Hiệu quả thuốc Sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021
HIỆU QUẢ THUỐC SULPIRIDE TRONG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHẬN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH
Võ Duy Thông1,2, Nguyễn Ngọc Phúc1
Center. Methods: We conducted a cross-sectional
TÓM TẮT16
study in patients diagnosed with IBS at the
Gastroenterology clinic of University Medical Center
from 01st June, 2018 to 1st February, 2019, indicated
with or without sulpiride. The data of patient
informations were collected, the QoL of patients was
accessed based on validated Vietnamese version IBS-
QoL questionnaire for all participants at the baseline.
and after 8 weeks of follow-up. Results: After 8
weeks of follow-up, 246 patients completed the study,
of which 120 patients used sulpiride and 126 patients
did not use sulpiride, the female / male ratio was
1.4/1. After 8 weeks of follow-up, the overall IBS-QoL
score and the domains of IBS-QoL in irritability, health
anxiety, social response, and relationship in sulpiride
group were statistically significantly higher than those
in the non-sulpiride group. (p <0.001). The change in
IBS-QoL score, the change in domain of discomfort,
obstruction of performance, fitness, health anxiety,
social reactions, and relationship in the sulpiride group
were also higher than these in non-sulpiride group (p
< 0.05). Conclusion: The use of sulpiride in the
treatment of IBS patients improved overall QoL score,
especially changes in the domain of uncomfortable
characteristics, impeded performance, physical fitness,
health anxiety, social reactions, relationships.
Đặt vấn đề: Hội chứng ruột kích thích (IBS) là
một bệnh lý với các triệu chứng đường tiêu hóa như
đau bụng, chướng bụng, đầy hơi, ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân
(BN). Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả điều trị của thuốc
sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh
nhận hội chứng ruột kích thích. Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang
mô tả thực hiện trên những BN IBS được bác sĩ chẩn
đoán bằng tiêu chuẩn ROME III tại phòng khám Tiêu
hoá, bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ
01/06/2018 – 01/02/2019, có hoặc không sử dụng
sulpiride. Thu thập số liệu về đặc điểm nền của bệnh
nhân, điểm CLCS được thu thập dựa trên bộ câu hỏi
IBS-QoL phiên bản tiếng Việt đã được dịch thuật và
thẩm định cho toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu
tại thời điểm ban đầu và sau 8 tuần theo dõi. Kết
quả: Sau 8 tuần theo dõi, 246 BN hoàn thành nghiên
cứu, trong đó 120 BN nhóm điều trị có sulpiride và
126 BN nhóm điều trị không có sulpiride, tỷ lệ nữ/nam
là 1,4/1. Sau 8 tuần theo dõi, kết quả điểm CLCS tổng
thể và các điểm CLCS ở các khía cạnh đặc điểm khó
chịu, lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không
sulpiride (p < 0,001). Khi đánh giá độ thay đổi điểm
CLCS, độ thay đổi điểm CLCS tổng thể và các khía
cạnh khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng
sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ ở nhóm có
sulpiride cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm không dùng sulpiride, ulpuride (p < 0,05). Kết
luận: Sử dụng thuốc sulpiride điều trị BN IBS giúp cải
thiện CLCS tổng thể, thay đổi ở các đặc điểm khó
chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng sức khỏe,
phản ứng xã hội, mối quan hệ.
