Hiệu quả thuốc Sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích

vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
HIỆU QUẢ THUỐC SULPIRIDE TRONG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG  
CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHẬN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH  
Võ Duy Thông1,2, Nguyễn Ngọc Phúc1  
Center. Methods: We conducted a cross-sectional  
TÓM TẮT16  
study in patients diagnosed with IBS at the  
Gastroenterology clinic of University Medical Center  
from 01st June, 2018 to 1st February, 2019, indicated  
with or without sulpiride. The data of patient  
informations were collected, the QoL of patients was  
accessed based on validated Vietnamese version IBS-  
QoL questionnaire for all participants at the baseline.  
and after 8 weeks of follow-up. Results: After 8  
weeks of follow-up, 246 patients completed the study,  
of which 120 patients used sulpiride and 126 patients  
did not use sulpiride, the female / male ratio was  
1.4/1. After 8 weeks of follow-up, the overall IBS-QoL  
score and the domains of IBS-QoL in irritability, health  
anxiety, social response, and relationship in sulpiride  
group were statistically significantly higher than those  
in the non-sulpiride group. (p <0.001). The change in  
IBS-QoL score, the change in domain of discomfort,  
obstruction of performance, fitness, health anxiety,  
social reactions, and relationship in the sulpiride group  
were also higher than these in non-sulpiride group (p  
< 0.05). Conclusion: The use of sulpiride in the  
treatment of IBS patients improved overall QoL score,  
especially changes in the domain of uncomfortable  
characteristics, impeded performance, physical fitness,  
health anxiety, social reactions, relationships.  
Đặt vấn đề: Hội chứng ruột kích thích (IBS) là  
một bệnh lý với các triệu chứng đường tiêu hóa như  
đau bụng, chướng bụng, đầy hơi, ảnh hưởng nhiều  
đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân  
(BN). Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả điều trị của thuốc  
sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh  
nhận hội chứng ruột kích thích. Đối tượng và  
phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang  
mô tả thực hiện trên những BN IBS được bác sĩ chẩn  
đoán bằng tiêu chuẩn ROME III tại phòng khám Tiêu  
hoá, bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ  
01/06/2018 – 01/02/2019, có hoặc không sử dụng  
sulpiride. Thu thập số liệu về đặc điểm nền của bệnh  
nhân, điểm CLCS được thu thập dựa trên bộ câu hỏi  
IBS-QoL phiên bản tiếng Việt đã được dịch thuật và  
thẩm định cho toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu  
tại thời điểm ban đầu và sau 8 tuần theo dõi. Kết  
quả: Sau 8 tuần theo dõi, 246 BN hoàn thành nghiên  
cứu, trong đó 120 BN nhóm điều trị có sulpiride và  
126 BN nhóm điều trị không có sulpiride, tỷ lệ nữ/nam  
là 1,4/1. Sau 8 tuần theo dõi, kết quả điểm CLCS tổng  
thể và các điểm CLCS ở các khía cạnh đặc điểm khó  
chịu, lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ  
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không  
sulpiride (p < 0,001). Khi đánh giá độ thay đổi điểm  
CLCS, độ thay đổi điểm CLCS tổng thể và các khía  
cạnh khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng  
sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ ở nhóm có  
sulpiride cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với  
nhóm không dùng sulpiride, ulpuride (p < 0,05). Kết  
luận: Sử dụng thuốc sulpiride điều trị BN IBS giúp cải  
thiện CLCS tổng thể, thay đổi ở các đặc điểm khó  
chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng sức khỏe,  
phản ứng xã hội, mối quan hệ.  
