Kết quả chuyển hai và ba phôi tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Quốc gia

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 500 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2021  
KẾT QUẢ CHUYỂN HAI VÀ BA PHÔI TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ  
SINH SẢN QUỐC GIA  
Bùi Bảo Lâm*, Nguyễn Viết Tiến*  
the risk of multiple gestation and the risk of premature  
TÓM TẮT  
5
birth than transferring  
2
embryos. Results:  
Mục tiêu: Trong thụ tinh ống nghiệm, phương  
pháp chuyển nhiều phôi một lần làm tăng tử lệ đa  
thai. Đa thai có tỷ lệ kết cục xấu của mẹ và thai nhi.  
Nhằm hạn chế rủi ro này, đề tài nghiên cứu nhằm  
chọn lựa phương pháp chuyển số phôi phù hợp nhất,  
cập nhật theo sự phát triển ở các nước tiên tiến với  
mục tiêu: “Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng,  
kết quả thai nghén của những phụ nữ dưới 35 tuổi  
được thụ tinh trong ống nghiệm chuyển phôi 2 và 3  
phôi nhằm lựa chọn chuyển phôi an toàn, hiệu quả”.  
Đối tượng và phương pháp: 495 trường hợp (250  
chuyển 02 phôi và 245 chuyển 03 phôi đủ các tiêu  
chuẩn. Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm  
sàng, kết quả kích thích buồng trứng, kết quả chuyển  
phôi, kết cục thai nghén. Kết quả: Tỷ lệ có thai sinh  
sống của nhóm chuyển 2 phôi là 35,2% và nhóm  
chuyển 3 phôi là 41,2%. Tỷ lệ đa thai của nhóm  
chuyển 2 phôi là 6% và nhóm chuyển 3 phôi là  
17,1%. Chuyển 3 phôi làm tăng gấp 3,24 lần nguy cơ  
đa thai, gấp 2 lần nguy cơ đẻ non so với chuyển 2  
phôi. Kết luận: Lựa chọn chuyển 2 phôi có hiệu quả  
và an toàn hơn chuyển 3 phôi.  
Transferring 2 embryos is safer than 3 embryos with  
the same pregnancy outcome.  
Keywords: In vitro fertilization (IVF), multiple  
gestations, premature.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tỷ lệ thành công của các trung tâm thụ tinh  
ống nghiệm hàng đầu trên thế giới hiện nay vào  
khoảng 40%[1]. Một trong những lý do đạt được  
tỷ lệ này là do chuyển nhiều phôi trong một lần  
chuyển. Phương pháp này làm tăng tỷ lệ đa thai  
và dẫn tới các kết cục xấu của mẹ và thai.  
Để hạn chế vấn đề này, trên thế giới hiện nay  
đang dần thay đổi từ chuyển nhiều phôi sang  
chuyển 1 hoặc 2 phôi trong 1 chu kỳ. Do tỷ lệ  
thành công của việc chuyển từ 1 tới 2 phôi mỗi  
chu kỳ không có sự khác biệt nhiều so với  
chuyển 3 phôi mỗi chu kỳ [2] nên chúng tôi thực  
hiện đề tài này nhằm mục tiêu: Mô tả đặc điểm  
lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả thai nghén của  
những phụ nữ dưới 35 tuổi được thụ tinh trong  
ống nghiệm chuyển phôi 2 và 3 phôi nhằm lựa  
chọn chuyển phôi an toàn hiệu quả.  
Từ khoá: Thụ tinh ống nghiệm (TTTON), chuyển  
phôi, đa thai, đẻ non.  
SUMMARY  
RESULTS OF TRANSFERRING 2 EMBRYOS  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1. Đối tượng: Có 495 trường hợp (250  
chuyển 02 phôi và 245 chuyển 3 phôi) đủ các  
tiêu chuẩn:  
Nữ được TTTON tuổi < 35. Các phôi chuyển  
là phôi ngày 3, tươi (có ít nhất 1 phôi chất lượng  
tốt). Loại các trường hợp: mang thai hộ, xin  
noãn, phôi đông lạnh, chuyển phôi không phải  
ngày 3. Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng,  
cận lâm sàng, chuyển phôi và kết cục thai nghén.  
2.2. Các biến số nghiên cứu  
Bao gồm: Tuổi tại thời điểm kích thích buồng  
trứng, BMI, thời gian và loại vô sinh... Các xét  
nghiệm FSH, LH, Estradiol ngày 3 kỳ kinh, số  
lượng nang thứ cấp ngày 2 kỳ kinh... Tinh dịch  
đồ. Các chỉ số chu kỳ TTTON. Về kết quả thai  
nghén, đa thai, sinh non, tỷ lệ thai sinh sống...  