Keywords: Sulpiride, irritable bowel syndrome,
quality of life.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một bệnh lý
với các triệu chứng đường tiêu hóa như đau
bụng, chướng bụng, đầy hơi… Mặc dù IBS khá
phổ biến nhưng việc chẩn đoán và điều trị IBS
tương đối khó khăn. IBS tuy không dẫn đến tử
vong nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt
hàng ngày, lao động, học tập và chất lượng cuộc
sống (CLCS) của bệnh nhân (BN). Nghiên cứu về
IBS là đề tài khá phổ biến trên thế giới, qua đó,
tác giả quan tâm nhiều đến các yếu tố tác động
đến IBS; lo âu, trầm cảm và CLCS của BN IBS
cũng như các biện pháp giúp BN cải thiện triệu
chứng IBS [1], [2]. Tuy nhiên tại Việt Nam,
nghiên cứu về IBS không nhiều, kiến thức của
BN về các thuốc điều trị triệu chứng IBS vẫn còn
hạn chế. Trong khi ảnh hưởng của IBS đến đời
sống hàng ngày của BN là rất lớn. Do vậy, cần
có nhiều nghiên cứu hơn nữa về hội chứng này.
Mặt khác, khi đời sống kinh tế xã hội đang ngày
càng phát triển như hiện nay, CLCS sẽ ngày
càng trở thành vấn đề được quan tâm do liên
quan mật thiết đến tình trạng sức khỏe của mỗi
cá nhân. Một số nghiên cứu cho thấy IBS làm
Từ khoá: Sulpiride, hội chứng ruột kích thích, chất
lượng cuộc sống.
SUMMARY
THE EFFECT OF SULPIRIDE IN IMPROVING
QUALITY OF LIFE OF PATIENTS WITH
IRRITABLE BOWEL SYNDROME
Background: Irritable bowel syndrome (IBS) is a
chronic gastrointestinal disease associated with bowel
dysfunction, which can significantly impact the quality
of life (QoL) of patients. Objectives: To investigate
the effect of sulpiride in improving quality in patients
with IBS by ROME III criteria at University Medical
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Võ Duy Thông
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 2.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 16.4.2021
Ngày duyệt bài: 27.4.2021
64
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021
giảm CLCS [1]. BN IBS được điều trị bằng cách
làm giảm các triệu chứng riêng lẻ của IBS như
đầy hơi, đau bụng, tiêu chảy và táo bón. Bệnh
IBS thường liên quan đến lo lắng, trầm cảm và
rối loạn tâm trạng. Do đó, thuốc chống trầm cảm
liều thấp có hoặc không có thuốc chống co thắt
đã được sử dụng để điều trị [3]. Sulpiride là một
dẫn xuất benzamid được sử dụng để chống loạn
thần, chống trầm cảm và chống nôn. Cơ chế tác
động của sulpiride trên BN IBS chưa được biết
rõ, cơ chế được đề xuất là sulpiride đối kháng
thụ thể dopamin trung ương và ngoại biên, làm
giảm nhu động ruột và được sử dụng trong điều
trị IBS. Sulpiride làm giảm các triệu chứng rối
loạn vận động kết tràng sau ăn (đau bụng, tiêu
chảy), liều dùng cho đối tượng nghiên cứu là
100mg sulpiride tiêm bắp [3]. Nghiên cứu về
hiệu quả của sulpiride trên BN IBS vẫn còn hạn
chế, nhưng hiện nay tại một số bệnh viện trên
địa bàn TP. Hồ Chí Minh, sulpiride được chỉ định
sử dụng nhiều trên BN IBS. Do đó, mục tiêu
nghiên cứu nhằm khảo sát hiệu quả điều trị của
thuốc sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc
sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích.
Các bước tiến hành và phân tích số liệu.
Số liệu được thu thập tại phòng khám tiêu hoá,
Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và
thông qua phỏng vấn trực tiếp BN tại thời điểm
nhận vào nghiên cứu và theo dõi sau mỗi đợt tái
khám. BN được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm:
Nhóm điều trị có sulpiride (có sulpiride) và nhóm
điều trị không có sulpiride (không sulpiride).