Keywords: Sulpiride, irritable bowel syndrome,  
quality of life.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một bệnh lý  
với các triệu chứng đường tiêu hóa như đau  
bụng, chướng bụng, đầy hơi… Mặc dù IBS khá  
phổ biến nhưng việc chẩn đoán và điều trị IBS  
tương đối khó khăn. IBS tuy không dẫn đến tử  
vong nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt  
hàng ngày, lao động, học tập và chất lượng cuộc  
sống (CLCS) của bệnh nhân (BN). Nghiên cứu về  
IBS là đề tài khá phổ biến trên thế giới, qua đó,  
tác giả quan tâm nhiều đến các yếu tố tác động  
đến IBS; lo âu, trầm cảm và CLCS của BN IBS  
cũng như các biện pháp giúp BN cải thiện triệu  
chứng IBS [1], [2]. Tuy nhiên tại Việt Nam,  
nghiên cứu về IBS không nhiều, kiến thức của  
BN về các thuốc điều trị triệu chứng IBS vẫn còn  
hạn chế. Trong khi ảnh hưởng của IBS đến đời  
sống hàng ngày của BN là rất lớn. Do vậy, cần  
có nhiều nghiên cứu hơn nữa về hội chứng này.  
Mặt khác, khi đời sống kinh tế xã hội đang ngày  
càng phát triển như hiện nay, CLCS sẽ ngày  
càng trở thành vấn đề được quan tâm do liên  
quan mật thiết đến tình trạng sức khỏe của mỗi  
cá nhân. Một số nghiên cứu cho thấy IBS làm  
Từ khoá: Sulpiride, hội chứng ruột kích thích, chất  
lượng cuộc sống.  
SUMMARY  
THE EFFECT OF SULPIRIDE IN IMPROVING  
QUALITY OF LIFE OF PATIENTS WITH  
IRRITABLE BOWEL SYNDROME  
Background: Irritable bowel syndrome (IBS) is a  
chronic gastrointestinal disease associated with bowel  
dysfunction, which can significantly impact the quality  
of life (QoL) of patients. Objectives: To investigate  
the effect of sulpiride in improving quality in patients  
with IBS by ROME III criteria at University Medical  
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh  
2Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh  
Chịu trách nhiệm chính: Võ Duy Thông  
Ngày nhận bài: 2.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 16.4.2021  
Ngày duyệt bài: 27.4.2021  
64  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
giảm CLCS [1]. BN IBS được điều trị bằng cách  
làm giảm các triệu chứng riêng lẻ của IBS như  
đầy hơi, đau bụng, tiêu chảy và táo bón. Bệnh  
IBS thường liên quan đến lo lắng, trầm cảm và  
rối loạn tâm trạng. Do đó, thuốc chống trầm cảm  
liều thấp có hoặc không có thuốc chống co thắt  
đã được sử dụng để điều trị [3]. Sulpiride là một  
dẫn xuất benzamid được sử dụng để chống loạn  
thần, chống trầm cảm và chống nôn. Cơ chế tác  
động của sulpiride trên BN IBS chưa được biết  
rõ, cơ chế được đề xuất là sulpiride đối kháng  
thụ thể dopamin trung ương và ngoại biên, làm  
giảm nhu động ruột và được sử dụng trong điều  
trị IBS. Sulpiride làm giảm các triệu chứng rối  
loạn vận động kết tràng sau ăn (đau bụng, tiêu  
chảy), liều dùng cho đối tượng nghiên cứu là  
100mg sulpiride tiêm bắp [3]. Nghiên cứu về  
hiệu quả của sulpiride trên BN IBS vẫn còn hạn  
chế, nhưng hiện nay tại một số bệnh viện trên  
địa bàn TP. Hồ Chí Minh, sulpiride được chỉ định  
sử dụng nhiều trên BN IBS. Do đó, mục tiêu  
nghiên cứu nhằm khảo sát hiệu quả điều trị của  
thuốc sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc  
sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích.  
Các bước tiến hành và phân tích số liệu.  
Số liệu được thu thập tại phòng khám tiêu hoá,  
Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và  
thông qua phỏng vấn trực tiếp BN tại thời điểm  
nhận vào nghiên cứu và theo dõi sau mỗi đợt tái  
khám. BN được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm:  
Nhóm điều trị có sulpiride (có sulpiride) và nhóm  
điều trị không có sulpiride (không sulpiride).  
