi trả đối với sàng lọc UTĐTT sử dụng xét  
FOBT và nội soi đại trực tràng là rất quan trọng. nghiệm FOBT và nội soi đại trực tràng. Trong bài  
Các thông tin này sẽ đóng vai trò hữu ích nhằm báo này, chúng tôi tập trung vào các nhóm biến  
cung cấp các bằng chứng để thực hiện các chiến số chính bao gồm: thông tin nhân khẩu-xã hội  
lược truyền thông nhằm tăng cường tỷ lệ tiếp học, kiến thức và thái độ đối với sàng lọc  
cận với các dịch vụ sàng lọc UTĐTT. Vì lý do đó, UTĐTT, yếu tố nguy cơ của UTĐTT và nhận định  
bài báo này tập trung vào mục tiêu mô tả kiến về rào cản đối với chi trả tiền túi để thực hiện  
thức, thái độ và nhận thức về rào cản đối với sàng lọc UTĐTT sử dụng FOBT và nội soi đại  
sàng lọc UTĐTT của người dân từ 50-75 tuổi trực tràng của đối tượng.  
trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2019.  
3.7. Nhập liệu, quản lý số liệu: Tiến hành  
Bộ số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này nhập vào phần mềm Epi Data 3.1, sau đó làm  
dựa trên kết quả của cuộc điều tra về Đánh giá sạch và được xử lý bằng phần mềm R.  
mức sẵn sàng chi trả đối với một số can thiệp  
3.8. Đạo đức nghiên cứu: Tuân thủ theo  
phát hiện sớm ung thư tại Việt Nam Của tác giả đúng các quy định của Hội đồng đạo đức Trường  
Nguyễn Thu Hà và Nguyễn Quỳnh Anh (công bố Đại học Y tế công cộng.  
năm 2020) [2].  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
3.1. Thông tin chung về đối tượng. Bảng  
Tập trung vào các biến số về kiến thức, thái 1 trình bày thông tin về đặc điểm nhân khẩu - xã  
độ, và nhận thức về rào cản của sàng lọc UTĐTT hội học, tình trạng tham gia bảo hiểm y tế của  
sử dụng FOBT và nội soi đại trực tràng của đối đối tượng tham gia nghiên cứu.  
tượng đích được thu thập trong nghiên cứu của  
Bảng 1: Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Nam (n=119)  
61,6 (6,75)  
Trình độ học vấn  
12 (10,1%)  
Nữ (n=283)  
61,0 (6,75)  
Chung (n=402)  
Tuổi: Trung bình (SD)  
Chưa tốt nghiệp tiểu học  
61,2 (6,75)  
21 (7,4%)  
88 (31,1%)  
21 (7,4%)  
33 (8,2%)  
109 (27,1%)  
35 (8,7%)  
Tốt nghiệp tiểu học  
Tốt nghiệp THCS  
21 (17,6%)  
14 (11,8%)  
122  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Tốt nghiệp THPT  
Có trình độ chuyên môn  
34 (28,6%)  
38 (31,9%)  
61 (21,6%)  
92 (32,5%)  
95 (23,6%)  
130 (32,3%)  
Tình trạng kết hôn  
2 (1,7%)  
Chưa kết hôn/góa  
Đã kết hôn  
12 (4,2%)  
271 (95,8%)  
14 (3,5%)  
388 (96,5%)  
117 (98,3%)  
Gia đình thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo  
Mức sống trung bình trở lên  
Cận nghèo  
94 (79,0%)  
14 (11,8%)  
11 (9,2%)  
222 (78,4%)  
23 (8,1%)  
38 (13,4%)  
316 (78,6%)  
49 (12,2%)  
37 (9,2%)  
Nghèo  
Tình trạng thẻ bảo hiểm y tế  