Dữ liệu về đặc điểm nền của bệnh nhân (tuổi,
giới, nghề nghiệp, phân loại IBS, trình độ học
vấn, tình trạng hôn nhân), lối sống, thói quen
sinh hoạt của BN (căng thẳng, hút thuốc lá,
uống rượu, sử dụng cà phê, sử dụng đồ uống có
gas, vận động) được dược sĩ thu thập vào thời
điểm bắt đầu nghiên cứu. Điểm CLCS được thu
thập dựa trên bộ câu hỏi IBS-QoL phiên bản
tiếng Việt đã được dịch thuật và thẩm định [4]
cho toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu tại
thời điểm ban đầu và sau 8 tuần theo dõi. Điểm
IBS-QoL cao hơn thể hiện CLCS cao hơn.
Phân tích dữ liệu: Dữ liệu được xử lý và
trình bày bằng phần mềm SPSS 20.0. Dữ liệu
được trình bày bằng trung bình SD với biến
liên tục và tỷ lệ với biến phân loại. So sánh các
giá trị trung bình điểm CLCS giữa nhóm sử dụng
phép kiểm T-test hoặc Mann Whitney. Sử dụng
hồi quy tuyến tính đa biến để tìm xác định mối
liên quan giữa các yếu tố đến thay đổi điểm
CLCS. Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa
thống kê.
Vấn đề đạo đức: Quy trình nghiên cứu được
Hội đồng nghiên cứu khoa học của Đại học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh thông qua và được tiến
hành đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đạo đức
trong nghiên cứu Y Học.
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
đoàn hệ tiến cứu
Đối tượng nghiên cứu: BN ngoại trú được
chẩn đoán IBS, đến khám và điều trị tại phòng
khám tiêu hóa, bệnh viện Đại học Y Dược Thành
phố. Hồ Chí Minh, thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn chọn mẫu: BN được chẩn đoán
IBS theo tiêu chuẩn ROME III. BN đủ 18 tuổi trở
lên đến khám tại phòng khám tiêu hóa Bệnh viện
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ ngày
01/06/2018 – 01/02/2019 và BN đồng ý tham
gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ bệnh án không
đủ thông tin nghiên cứu, bệnh nhân có tiền sử
phẫu thuật đại tràng
Cỡ mẫu: Tất cả bệnh nhân thoả tiêu chuẩn
chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng cộng có 289 BN thoả tiêu chuẩn chọn
mẫu đồng ý tham gia vào nghiên cứu được phân
vào 2 nhóm: 137 BN nhóm có sulpiride và 152
BN nhóm không sulpiride. Sau 8 tuần theo dõi,
246 BN hoàn thành nghiên cứu, trong đó 120 BN
nhóm điều trị có sulpiride và 126 BN nhóm điều
trị không có sulpiride.
Đặc điểm nền của bệnh nhân
Tổng
Phân nhóm [n (%)]
Có sulpiride Không sulpiride
Đặc điểm
(n = 246)
[n (%)]
103 (41,9)
143 (58,1)
52 (21,1)
171 (69,6)
23 (9,3)
Giá trị p
(n = 120)
51 (42,5)
69 (57,5)
26 (21,7)
84 (70,0)
10 (8,3)
(n = 126)
52 (41,3)
74 (58,7)
26 (20,6)
87 (69,0)
13 (10,3)
Giới tính:
Nam
0,701
Nữ
Nhóm tuổi: ≤ 30 tuổi
31-60 tuổi
Trên 60 tuổi
0,323
0,695
Trình độ học vấn
65
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021
Chưa tốt nghiệp phổ thông