Dữ liệu về đặc điểm nền của bệnh nhân (tuổi,  
giới, nghề nghiệp, phân loại IBS, trình độ học  
vấn, tình trạng hôn nhân), lối sống, thói quen  
sinh hoạt của BN (căng thẳng, hút thuốc lá,  
uống rượu, sử dụng cà phê, sử dụng đồ uống có  
gas, vận động) được dược sĩ thu thập vào thời  
điểm bắt đầu nghiên cứu. Điểm CLCS được thu  
thập dựa trên bộ câu hỏi IBS-QoL phiên bản  
tiếng Việt đã được dịch thuật và thẩm định [4]  
cho toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu tại  
thời điểm ban đầu và sau 8 tuần theo dõi. Điểm  
IBS-QoL cao hơn thể hiện CLCS cao hơn.  
Phân tích dữ liệu: Dữ liệu được xử lý và  
trình bày bằng phần mềm SPSS 20.0. Dữ liệu  
được trình bày bằng trung bình SD với biến  
liên tục và tỷ lệ với biến phân loại. So sánh các  
giá trị trung bình điểm CLCS giữa nhóm sử dụng  
phép kiểm T-test hoặc Mann Whitney. Sử dụng  
hồi quy tuyến tính đa biến để tìm xác định mối  
liên quan giữa các yếu tố đến thay đổi điểm  
CLCS. Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa  
thống kê.  
Vấn đề đạo đức: Quy trình nghiên cứu được  
Hội đồng nghiên cứu khoa học của Đại học Y  
Dược TP. Hồ Chí Minh thông qua và được tiến  
hành đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đạo đức  
trong nghiên cứu Y Học.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu  
đoàn hệ tiến cứu  
Đối tượng nghiên cứu: BN ngoại trú được  
chẩn đoán IBS, đến khám và điều trị tại phòng  
khám tiêu hóa, bệnh viện Đại học Y Dược Thành  
phố. Hồ Chí Minh, thoả mãn các tiêu chuẩn sau:  
Tiêu chuẩn chọn mẫu: BN được chẩn đoán  
IBS theo tiêu chuẩn ROME III. BN đủ 18 tuổi trở  
lên đến khám tại phòng khám tiêu hóa Bệnh viện  
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ ngày  
01/06/2018 – 01/02/2019 và BN đồng ý tham  
gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ bệnh án không  
đủ thông tin nghiên cứu, bệnh nhân có tiền sử  
phẫu thuật đại tràng  
Cỡ mẫu: Tất cả bệnh nhân thoả tiêu chuẩn  
chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Tổng cộng có 289 BN thoả tiêu chuẩn chọn  
mẫu đồng ý tham gia vào nghiên cứu được phân  
vào 2 nhóm: 137 BN nhóm có sulpiride và 152  
BN nhóm không sulpiride. Sau 8 tuần theo dõi,  
246 BN hoàn thành nghiên cứu, trong đó 120 BN  
nhóm điều trị có sulpiride và 126 BN nhóm điều  
trị không có sulpiride.  
Đặc điểm nền của bệnh nhân  
Tổng  
Phân nhóm [n (%)]  
Có sulpiride Không sulpiride  
Đặc điểm  
(n = 246)  
[n (%)]  
103 (41,9)  
143 (58,1)  
52 (21,1)  
171 (69,6)  
23 (9,3)  
Giá trị p  
(n = 120)  
51 (42,5)  
69 (57,5)  
26 (21,7)  
84 (70,0)  
10 (8,3)  
(n = 126)  
52 (41,3)  
74 (58,7)  
26 (20,6)  
87 (69,0)  
13 (10,3)  
Giới tính:  
Nam  
0,701  
Nữ  
Nhóm tuổi: ≤ 30 tuổi  
31-60 tuổi  
Trên 60 tuổi  
0,323  
0,695  
Trình độ học vấn  
65  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
Chưa tốt nghiệp phổ thông  
Tốt nghiệp trung học phổ thông  
Cao đẳng/đại học/sau đại học  
Nghề nghiệp: Sinh viên  