Không có BHYT  
Có BHYT  
9 (7,6%)  
26 (9,2%)  
257 (90,8%)  
Lịch sử tham gia sàng lọc UTĐTT  
35 (8,7%)  
367 (91,3%)  
110 (92,4%)  
Chưa bao giờ tham gia  
Đã từng thực hiện xét nghiệm FOBT  
Đã từng nội soi đại trực tràng  
96 (80,7%)  
12 (10,1%)  
11 (9,2%)  
241 (85,2%)  
26 (9,2%)  
16 (5,7%)  
337 (83,8%)  
38 (9,5%)  
27 (6,7%)  
Lịch sử tham gia sàng lọc ung thư khác  
Không  
Có  
108 (90,8%)  
11 (9,2%)  
252 (89,0%)  
31 (11,0%)  
360 (89,6%)  
42 (10,4%)  
3.2. Kiến thức và thái độ của đối tượng  
đối với sàng lọc UTĐTT  
biểu hiện bệnh thì mới đi khám". Có 6,5% đối  
tượng cho rằng lý do lớn nhất khiến người dân  
không sàng lọc sử dụng FOBT liên quan đến quy  
trình lấy phân có thể không vệ sinh ("nghĩ làm  
xét nghiệm phân liên quan tới giun sán" hay  
"ngại làm xét nghiệm phân vì sợ bẩn"). Có  
11,7% lý do liên quan đến sự sợ hãi của đối  
tượng, chẳng hạn như "sợ đi kiểm tra phát hiện  
ra bệnh lại lo nghĩ thêm", "sợ đến bệnh viện",  
"sợ làm phiền đến con cháu"... Có 14,2% đối  
tượng lại đưa ra các rào cản về chi phí liên quan  
đến điều kiện kinh tế, đặc biệt ở nhóm người cao  
tuổi không đủ điều kiện kinh tế hoặc kinh tế phụ  
thuộc vào con cái và liên quan đến "lo lắng chi  
phí xét nghiệm cao". Chỉ có 3% đối tượng đưa ra  
các ý kiến khác như "cảm thấy kết quả không  
chính xác" và "người nhiều tuổi không cần thiết  
làm xét nghiệm".  
Đối với câu hỏi về lý do lớn nhất khiến người  
dân không chi trả để sàng lọc sử dụng nội soi  
đại trực tràng, cũng có 78,1% đối tượng trả lời  
câu hỏi này nhưng chỉ có 8,0% đối tượng đánh  
giá lý do lớn nhất là do thiếu kiến thức (như  
"thấy bản thân không có nguy cơ" hay "không  
biết đến nội soi đại trực tràng"). Đặc biết có đến  
34,8% đối tượng thể hiện lý do liên quan đến sự  
sợ hãi, bên cạnh "sợ hãi khi phát hiện ra bệnh"  
như ở trường hợp trên thì rất nhiều người có  
tâm lý "sợ gây mê", "sợ đưa dụng cụ vào cơ thể  
gây khó chịu" hay "sợ đau". Các rào cản về chi  
phí trong trường hợp này cũng được chỉ ra với tỷ  
lệ cao hơn nhóm trên "chi phí cao, tốn kém" hay  
"phải trả thêm phí gây mê đắt tiền".  
Bảng 2 trình bày kết quả phân tích mô tả đối  
với một số biến số về kiến thức và thái độ của  
người dân đối với sàng lọc UTĐTT bao gồm đánh  
giá tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng,  
nâng cao sức khỏe bao gồm tập thể dục, ăn  
nhiều hoa quả và rau, sàng lục ung thư cổ tử  
cung và ung thư vú với nữ giới dựa trên thang  
đo từ 1 đến 5 tương ứng với không quan trọng  
đến vô cùng quan trọng. Nhìn chung đối tượng  
đánh giá cao tầm quan trọng của tập thể dục,  
với điểm trung bình là 3,55 (SD=1,04) và của ăn  
nhiều hoa quả và rau, với điểm trung bình là  
3,41 (SD=0,99).  