Tốt nghiệp trung học phổ thông
Cao đẳng/đại học/sau đại học
Nghề nghiệp: Sinh viên
Nông dân
129 (52,4)
30 (12,2)
87 (35,4)
10 (41,1)
37 (15,0)
30 (12,2)
64 (26,0)
42 (17,1)
63 (25,6)
43 (17,5)
203 (82,5)
170 (69,1)
21 (8,5)
64 (53,3)
14 (11,7)
42 (35,0)
5 (4,2)
65 (51,6)
16 (12,7)
45 (35,7)
5 (4,0)
18 (14,3)
15
19 (15,8)
15 (12,5)
33 (27,5)
20 (16,7)
28 (23,3)
22 (18,3)
98 (81,7)
86 (71,7)
7 (5,8)
Công nhân
0,031
Nhân viên văn phòng
Kinh doanh
31
22
35
Khác
Tình trạng hôn nhân: Độc thân
Có gia đình
21 (16,7)
105 (83,3)
84 (66,7)
14 (11,1)
28 (22,2)
0,832
0,367
Loại IBS:
IBS-D
IBS-C
IBS-M
55 (22,4)
27 (22,5)
*Nghề nghiệp/ khác gồm: nội trợ, hưu trí,
Qua kết quả phân tích nhận thấy, tỷ lệ BN
công việc thời vụ, lái xe
IBS có lo lắng, căng thẳng là 63,8%. Tất cả BN
*Chưa tốt nghiệp phổ thông: trình độ học nam điều hút thuốc là và tỷ lệ BN hút thuốc lá là
vấn của bệnh nhân từ lớp 12 trở xuống chưa thi 8,7%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
tốt nghiệp phổ thông. Tốt nghiệp trung học phổ kê giữa hai nhóm về tình trạng căng thẳng, uống
thông: bệnh nhân tốt nghiệp trung học phổ rượu, cà phê, vận động và hút thuốc lá. Phân
thông và tham gia vào lực lượng lao động
*IBS-D: IBS thể tiêu chảy; IBS-C: IBS thể táo không có sulpiride, kết quả cho thấy không có sự
bón; IBS-M: IBS thể hỗn hợp khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với điểm CLCS
Điểm chất lượng cuộc sống sau 8 tuần tổng thể và điểm CLCS các khía cạnh của cả 2
theo dõi nhóm ở thời điểm ban đầu (p > 0,05) (Bảng 2).
Bảng 2. Đặc điểm chất lượng cuộc sống ban đầu giữa hai nhóm
tích về điểm CLCS ở 2 nhóm có sulpiride và
Phân nhóm
Đặc điểm
Giá trị p
Có sulpiride
Không sulpiride
(n = 120)
(n = 126)
Điểm tổng thể
Điểm sự khó chịu
Điểm cản trở hoạt động
Điểm hình thể
Điểm lo lắng sức khỏe
Điểm chế độ ăn kiêng
Điểm phản ứng xã hội
Điểm tình dục
67,02 ± 14,75
60,03 ± 17,34
58,75 ± 23,08
81,18 ± 19,36
55,47 ± 21,80
53,67 ± 26,49
78,32 ± 21,87
81,02 ± 25,73
81,16 ± 20,71
68,91 ± 12,07
61,12 ± 13,38
62,54 ± 17,02
83,81 ± 13,03
60,31 ± 16,48
55,07 ± 23,89
77,96 ± 19,32
86,33 ± 17,87
82,85 ± 16,82
0,125
0,292
0,204
0,185
0,218
0,509
0,517
0,323
0,564
Điểm mối quan hệ
Sau 8 tuần theo dõi, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm CLCS tổng thể và các điểm CLCS ở các
khía cạnh đặc điểm khó chịu, lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nhóm không sulpiride (p < 0,001). Khi đánh giá độ thay đổi điểm CLCS, kết quả cho
thấy độ thay đổi điểm CLCS tổng thể và các khía cạnh khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng
sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ ở nhóm có sulpiride cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so
với nhóm không sulpiride (p < 0,05) (Bảng 3).