Nông dân  
129 (52,4)  
30 (12,2)  
87 (35,4)  
10 (41,1)  
37 (15,0)  
30 (12,2)  
64 (26,0)  
42 (17,1)  
63 (25,6)  
43 (17,5)  
203 (82,5)  
170 (69,1)  
21 (8,5)  
64 (53,3)  
14 (11,7)  
42 (35,0)  
5 (4,2)  
65 (51,6)  
16 (12,7)  
45 (35,7)  
5 (4,0)  
18 (14,3)  
15  
19 (15,8)  
15 (12,5)  
33 (27,5)  
20 (16,7)  
28 (23,3)  
22 (18,3)  
98 (81,7)  
86 (71,7)  
7 (5,8)  
Công nhân  
0,031  
Nhân viên văn phòng  
Kinh doanh  
31  
22  
35  
Khác  
Tình trạng hôn nhân: Độc thân  
Có gia đình  
21 (16,7)  
105 (83,3)  
84 (66,7)  
14 (11,1)  
28 (22,2)  
0,832  
0,367  
Loại IBS:  
IBS-D  
IBS-C  
IBS-M  
55 (22,4)  
27 (22,5)  
*Nghề nghiệp/ khác gồm: nội trợ, hưu trí,  
Qua kết quả phân tích nhận thấy, tỷ lệ BN  
công việc thời vụ, lái xe  
IBS có lo lắng, căng thẳng là 63,8%. Tất cả BN  
*Chưa tốt nghiệp phổ thông: trình độ học nam điều hút thuốc là và tỷ lệ BN hút thuốc lá là  
vấn của bệnh nhân từ lớp 12 trở xuống chưa thi 8,7%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống  
tốt nghiệp phổ thông. Tốt nghiệp trung học phổ kê giữa hai nhóm về tình trạng căng thẳng, uống  
thông: bệnh nhân tốt nghiệp trung học phổ rượu, cà phê, vận động và hút thuốc lá. Phân  
thông và tham gia vào lực lượng lao động  
*IBS-D: IBS thể tiêu chảy; IBS-C: IBS thể táo không có sulpiride, kết quả cho thấy không có sự  
bón; IBS-M: IBS thể hỗn hợp khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với điểm CLCS  
Điểm chất lượng cuộc sống sau 8 tuần tổng thể và điểm CLCS các khía cạnh của cả 2  
theo dõi nhóm ở thời điểm ban đầu (p > 0,05) (Bảng 2).  
Bảng 2. Đặc điểm chất lượng cuộc sống ban đầu giữa hai nhóm  
tích về điểm CLCS ở 2 nhóm có sulpiride và  
Phân nhóm  
Đặc điểm  
Giá trị p  
Có sulpiride  
Không sulpiride  
(n = 120)  
(n = 126)  
Điểm tổng thể  
Điểm sự khó chịu  
Điểm cản trở hoạt động  
Điểm hình thể  
Điểm lo lắng sức khỏe  
Điểm chế độ ăn kiêng  
Điểm phản ứng xã hội  
Điểm tình dục  
67,02 ± 14,75  
60,03 ± 17,34  
58,75 ± 23,08  
81,18 ± 19,36  
55,47 ± 21,80  
53,67 ± 26,49  
78,32 ± 21,87  
81,02 ± 25,73  
81,16 ± 20,71  
68,91 ± 12,07  
61,12 ± 13,38  
62,54 ± 17,02  
83,81 ± 13,03  
60,31 ± 16,48  
55,07 ± 23,89  
77,96 ± 19,32  
86,33 ± 17,87  
82,85 ± 16,82  
0,125  
0,292  
0,204  
0,185  
0,218  
0,509  
0,517  
0,323  
0,564  
Điểm mối quan hệ  
Sau 8 tuần theo dõi, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm CLCS tổng thể và các điểm CLCS ở các  
khía cạnh đặc điểm khó chịu, lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ cao hơn có ý nghĩa  
thống kê so với nhóm không sulpiride (p < 0,001). Khi đánh giá độ thay đổi điểm CLCS, kết quả cho  
thấy độ thay đổi điểm CLCS tổng thể và các khía cạnh khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng  
sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ ở nhóm có sulpiride cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so  
với nhóm không sulpiride (p < 0,05) (Bảng 3).  