Khi được hỏi về mức độ lo lắng mình sẽ mắc  
UTĐTT thì cũng có tới 53,6% nhóm đối tượng  
trên 60 tuổi trả lời là không hề lo lắng mình sẽ  
mắc UTĐTT. Tỷ lệ này ở nhóm 50-60 tuổi là  
42,6%. Tỷ lệ này ở nam giới (47,9%) cũng thấp  
hơn ở nữ giới (48,4%). Khi tự đánh giá về nguy  
cơ mắc UTĐTT thì có 27,6% đối tượng đánh giá  
có nguy cơ thấp hơn mọi người. Tỷ lệ này ở  
nhóm đối tượng trên 60 tuổi là cao nhất (chiếm  
tỷ lệ 32,9%).  
Đối với câu hỏi về lý do lớn nhất khiến người  
dân không chi trả tiền túi để sàng lọc sử dụng  
FOBT, có 78,0% đối tượng trả lời câu hỏi này.  
Các lý do khi được phân vào các nhóm thì chủ  
yếu liên quan đến thiếu kiến thức (39,3%), do  
các đối tượng đánh giá rằng người dân "không  
nghĩ mình có bệnh" hay "thiếu hiểu biết thông  
tin khám sàng lọc", "không biết về phương pháp  
này có thể sàng lọc được" hay "chỉ khi nào có  
123  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Bảng 2: Kiến thức, và thái độ của đối tượng đối với sàng lọc UTĐTT  
Nam (n=119)  
Nữ (n=283)  
Chung (n=402)  
Đánh giá tầm quan trọng của tập thể dục  
Trung bình (SD)  
Trung vị [Min, Max]  
Không trả lời  
3,63 (1,10)  
4,00 [1,00; 5,00]  
3 (2,5%)  
3,52 (1,00)  
4,00 [1,00; 5,00]  
29 (10,2%)  
3,55 (1,04)  
4,00 [1,00; 5,00]  
32 (8,0%)  
Đánh giá tầm quan trọng của ăn nhiều hoa quả và rau  
Trung bình (SD)  
Trung vị [Min, Max]  
Không trả lời  
3,42 (1,06)  
4,00 [1,00; 5,00]  
6 (5,0%)  
3,40 (0,97)  
3,00 [1,00; 5,00]  
33 (11,7%)  
3,41 (0,99)  
4,00 [1,00; 5,00]  
39 (9,7%)  
Đánh giá tầm quan trọng của sàng lọc ung thư cổ tử cung với nữ giới  
Trung bình (SD)  
Trung vị [Min, Max]  
Không trả lời  
2,76 (1,03)  
3,00 [1,00; 5,00]  
86 (72,3%)  
2,70 (1,29)  
3,00 [1,00; 5,00]  
45 (15,9%)  
2,71 (1,26)  
3,00 [1,00; 5,00]  
131 (32,6%)  
Đánh giá tầm quan trọng của sàng lọc ung thư vú với nữ giới  
Trung bình (SD)  
Trung vị [Min, Max]  
Không trả lời  
2,83 (1,05)  
3,00 [1,00; 5,00]  
89 (74,8%)  
2,71 (1,33)  
3,00 [1,00; 5,00]  
42 (14,8%)  
2,73 (1,30)  
3,00 [1,00; 5,00]  
131 (32,6%)  
Lo lắng mình sẽ mắc UTĐTT  
Không hề lo lắng  
Có lo lắng một chút  
Khá lo lắng  
57 (47,9%)  
52 (43,7%)  
9 (7,6%)  
137 (48,4%)  
194 (48,3%)  
175 (43,5%)  
31 (7,7%)  
2 (0,5%)  
123 (43,5%)  
22 (7,8%)  
1 (0,4%)  
Cực kì lo lắng  
1 (0,8%)  
Tự đánh giá về nguy cơ mắc UTĐTT  
Thấp hơn mọi người  