Bảng 3. Điểm chất lượng cuộc sống sau 8 tuần theo dõi
Phân nhóm
Điểm CLCS sau 8 tuần theo dõi
Giá trị p
Có sulpiride
Không sulpiride
(n = 120)
(n = 126)
Điểm trung bình CLCS
Điểm tổng thể
86,51 ± 8,93
88,23 ± 13,81
79,90 ± 15,21
92,56 ± 11,19
82,87 ± 7,56
81,02 ± 7,06
79,06 ± 12,15
91,85 ± 9,88
0,004
0,005
0,903
0,492
Điểm sự khó chịu
Điểm cản trở hoạt động
Điểm hình thể
66
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021
Điểm lo lắng sức khỏe
Điểm chế độ ăn kiêng
Điểm phản ứng xã hội
Điểm tình dục
88,92 ± 16,24
62,51 ± 24,01
92,17 ± 13,90
86,91 ± 20,75
95,20 ± 11,15
75,89 ± 14,54
63,17 ± 18,63
82,32 ± 14,08
88,04 ± 16,18
84,72 ± 14,56
< 0,001
0,918
< 0,001
0,712
Điểm mối quan hệ
Sự thay đổi (Δ) điểm CLCS
Δ tổng thể
< 0,001
20,89 ± 11,90
29,51 ± 16,38
22,11 ± 18,13
13,17 ± 13,52
33,64 ± 22,78
10,04 ± 23,59
15,50 ± 18,91
8,21 ± 17,46
16,12 ± 16,45
12,78 ± 12,68
25,04 ± 13,93
16,18 ± 18,32
8,92 ± 14,51
15,20 ± 19,37
10,71 ± 28,39
7,73 ± 21,80
3,08 ± 24,65
2,19 ± 22,04
< 0,001
0,006
0,031
0,047
< 0,001
0,812
0,003
0,089
< 0,001
Δ sự khó chịu
Δ cản trở hoạt động
Δ hình thể
Δ lo lắng sức khỏe
Δ chế độ ăn kiêng
Δ phản ứng xã hội
Δ tình dục
Δ mối quan hệ
Δ: Sự thay đổi điểm so với giá trị ban đầu
Khi phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả cho thấy có mối liên quan giữa độ thay đổi từng
điểm CLCS và hiệu quả của sulpiride giúp cải thiện CLCS ở BN IBS, nghiên cứu sau 8 tuần theo dõi.
D cao, với 69,1%. Trong nghiên cứu của Dorn S.D
[7], thời gian mắc IBS trung bình là 6,3 năm (dao
động từ 3 tháng đến 23 năm). Thời gian mắc IBS
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc an thần
kinh là sulpiride với 120/246 BN IBS được chỉ
kéo dài nhiều năm, các triệu chứng xảy ra ồ ạt
định sử dụng, chiếm tỷ lệ 48,8%. Sulpiride là
làm BN mệt mỏi, khó chịu, ảnh hưởng đến sinh
một dẫn xuất benzamid được sử dụng để chống
hoạt, cuộc sống hàng ngày Với cơ chế tác động
loạn thần, chống trầm cảm và chống nôn. Cơ
của Sulupide ngoài làm giảm triệu chứng rối loạn
chế tác động của sulpiride trên BN IBS chưa
vận động như đau bụng và tiêu chảy, thuốc còn
được biết rõ, cơ chế được đề xuất là sulpiride đối
kháng thụ thể dopamin trung ương và ngoại
cải thiện tình trạng lo âu của bệnh nhân, từ đó
giúp cải thiện tổng thể CLCS ở nhóm có sulpiride
biên, làm giảm nhu động ruột và được sử dụng
so với nhóm không sulpiride.
trong điều trị IBS. Sulpiride làm giảm các triệu
chứng rối loạn vận động kết tràng sau ăn (đau
Trong nghiên cứu của chúng tôi, liều dùng
sulpiride tương tự nghiên cứu của Dorn S.D
bụng, tiêu chảy) [3].