Bảng 3. Điểm chất lượng cuộc sống sau 8 tuần theo dõi  
Phân nhóm  
Điểm CLCS sau 8 tuần theo dõi  
Giá trị p  
Có sulpiride  
Không sulpiride  
(n = 120)  
(n = 126)  
Điểm trung bình CLCS  
Điểm tổng thể  
86,51 ± 8,93  
88,23 ± 13,81  
79,90 ± 15,21  
92,56 ± 11,19  
82,87 ± 7,56  
81,02 ± 7,06  
79,06 ± 12,15  
91,85 ± 9,88  
0,004  
0,005  
0,903  
0,492  
Điểm sự khó chịu  
Điểm cản trở hoạt động  
Điểm hình thể  
66  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
Điểm lo lắng sức khỏe  
Điểm chế độ ăn kiêng  
Điểm phản ứng xã hội  
Điểm tình dục  
88,92 ± 16,24  
62,51 ± 24,01  
92,17 ± 13,90  
86,91 ± 20,75  
95,20 ± 11,15  
75,89 ± 14,54  
63,17 ± 18,63  
82,32 ± 14,08  
88,04 ± 16,18  
84,72 ± 14,56  
< 0,001  
0,918  
< 0,001  
0,712  
Điểm mối quan hệ  
Sự thay đổi (Δ) điểm CLCS  
Δ tổng thể  
< 0,001  
20,89 ± 11,90  
29,51 ± 16,38  
22,11 ± 18,13  
13,17 ± 13,52  
33,64 ± 22,78  
10,04 ± 23,59  
15,50 ± 18,91  
8,21 ± 17,46  
16,12 ± 16,45  
12,78 ± 12,68  
25,04 ± 13,93  
16,18 ± 18,32  
8,92 ± 14,51  
15,20 ± 19,37  
10,71 ± 28,39  
7,73 ± 21,80  
3,08 ± 24,65  
2,19 ± 22,04  
< 0,001  
0,006  
0,031  
0,047  
< 0,001  
0,812  
0,003  
0,089  
< 0,001  
Δ sự khó chịu  
Δ cản trở hoạt động  
Δ hình thể  
Δ lo lắng sức khỏe  
Δ chế độ ăn kiêng  
Δ phản ứng xã hội  
Δ tình dục  
Δ mối quan hệ  
Δ: Sự thay đổi điểm so với giá trị ban đầu  
Khi phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả cho thấy có mối liên quan giữa độ thay đổi từng  
điểm CLCS và hiệu quả của sulpiride giúp cải thiện CLCS ở BN IBS, nghiên cứu sau 8 tuần theo dõi.  
D cao, với 69,1%. Trong nghiên cứu của Dorn S.D  
[7], thời gian mắc IBS trung bình là 6,3 năm (dao  
động từ 3 tháng đến 23 năm). Thời gian mắc IBS  
IV. BÀN LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc an thần  
kinh là sulpiride với 120/246 BN IBS được chỉ  
kéo dài nhiều năm, các triệu chứng xảy ra ồ ạt  
định sử dụng, chiếm tỷ lệ 48,8%. Sulpiride là  
làm BN mệt mỏi, khó chịu, ảnh hưởng đến sinh  
một dẫn xuất benzamid được sử dụng để chống  
hoạt, cuộc sống hàng ngày Với cơ chế tác động  
loạn thần, chống trầm cảm và chống nôn. Cơ  
của Sulupide ngoài làm giảm triệu chứng rối loạn  
chế tác động của sulpiride trên BN IBS chưa  
vận động như đau bụng và tiêu chảy, thuốc còn  
được biết rõ, cơ chế được đề xuất là sulpiride đối  
kháng thụ thể dopamin trung ương và ngoại  
cải thiện tình trạng lo âu của bệnh nhân, từ đó  
giúp cải thiện tổng thể CLCS ở nhóm có sulpiride  
biên, làm giảm nhu động ruột và được sử dụng  
so với nhóm không sulpiride.  
trong điều trị IBS. Sulpiride làm giảm các triệu  
chứng rối loạn vận động kết tràng sau ăn (đau  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, liều dùng  
sulpiride tương tự nghiên cứu của Dorn S.D  
bụng, tiêu chảy) [3].  