Như mọi người  
Cao hơn mọi người  
Không biết  
30 (25,2%)  
67 (56,3%)  
10 (8,4%)  
12 (10,1%)  
81 (28,6%)  
152 (53,7%)  
10 (3,5%)  
111 (27,6%)  
219 (54,5%)  
20 (5,0%)  
40 (14,1%)  
52 (12,9%)  
Lý do lớn nhất khiến người dân không chi trả để sàng lọc sử dụng FOBT  
Thiếu kiến thức  
Thấy không vệ sinh  
Sợ hãi  
52 (43,7%)  
5 (4,2%)  
15 (12,6%)  
5 (4,2%)  
17 (14,3%)  
2 (1,7%)  
3 (2,5%)  
106 (37,5%)  
21 (7,4%)  
32 (11,3%)  
6 (2,1%)  
40 (14,1%)  
3 (1,1%)  
158 (39,3%)  
26 (6,5%)  
47 (11,7%)  
11 (2,7%)  
57 (14,2%)  
5 (1,2%)  
Rào cản về thời gian  
Rào cản về chi phí  
Không được khuyến cáo  
Khác  
9 (3,2%)  
66 (23,3%)  
12 (3,0%)  
86 (21,4%)  
Không trả lời  
20 (16,8%)  
Lý do lớn nhất khiến người dân không chi trả để sàng lọc sử dụng nội soi ĐTT  
Thiếu kiến thức  
Sợ hãi  
Rào cản về thời gian  
Rào cản về chi phí  
Khác  
9 (7,6%)  
41 (34,5%)  
5 (4,2%)  
45 (37,8%)  
1 (0,8%)  
23 (8,1%)  
99 (35,0%)  
4 (1,4%)  
87 (30,7%)  
2 (0,7%)  
32 (8,0%)  
140 (34,8%)  
9 (2,2%)  
132 (32,8%)  
3 (0,7%)  
Không trả lời  
18 (15,1%)  
68 (24,0%)  
86 (21,4%)  
3.3. Mối liên quan giữa kiến thức, thái nhiều thành viên hơn có xác suất không từ chối  
độ đối với sàng lọc UTĐTT và từ chối chi trả chi trả thấp hơn 0,75 lần so sánh với người sống  
đối với sàng lọc UTĐTT. Bảng 3 trình bày kết trong hộ gia đình có ít thành viên hơn (p<0,05);  
quả mô hình hồi quy logistic đa biến mô tả mối đối tượng đi khám bệnh cùng người thân có xác  
liên quan giữa biến phụ thuộc là từ chối chi trả xuất không từ chối chi trả cao hơn 10,9 lần so  
(tạm dịch là 0=từ chối chi trả và 1=không từ sánh với đối tượng không đi khám bệnh cùng  
chối chi trả (non-zero response) đối với sàng lọc người thân (p<0,05); người có lo lắng mình sẽ  
UTĐTT và các biến số độc lập. Kết quả phân tích mắc ung thư đại trức tràng có xác suất không từ  
cho thấy đối tượng sống trong hộ gia đình có chối chi trả cao hơn 3,41 lần so sánh với người  
124  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
không hề lo lắng (p<0,05); đối tượng đánh giá phương pháp nội soi đại trực tràng cũng có xác  
bản thân có nguy cơ mắc UTĐTT bằng hoặc cao suất không từ chối chi trả thấp hơn 0,34 lần so  
hơn mọi người có xác suất không từ chối chi trả sánh với nhóm ưa thích FOBT hoặc ưa thích hai  
thấp hơn 0,1 lần nhóm tự đánh giá có nguy cơ phương pháp như nhau.  