2.3. Xử lý số liệu. Xử lý số liệu theo chương  
trình SPSS 20.0, test “Khi” bình phương (2), T-  
Student test. Phân tích hồi quy nhị phân Binary  
Logistic để tính mối tương quan giữa tỷ lệ có thai  
lâm sàng, tỷ lệ thai sinh sống, tỷ lệ đa thai và tỷ  
lệ sinh non với số phôi chuyển. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê khi p < 0,05.  
AND 3 EMBRYOS AT NATIONAL IVF CENTER  
Background: In cycles of in vitro fertilization,  
transferring multiple embryo transfer may increase the  
risk of multiple gestations which can lead to several  
complications for both mother and child. In order to  
reduce the risk, we wanted to study whether  
increasing the number of embryos transferred would  
significantly boots the live birth rate of the patients.  
This article aims to describe the clinical characteristics,  
IVF’s result and pregnancy rates of the women under  
35 years old in fresh cycles, who underwent 2 and 3  
embryos transfer. Subjects and methods: 495  
cases (250 cases who transferred 2 embryos and 245  
cases who transferred 3 embryos). We study patient’s  
characteristic, blood test, IVF’s result and pregnancy  
outcome. Results: the live birth rate of group with 2  
and 3 embryos transfer was 35,2 % and 41.2%,  
relatively (p = 0.17). The multiple gestation rate of 3  
embryos transfer’s group is significantly higher than  
the group which transfer 2 embryos (17,1% and 6%,  
p = 0.0001). Transferring 3 embryos increase both  
*Bệnh viện Phụ sản Trung ương  
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Bảo Lâm  
Ngày nhận bài: 29/12/2021  
Ngày phản biện khoa học: 25/1/2021  
Ngày duyệt bài: 23/2/202  
17  
vietnam medical journal n01 - MARCH - 2021  
= 0,03.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Về tổng liều FSH trung bình là 2190,35 +  
827,05 IU (nhóm 2 phôi dùng nhiều hơn nhóm 3  
phôi) với p = 0,6. Số noãn thu được sau chọc  
hút là 9,98 + 4,36 noãn (ít nhất là 02 noãn/  
bệnh nhân, nhiều nhất là 25 noãn). Số noãn M II  
thu được là 8,26 + 4 noãn. Không có sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê về số noãn MII trung  
bình giữa 2 nhóm chuyển 2 phôi và 3 phôi. Số  
phôi trung bình thu được ở nhóm 2 phôi là 6,46  
+ 3,98 phôi, ít hơn nhóm 3 phôi có ý nghĩa  
thống kê với p = 0,04. Tỷ lệ thụ tinh trung bình  
nhóm 3 phôi là 86,17 + 15%, cao hơn nhóm 2  
phôi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p  
< 0,01. Dày niêm mạc tử cung là 11,27 + 2mm,  
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa  
3.1. Một số đặc điểm và yếu tố liên quan  
vô sinh nữ. Vô sinh nguyên phát (48,7%), thứ  
phát 254 (51,3%). Tuổi trung bình nhóm chuyển  
2 phôi là 29,26 +3,4, nhóm chuyển 3 phôi là  
29,22 + 3,5 năm (p = 0,88). Thời gian vô sinh  
trung bình nhóm chuyển 2 phôi là 4,17+ 2,5 và  
nhóm 3 phôi là 4,39 + 2,8 với (p = 0,37). Chỉ số  
BMI trung bình của các đối tượng là 19,8 +2,4  
điểm trong giới hạn bình thường. Nguyên nhân vô  
sinh do vòi tử cung là thường gặp nhất với  
204/495 trường hợp (41,2%). Tinh trùng bất  
thường ít gặp nhất với 37/495 (7.5%) và 4,5% ở  
nhóm chuyển 3 phôi so với 10,4% nhóm chuyển  
2 phôi). Rối loạn phóng noãn gặp 9% ở nhóm  
chuyển 3 phôi và 13,2% ở nhóm 2 phôi. Các  
nguyên nhân khác có 14,2% ở nhóm chuyển 3  
phôi so với 4,8% nhóm chuyển 2 phôi. Không xác  
định được nguyên nhân ở nhóm chuyển 3 phôi và  
chuyển 2 phôi lần lượt là 39,2% và 22,4%. Có  
454/495 trường hợp kích thích buồng trứng lần  
đầu (91,7%). Ở cả hai nhóm kết quả về nồng độ  
FSH, LH, Estradiol trung bình khi kích thích buồng  
trứng trong giới hạn bình thường. Số nang thứ  
cấp trung bình của nhóm chuyển 2 phôi là 11,28  
+ 4,91 nang, của nhóm chuyển 3 phôi là 10,63 +  
5,14 nang với (p = 0,15). Nồng độ AMH trung  
bình của nhóm chuyển 2 phôi là 3,86 +  
2,84ng/ml, cao hơn nhóm 3 phôi là 3,38 +  
2,1ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p  
2
nhóm chuyển  
2
và  
3 phôi. Nồng độ  
Progesterone ngày tiêm hCG nhóm chuyển 2  
phôi là 2,1+ 1,2nmol/L; nhóm chuyển 3 phôi là  
2,4+0,9nmol/L. Nồng độ Progesterone trung  
bình nhóm 2 phôi thấp hơn nhóm 3 phôi. Sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.  