(50mg x 2 lần/ngày), sau 8 tuần theo dõi, kết  
Sau 8 tuần theo dõi, có sự cải thiện đáng kể  
về CLCS ở nhóm có sulpiride so với nhóm không  
qủa cho thấy điểm CLCS tổng thể thay đổi đáng  
kể so với nhóm không sulpiride, đặc biệt ở đặc  
sulpiride. CLCS được cải thiện ở các khía cạnh:  
điểm khó chịu, lo lắng sức khoẻ, phản ứng xã  
sự khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng  
hội và các mối quan hệ. Đồng thời, độ thay đổi  
sức khoẻ, phản ứng xã hội, mối quan hệ. Kết  
điểm CLCS cũng thay đổi nhiều so với với nhóm  
quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến khẳng  
không sulpiride. Tuy nhiên, về thời gian điều trị  
định lại mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả  
sulpiride và sự cải thiện CLCS ở BN IBS. Kết quả  
hiện vẫn chưa thống nhất ở một số nghiên cứu  
cũng như ở các hướng dẫn điều trị. Trong hướng  
nghiên cứu là cơ sở đầu tiên cho thấy hiệu quả  
dẫn thực hành trên BN IBS năm 2017 của hiệp  
của sulpiride trong việc cải thiện CLCS của BN  
hội tiêu hoá Hàn Quốc cũng khuyến cáo sử dụng  
IBS. Kết quả nghiên cứu của Jarrett cho thấy có  
sự cải thiện đáng kể ở triệu chứng IBS và cả  
điểm CLCS ở nhóm có sulpiride và nhóm không  
sulpiride (p<0,001) [5]. Nghiên cứu của  
thuốc điều trị IBS trong vòng 4 tuần, sau đó  
đánh gía lại tình trạng BN và xem xét tiếp tục sử  
dụng thuốc.  
Schneider ghi nhận có sự cải thiện CLCS dần  
trong 3 tháng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)  
[6]. Các nghiên cứu cho thấy việc dùng thuốc cải  
V. KẾT LUẬN  
Sử dụng thuốc sulpiride điều trị BN IBS giúp  
cải thiện CLCS tổng thể, đặc điệc thay đổi ở các  
đặc điểm khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể,  
thiện tình trạng rối loạn lo âu ở BN mắc IBS giúp  
cải thiện CLCS liên quan đến sức khỏe, điểm  
lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ.  
phản ứng xã hội và cải thiện điểm mối quan hệ.  
Nghiên cứu được tiến hành tại một trung tâm,  
do vậy việc cần khảo sát sử dụng thuốc sulpiride  
Nghiên cứu cho kết quả tương đồng với nhiều  
nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ mắc IBS-  
67  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
syndrome. Vietnam Journal of Medicine and  
tại các bệnh viện để mở rộng nghiên cứu đánh  
giá hiệu quả của các thuốc.  
Pharmacy. 2018. 23(2):227-233.  
5. Jarrett ME, Cain KC, Burr RL, et al.  
Comprehensive self-management for irritable  
bowel syndrome: Randomized trial of in-person  
versus combined in-person and telephone  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Canavan C. et al. The epidemiology of irritable  
bowel syndrome. Clinical epidemiology. 2014. 6:71.  
2. Võ Thị Thuý Kiều, Bùi Thị Hương Quỳnh, Võ  
Duy Thông. Khảo sát việc điều trị hội chứng ruột  
kích thích tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Tạp  
chí Y học TP. Hồ Chí Minh. 2015. 19: 760-765.  
3. Agarwal N, Spiegel BM. The effect of irritable  
bowel syndrome on health-related quality of life  
and health care expenditures. Gastroenterology  
Clinics. 2011; 40(1):11-19  
sessions.  
The  
American  
Journal  
of  
Gastroenterology. 2009. 104(12):3004  
6. Schneider A, Rosenberger S, Bobardt J. Self-  
help guidebook improved quality of life for patients  
with irritable bowel syndrome. PloS One. 2017.  
12(7): e0181764.  
7. Dorn SD, Palsson OS, Woldeghebriel M, et al.  
Development and pilot testing of an integrated,  
web‐based self‐management program for irritable  
bowel syndrome (IBS). Neurogastroenterology &  
Motility. 2015; 27(1):128-134.  