thấp hơn mọi người (p<0,05); nhóm ưa thích  
Bảng 3: Mô hình hồi quy logistic đa biến mô tả mối liên quan giữa biến phụ thuộc là từ  
chối chi trả cho sàng lọc UTĐTT và các biến độc lập  
Hệ số  
-0,0736  
-0,0002  
-0,0713  
-0,0563  
-0,2925  
-0,2632  
0,5235  
0,375  
OR (95%CI)  
SE  
Z
P
Tuổi  
Thu nhập  
Nữ giới  
0,93  
0,99  
(0,86; 1)  
(0,99; 1)  
0,0399 -1,84 0,0654  
0,0001 -1,76 0,0782  
0,93 (0,31; 2,81) 0,5633 -0,13 0,8993  
0,95 (0,07; 12,67) 1,3241 -0,04 0,9661  
0,75 (0,48; 1,17) 0,2283 -1,28 0,2003  
0,77 (0,61; 0,97) 0,119 -2,21 0,0269*  
1,69 (0,54; 5,26) 0,5804  
1,45 (0,57; 3,72) 0,4787 0,78  
0,99 (0,09; 10,02) 1,1789  
Đã kết hôn  
Có bảo hiểm y tế  
Số thành viên trong hộ gia đình  
Là người kiếm tiền chính trong gia đình  
Có học vấn từ THPT trở lên  
Có bảo hiểm y tế  
0,9  
0,3671  
0,4335  
0,9962  
0,1253  
0,0586  
-0,0057  
0,8489  
0
Có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ  
2,34 (0,79; 6,92) 0,5538 1,53  
3,56 (0,96; 13,24) 0,6707 1,89  
Người thân có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ 1,2687  
Đi khám bệnh cùng người thân  
Đã từng sàng lọc ung thư khác  
Đã từng sàng lọc UTĐTT  
2,3857  
-0,5858  
-0,8248  
-1,0617  
1,2268  
10,9 (2,2; 53,67) 0,8148 2,93 0,0034**  
0,56 (0,16; 1,89) 0,6245 -0,94 0,3482  
0,44 (0,15; 1,29) 0,5488 -1,5  
0,1329  
0,097  
Hiện tại đang làm việc  
0,35  
(0,1; 1,21) 0,6398 -1,66  
Lo lắng mình sẽ mắc UTĐTT  
Đánh giá bản thân có nguy cơ mắc  
UTĐTT bằng hoặc cao hơn mọi người  
Ưa thích phương pháp nội soi  
3,41 (1,27; 9,18) 0,505  
2,43 0,0151*  
-2,3407  
-1,086  
0,1  
(0,02; 0,4) 0,7223 -3,24 0,0012**  
0,34 (0,13; 0,87) 0,4824 -2,25 0,0244*  
N=402; R2=0,378; AUC=0,824; Brier=0,047;  
**mức ý nghĩa thống kê 0,01; *mức ý nghĩa thống kê 0,05  
đến sự "sợ hãi khi phát hiện ra bệnh", "sợ đến  
IV. BÀN LUẬN  
bệnh viện", "sợ gây mê", "sợ đưa dụng cụ vào  
cơ thể gây khó chịu" hay "sợ đau" (34,8%). Các  
rào cản về chi phí trong trường hợp này cũng  
được chỉ ra với tỷ lệ cao hơn so sánh với FOBT  
với các lý giải phổ biến như "chi phí cao, tốn  
kém" hay "phải trả thêm phí gây mê đắt tiền".  
Mặc dù không thực sự tương đồng nhưng một số  
nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện về rào cản  
đối với người dân trong việc thực hiện xét  
nghiệm FOBT và nội soi đại trực tràng trong các  
chương trình sàng lọc UTĐTT nói chung cũng chỉ  
ra một số yếu tố tương tự (chẳng hạn sợ hãi,  
quá trình chuẩn bị khiến đối tượng cảm thấy khó  
chịu, thiếu kiến thức, đau đớn và rào cản liên  
quan đến chi phí, các vấn đề khác đang hiện  
diện quan trọng hơn, thiếu khuyến cáo từ bác  
sỹ, không ưu tiên được thời gian để làm xét  
nghiệm [3-5]). Việc xem xét chi tiết các rào cản  
này cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc  
thiết kế được chương trình sàng lọc hiệu quả.  
Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến  
được trình bày trong Bảng 3 cũng cho thấy một  
số mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ từ  
Trong các rào cản được đối tượng chỉ ra  
trong việc chi trả tiền túi để thực hiện xét  
nghiệm FOBT, lý do phổ biến nhất được đưa ra  
không phải liên quan đến yếu tố khả năng chi trả  
mà là lý do liên quan đến kiến thức của người  
dân ("không nghĩ mình có bệnh" hay "thiếu hiểu  
biết thông tin khám sàng lọc", "không biết về  
phương pháp này có thể sàng lọc được" hay "chỉ  
khi nào có biểu hiện bệnh thì mới đi khám"). Lý  
do tiếp theo mới liên quan đến rào cản về chi phí  
với 14,2% ý kiến trả lời liên quan đến rào cản  
này, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi không đủ  
điều kiện kinh tế hoặc kinh tế phụ thuộc vào con  
cái và liên quan đến "lo lắng chi phí xét nghiệm  
cao". Có một số lượng nhỏ (6,5%) đối đượng  
đánh giá rào cản liên quan đến việc chi trả để  
thực hiện xét nghiệm FOBT là do người dân  
không sàng lọc sử dụng FOBT liên quan đến quy  
trình lấy phân có thể không vệ sinh ("nghĩ làm  
xét nghiệm phân liên quan tới giun sán" hay  
"ngại làm xét nghiệm phân vì sợ bẩn").  
Ngược lại, đối với nội soi đại trực tràng thì  
rào cản phổ biến nhất được chỉ ra lại liên quan  
125  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
chối chi trả tập trung vào các biến số về kiến bệnh", "sợ đến bệnh viện", "sợ gây mê", "sợ đưa  
thức và thai độ của đối tượng. Chẳng hạn như dụng cụ vào cơ thể gây khó chịu" hay "sợ đau").  
đối tượng lo lắng mình sẽ mắc UTĐTT và đánh Kiến thức và thái độ của đối tượng đối với  
giá bản thân có nguy cơ mắc UTĐTT thấp hơn UTĐTT được chỉ ra là có mối liên quan có ý  
mọi người có xác suất từ chối chi trả cao hơn. nghĩa thống kê đối với tỷ lệ từ chối chi trả tiền  
Tuy nhiên, kết quả phân tích cũng cho thấy việc túi để thực hiện sàng lọc UTĐTT. Các can thiệp  
đối tượng lo lắng mình sẽ mắc UTĐTT có xác nhằm cải thiện kiến thức của đối tượng đích đối  
suất từ chối chi trả cao hơn. Đây là một kết quả xét nghiệm FOBT và thay đổi “sự sợ hãi” của đối  
tương đối đặc biệt. Tuy nhiên, điều này cũng có tượng với với nội soi đại trực tràng là rất quan  
thể lý giải được thông qua việc xem xét các lý do trọng nhằm cải thiện hiệu quả của các can thiệp  
trả lời của đối tượng trong nghiên cứu gốc đó là sàng lọc UTĐTT trong tương lai.  
việc từ chối thực hiện sàng lọc do "sợ phát hiện  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
ra bệnh". Kết quả của mô hình phân tích hồi quy  
1. Nguyễn Thanh Hương and L.N. KHuê, Gánh  
logistic đa biến kể trên có thể cung cấp một số  
nặng bệnh tật và tuổi thọ khỏe mạnh: Khái niệm,  
phương pháp và kết quả của Việt Nam giai đoạn  
2008-2017. 2019.  
bằng chứng khẳng định cho vai trò của các kế  
hoạch truyền thông trong tương lai. Để cho  
chương trình sàng lọc UTĐTT sử dụng FOBT và  
nội soi đại trực tràng thực sự có hiệu quả thì việc  
truyền thông nhằm tăng cường kiến thức và thái  
độ của đối tượng là vô cùng quan trọng nhằm  
tăng cường số lượng đối tượng đích tiếp cận các  
kỹ thuật sàng lọc.  