3.2. Kết quả có thai  
3.2.1. Kết quả có thai theo số phôi  
chuyển. Có tổng cộng 1235 phôi được chuyển.  
Số túi thai quan sát được là 253 túi thai. Tỷ lệ  
làm tổ trung bình là 18,96 + 27,7%, ở nhóm  
chuyển 2 phôi là 16,2 + 29,1%, ở nhóm chuyển  
3 phôi là 21,8 + 25,9%, sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p = 0,025 (Bảng 3.1).  
Bảng 3.1. Kết quả có thai theo số phôi chuyển  
Nhóm chuyển 2  
Nhóm chuyển 3 phôi  
Tổng  
(p)  
Số phôi chuyển  
phôi (N=250)  
(N=245)  
Chỉ số  
%
39,6%  
38%  
6%  
0,4%  
0%  
2,8%  
5,6%  
35,2%  
n
%
53,5%  
49%  
17,1%  
1,2%  
3,5%  
9,4%  
11,02%  
41,22%  
n
0,025  
0,001  
0,014  
0,0001  
0,3  
Tỷ lệ có beta hCG sau chuyển phôi  
Tỷ lệ có thai lâm sàng  
Tỷ lệ đa thai  
(99/250)  
(95/250)  
(15/250)  
(1/250)  
(0/250)  
(7/250)  
(14/250)  
(88/250)  
(131/245)  
(120/245)  
(42/245)  
(3/245)  
Tỷ lệ sảy thai  
Tỷ lệ thai ngoài tử cung  
Tỷ lệ thai lưu  
(7/245)  
0,2  
(23/245)  
(27/245)  
(101/245)  
0,002  
0,0001  
0,168  
0,025  
Tỷ lệ sinh non  
Tỷ lệ thai sinh sống  
Tỷ lệ làm tổ trung bình  
16,2 + 29,1  
21,8 + 25,9  
Tỷ lệ BN có beta hCG sau chuyển phôi của nhóm chuyển 2 phôi và 3/245 ở nhóm chuyển 3  
nhóm chuyển 2 phôi là 39,6%, của nhóm 3 phôi phôi. Tỷ lệ sảy thai là 0,8%. Không có trường  
là 53,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (2 = hợp chửa ngoài tử cung nào trong nhóm chuyển  
9,6 và p = 0,001). Tỷ lệ có thai lâm sàng của 02 phôi. Có 07 trường hợp chửa ngoài tử cung  
nhóm chuyển 2 phôi là 38%, của nhóm 3 phôi là trong nhóm chuyển 03 phôi. Tỷ lệ thai ngoài tử  
49%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (2 = 6,1 cung là 1,4%. Tỷ lệ thai lưu ở nhóm chuyển 2  
và p = 0,014). Tỷ lệ đa thai của nhóm chuyển 3 phôi là 2,8% (7/250 trường hợp), thấp hơn  
phôi cao hơn nhóm chuyển 2 phôi (17,1% và nhóm chuyển 3 phôi (9,4%, 23/245 trường hợp).  
6%), khác biệt có ý nghĩa thống kê (2 = 15 và Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (2 = 9,4  
p = 0,0001). Có 1/250 trường hợp sảy thai trong và p = 0,002). Tỷ lệ sinh non là 7,7%. Tỷ lệ sinh  
18  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 500 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2021  
non ở nhóm chuyển 3 phôi (11,02%, 24/245 nghĩa. Định lượng AMH, nồng độ AMH thường  
trường hợp) cao hơn so với nhóm chuyển 2 phôi không bị dao động trong chu kỳ kinh nguyệt nên  
(5,6%, 14/250 trường hợp). Sự khác biệt có ý độ chính xác cao hơn và tin cậy hơn các chỉ số  
nghĩa thống kê với 2 = 4,7 và p = 0,03. Tỷ lệ FSH, LH, Estradiol. Giá trị bình thường của AMH  
thai sinh sống là 38,2%. Tỷ lệ thai sinh sống của là từ 2 – 6,8ng/ml. Nghiên cứu này, nồng độ  
nhóm chuyển 2 phôi là 35,2%. Tỷ lệ thai sinh AMH trung bình của nhóm chuyển 2 phôi là 3,86  
sống của nhóm chuyển 3 phôi là 41,22%. Không + 2,84 ng/ml và nhóm chuyển 3 phôi là 3,38 +  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ có 2,1 ng/ml đều trong giới hạn bình thường. Tuy  
thai sinh sống giữa 2 nhóm.  