(50mg x 2 lần/ngày), sau 8 tuần theo dõi, kết
Sau 8 tuần theo dõi, có sự cải thiện đáng kể
về CLCS ở nhóm có sulpiride so với nhóm không
qủa cho thấy điểm CLCS tổng thể thay đổi đáng
kể so với nhóm không sulpiride, đặc biệt ở đặc
sulpiride. CLCS được cải thiện ở các khía cạnh:
điểm khó chịu, lo lắng sức khoẻ, phản ứng xã
sự khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể, lo lắng
hội và các mối quan hệ. Đồng thời, độ thay đổi
sức khoẻ, phản ứng xã hội, mối quan hệ. Kết
điểm CLCS cũng thay đổi nhiều so với với nhóm
quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến khẳng
không sulpiride. Tuy nhiên, về thời gian điều trị
định lại mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả
sulpiride và sự cải thiện CLCS ở BN IBS. Kết quả
hiện vẫn chưa thống nhất ở một số nghiên cứu
cũng như ở các hướng dẫn điều trị. Trong hướng
nghiên cứu là cơ sở đầu tiên cho thấy hiệu quả
dẫn thực hành trên BN IBS năm 2017 của hiệp
của sulpiride trong việc cải thiện CLCS của BN
hội tiêu hoá Hàn Quốc cũng khuyến cáo sử dụng
IBS. Kết quả nghiên cứu của Jarrett cho thấy có
sự cải thiện đáng kể ở triệu chứng IBS và cả
điểm CLCS ở nhóm có sulpiride và nhóm không
sulpiride (p<0,001) [5]. Nghiên cứu của
thuốc điều trị IBS trong vòng 4 tuần, sau đó
đánh gía lại tình trạng BN và xem xét tiếp tục sử
dụng thuốc.
Schneider ghi nhận có sự cải thiện CLCS dần
trong 3 tháng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
[6]. Các nghiên cứu cho thấy việc dùng thuốc cải
V. KẾT LUẬN
Sử dụng thuốc sulpiride điều trị BN IBS giúp
cải thiện CLCS tổng thể, đặc điệc thay đổi ở các
đặc điểm khó chịu, cản trở hoạt động, hình thể,
thiện tình trạng rối loạn lo âu ở BN mắc IBS giúp
cải thiện CLCS liên quan đến sức khỏe, điểm
lo lắng sức khỏe, phản ứng xã hội, mối quan hệ.
phản ứng xã hội và cải thiện điểm mối quan hệ.
Nghiên cứu được tiến hành tại một trung tâm,
do vậy việc cần khảo sát sử dụng thuốc sulpiride
Nghiên cứu cho kết quả tương đồng với nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ mắc IBS-
67
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021
syndrome. Vietnam Journal of Medicine and
tại các bệnh viện để mở rộng nghiên cứu đánh
giá hiệu quả của các thuốc.
Pharmacy. 2018. 23(2):227-233.
5. Jarrett ME, Cain KC, Burr RL, et al.
Comprehensive self-management for irritable
bowel syndrome: Randomized trial of in-person
versus combined in-person and telephone
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Canavan C. et al. The epidemiology of irritable
bowel syndrome. Clinical epidemiology. 2014. 6:71.
2. Võ Thị Thuý Kiều, Bùi Thị Hương Quỳnh, Võ
Duy Thông. Khảo sát việc điều trị hội chứng ruột
kích thích tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Tạp
chí Y học TP. Hồ Chí Minh. 2015. 19: 760-765.
3. Agarwal N, Spiegel BM. The effect of irritable
bowel syndrome on health-related quality of life
and health care expenditures. Gastroenterology
Clinics. 2011; 40(1):11-19
sessions.
The
American
Journal
of
Gastroenterology. 2009. 104(12):3004
6. Schneider A, Rosenberger S, Bobardt J. Self-
help guidebook improved quality of life for patients
with irritable bowel syndrome. PloS One. 2017.
12(7): e0181764.
7. Dorn SD, Palsson OS, Woldeghebriel M, et al.
Development and pilot testing of an integrated,
web‐based self‐management program for irritable
bowel syndrome (IBS). Neurogastroenterology &
Motility. 2015; 27(1):128-134.
4. Doan Phan Ngoc Thao, Nguyen Ngoc Phuc,
Vo Duy Thong, Bui Thi Huong Quynh.