2. Nguyễn Thu Hà and Nguyễn Quỳnh Anh, Báo  
cáo đề tài cấp cơ sở: Đánh giá mức sẵn sàng chi  
trả đối với một số can thiệp phát hiện sớm ung thư  
tại Việt Nam - Nghiên cứu trường hợp đối với Ung  
thư đại trực tràng. 2020, Trường Đại học Y tế  
Công cộng: Hà Nội, Việt Nam.  
3. Brouse, C.H., et al., Barriers to colorectal cancer  
screening with fecal occult blood testing in a  
predominantly minority urban population:  
a
V. KẾT LUẬN  
qualitative study. American journal of public  
health, 2003. 93(8): p. 1268-1271.  
Kiến thức của đối tượng ("không nghĩ mình  
có bệnh" hay "thiếu hiểu biết thông tin khám  
sàng lọc", "không biết về phương pháp này có  
thể sàng lọc được" hay "chỉ khi nào có biểu hiện  
bệnh thì mới đi khám") là rào cản phổ biến nhất  
(43,7%) trong việc chi trả tiền túi để thực hiện  
xét nghiệm FOBT. Rào cản phổ biến nhất đối với  
chi trả tiền để nội soi đại trực tràng liên quan  
đến sự sợ hãi (34,8%) ("sợ hãi khi phát hiện ra  
4. Javadzade, S.H., et al., Barriers related to fecal  
occult blood test for colorectal cancer screening in  
moderate risk individuals. Journal of education and  
health promotion, 2014. 3.  
5. Jones, R.M., et al., Patient-reported barriers to  
colorectal cancer screening:  
a mixed-methods  
analysis. American journal of preventive medicine,  
2010. 38(5): p. 508-516.  
THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE CÔNG NHÂN NGÀNH  
MAY TẠI CÔNG TY TNHH HAIVINA KIM LIÊN, NGHỆ AN NĂM 2020  
Hoàng Thị Giang1, Lê Tuấn Anh2,  
Vũ Hải Vinh3, Phạm Minh Khuê1  
môi trường lao động và 1000 người lao động thuộc  
TÓM TẮT31  
công ty nhằm mục đích đánh giá điều kiện lao động  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành tại Công ty  
tại và tình trạng sức khỏe bệnh tật của công nhân tại  
TNHH Haivina Kim Liên, Nghệ An từ tháng 1 đến  
tháng 12 năm 2020 dựa trên công cụ đo đạc đánh giá  
cơ sở này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, về điều kiện  
lao động, 20/45 mẫu đo nhiệt độ, 21/45 mẫu đo độ  
ẩm, 18/45 mẫu đo tốc độ gió, 26/45 mẫu đo chiếu  
1Trường Đại học Y Dược Hải Phòng  
2Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An  
3Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòng  
Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thị Giang  
Ngày nhận bài: 9.3.2021  
sáng, 6/45 mẫu đo tiếng ồn và 11/45 mẫu đo bụi  
bông không đạt tiêu chuẩn cho phép theo các tiêu  
chuẩn cho phép tại Việt Nam. Tỉ lệ người lao động có  
sức khỏe loại I, loại II chiếm tỉ lệ cao nhất với 86,9%.  
Bệnh tật tai – mũi – họng và phế quản – phổi là  
những nhóm bệnh tật có tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu  
bệnh tật của công nhân may tại đây, tỉ lệ lần lượt là  
15,3% và 10,6%. Tuổi nghề cao có ảnh hưởng đến tỉ  
lệ mắc các bệnh lí tai – mũi - họng, phế quản – phổi,  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
126  
pdf 6 trang yennguyen 18600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ về sàng lọc ung thư đại trực tràng của người dân từ 50-75 tuổi trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_ve_sang_loc_ung_thu_dai_truc_trang_cua_ngu.pdf