4. Doan Phan Ngoc Thao, Nguyen Ngoc Phuc,  
Vo Duy Thong, Bui Thi Huong Quynh.  
Investigation of quality of life and factors related  
to quality of life of patients with irritable bowel  
CHI PHÍ TRỰC TIẾP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN  
TẠI VIỆT NAM, NĂM 2019  
Nguyễn Quỳnh Anh*, Nguyễn Thu Hà*  
retrospective billing data from hospital discharge  
records and interviews with 90 liver cancer patients  
who completed treatment during data collection of the  
study, from December 2019 to June 2020 at Vietnam  
National Cancer Hospital. Results and conclusions:  
During the current treatment, the total direct cost was  
about 47,305,000 VND with the lowest cost of  
12,957,000 VND and the highest cost of 11,680,000  
VND. For total costs in 2019, the average total direct  
costs amount to VND 250,857,000 with the lowest  
cost of VND 31,288,000 and the highest cost of VND  
1,291,727,000. Among the cost groups, household  
out-of-pocket expenses accounted for a larger share.  
Keywords: Direct treatment costs, liver cancer,  
Vietnam  
TÓM TẮT17  
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo  
lường chi phí trực tiếp điều trị ung thư gan tại Việt  
Nam năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên  
cứu mô tả cắt ngang, dựa trên hồi cứu số liệu từ hồ  
sơ thanh toán khi ra viện và phỏng vấn 90 người bệnh  
ung thư gan hoàn thành đợt điều trị trong thời gian  
thu thập số liệu của nghiên cứu, từ tháng 12/2019  
đến tháng 6/2020 tại bệnh viện K Trung Ương. Kết  
quả và kết luận: Nghiên cứu cho thấy, trong đợt  
điều trị hiện tại, tổng chi phí trực tiếp vào khoảng  
47.305.000 VNĐ với chi phí thấp nhất là 12.957.000  
VNĐ và chi phí cao nhất là 111.680.000 VNĐ. Đối với  
tổng chi phí trong năm 2019, tổng chi phí trực tiếp  
trung bình lên đến tổng chi phí trực tiếp vào khoảng  
250.857.000 VNĐ với chi phí thấp nhất là 31.288.000  
VNĐ và chi phí cao nhất là 1.291.727.000 VNĐ. Trong  
các nhóm chi phí, chi phí tiền túi hộ gia đình đều  
chiếm tỷ trọng lớn hơn.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ở cả hai giới, ung thư gan đứng hàng đầu với  
tỷ lệ 15,4% tổng số mới mắc ung thư, tiếp đến  
là ung thư phổi, dạ dày, vú, đại trực tràng. Các  
bệnh phổ biến ở nam giới là ung thư gan, ung  
thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng  
và ung thư vòm họng, trong khi các bệnh phổ  
biến ở nữ giới lần lượt là ung thư gan, ung thư  
phổi, ung thư vú, ung thư dạ dày và ung thư cổ  
tử cung. Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật tại Việt  
Nam năm 2017 cũng chỉ ra ung thư phổi, ung  
thư gan, ung thư đại trực tràng là 3 nhóm bệnh  
ung thư có gánh nặng hàng đầu trong nhóm  
bệnh ung thư (1, 2, 3).  
Từ khoá: Chi phí điều trị trực tiếp, ung thư gan,  
Việt Nam  
SUMMARY  
DIRECT COST OF LIVER CANCER  
TREATMENT IN VIETNAM, 2019  
Objective: To measure the direct cost of liver  
cancer treatment in Vietnam in 2019. Methods:  
Cross-sectional  
descriptive  
study,  
based  
on  
*Trường Đại học Y tế Công Cộng  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quỳnh Anh  
Ngày nhận bài: 4.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 20.4.2021  
Ngày duyệt bài: 28.4.2021  
Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, chi phí  
các dịch vụ y tế tăng cao, sự già hóa dân số và  
nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng lên không  
ngừng, các nhà hoạch định chính sách phải cân  
68  
pdf 5 trang yennguyen 18500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả thuốc Sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_thuoc_sulpiride_trong_cai_thien_chat_luong_cuoc_son.pdf