Investigation of quality of life and factors related
to quality of life of patients with irritable bowel
CHI PHÍ TRỰC TIẾP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ GAN
TẠI VIỆT NAM, NĂM 2019
Nguyễn Quỳnh Anh*, Nguyễn Thu Hà*
retrospective billing data from hospital discharge
records and interviews with 90 liver cancer patients
who completed treatment during data collection of the
study, from December 2019 to June 2020 at Vietnam
National Cancer Hospital. Results and conclusions:
During the current treatment, the total direct cost was
about 47,305,000 VND with the lowest cost of
12,957,000 VND and the highest cost of 11,680,000
VND. For total costs in 2019, the average total direct
costs amount to VND 250,857,000 with the lowest
cost of VND 31,288,000 and the highest cost of VND
1,291,727,000. Among the cost groups, household
out-of-pocket expenses accounted for a larger share.
Keywords: Direct treatment costs, liver cancer,
Vietnam
TÓM TẮT17
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo
lường chi phí trực tiếp điều trị ung thư gan tại Việt
Nam năm 2019. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên
cứu mô tả cắt ngang, dựa trên hồi cứu số liệu từ hồ
sơ thanh toán khi ra viện và phỏng vấn 90 người bệnh
ung thư gan hoàn thành đợt điều trị trong thời gian
thu thập số liệu của nghiên cứu, từ tháng 12/2019
đến tháng 6/2020 tại bệnh viện K Trung Ương. Kết
quả và kết luận: Nghiên cứu cho thấy, trong đợt
điều trị hiện tại, tổng chi phí trực tiếp vào khoảng
47.305.000 VNĐ với chi phí thấp nhất là 12.957.000
VNĐ và chi phí cao nhất là 111.680.000 VNĐ. Đối với
tổng chi phí trong năm 2019, tổng chi phí trực tiếp
trung bình lên đến tổng chi phí trực tiếp vào khoảng
250.857.000 VNĐ với chi phí thấp nhất là 31.288.000
VNĐ và chi phí cao nhất là 1.291.727.000 VNĐ. Trong
các nhóm chi phí, chi phí tiền túi hộ gia đình đều
chiếm tỷ trọng lớn hơn.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở cả hai giới, ung thư gan đứng hàng đầu với
tỷ lệ 15,4% tổng số mới mắc ung thư, tiếp đến
là ung thư phổi, dạ dày, vú, đại trực tràng. Các
bệnh phổ biến ở nam giới là ung thư gan, ung
thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng
và ung thư vòm họng, trong khi các bệnh phổ
biến ở nữ giới lần lượt là ung thư gan, ung thư
phổi, ung thư vú, ung thư dạ dày và ung thư cổ
tử cung. Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật tại Việt
Nam năm 2017 cũng chỉ ra ung thư phổi, ung
thư gan, ung thư đại trực tràng là 3 nhóm bệnh
ung thư có gánh nặng hàng đầu trong nhóm
bệnh ung thư (1, 2, 3).
Từ khoá: Chi phí điều trị trực tiếp, ung thư gan,
Việt Nam
SUMMARY
DIRECT COST OF LIVER CANCER
TREATMENT IN VIETNAM, 2019
Objective: To measure the direct cost of liver
cancer treatment in Vietnam in 2019. Methods:
Cross-sectional
descriptive
study,
based
on
*Trường Đại học Y tế Công Cộng
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quỳnh Anh
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 4.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 20.4.2021
Ngày duyệt bài: 28.4.2021
Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, chi phí
các dịch vụ y tế tăng cao, sự già hóa dân số và
nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng lên không
ngừng, các nhà hoạch định chính sách phải cân
68
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả thuốc Sulpiride trong cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhận hội chứng ruột kích thích", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hieu_qua_thuoc_sulpiride_trong_cai_thien_chat_luong_cuoc_son.pdf