nhiên nồng độ AMH trung bình của của nhóm  
3.2.2. Đánh giá mối tương quan giữa chuyển 2 phôi lớn hơn nhóm chuyển 3 phôi, sự  
kết quả có thai và số phôi chuyển. Tăng số khác biệt có ý nghĩa với p=0,03. Kết quả của  
phôi chuyển từ 2 phôi lên 3 phôi làm tăng khả chúng tôi cao hơn so với Vương Thị Ngọc Lan  
năng có beta hCG sau chuyển phôi lên 1,75 lần. (2016) là 3,09+2,52ng/ml và thấp hơn của  
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,002. Malek Mansour Aghssa và cộng sự (2015) là 4,2  
Khả năng dự đoán chính xác là 53,5%. Tăng số + 2,3 ng/ml[5,8].  
phôi chuyển từ 2 phôi lên 3 phôi làm tăng khả  
Tổng số nang thứ cấp trung bình trong nhóm  
năng có thai lâm sàng lên 1,56 lần. Sự khác biệt chuyển 2 phôi là 11,28 + 4,91 nang, của nhóm  
có ý nghĩa thống kê với p = 0,014. Với khả năng chuyển 3 phôi là 10,63 + 5,14 nang. Sự khác  
dự đoán chính xác là 56,6%. Tăng số phôi biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa thống kê  
chuyển từ 2 phôi lên 3 phôi làm tăng khả năng (p = 0,15). Số nang thứ cấp trung bình trong  
có thai lâm sàng lên 1,3 lần. Sự khác biệt không nghiên cứu thấp hơn của Jayaprakasan (2012)  
có ý nghĩa thống kê với p = 0,168. Khả năng dự và Agarwal (2014).  
đoán chính xác là 61,8%. Tăng số phôi chuyển  
Tồng liều FSH ở nhóm 2 phôi nhiều hơn ở  
từ 2 phôi lên 3 phôi làm tăng nguy cơ đa thai lên nhóm 3 phôi (2208,6 + 890,5 UI so với 2171,7 +  
3,2 lần. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 758,2 UI). Có sự khác biệt về AMH có ý nghĩa  
0,0001. Khả năng dự đoán chính xác là 88,5%. giữa 2 nhóm chuyển 2 và 3 phôi nhưng đa số chỉ  
Tăng số phôi chuyển từ 2 phôi lên 3 phôi làm số AMH của bệnh nhân trong giới hạn bình  
tăng nguy cơ sinh non lên 2 lần. Sự khác biệt có thường (60%) nên ít ảnh hưởng tới tổng liều  
ý nghĩa thống kê với p = 0,03. Khả năng dự FSH. Tổng liểu FSH sử dụng không có sự khác  
đoán chính xác là 91,7%.  
biệt giữa 2 nhóm chuyển 2 và 3 phôi.  
Tổng số noãn thu được là 4939 noãn. Trong  
đó nhóm chuyển 2 phôi là 2593 noãn (52,5%),  
IV. BÀN LUẬN  
4.1. Đặc điểm và một số chỉ số liên quan nhóm chuyển 3 phôi là 2346 noãn (47,5%).  
ở vô sinh nữ dưới 35 tuổi. Trong nghiên cứu  
Số noãn trung bình thu được là 9,98 + 4,36  
của chúng tôi, vô sinh nguyên phát chiếm noãn. Bệnh nhân có số noãn ít nhất là 02 (AMH:  
48,7%, thứ phát chiếm 51,3%. Tuổi trung bình, 0,2 ng/ml), nhiều nhất là 25 noãn (AMH: 15  
thời gian vô sinh, Chỉ số BMI của đối tượng ng/ml). Số noãn trung bình của nhóm chuyển 2  
nghiên cứu, kết quả của nghiên cứu tương đồng phôi nhiều hơn so với nhóm chuyển 3 phôi. Sự  
hoặc không khác biệt nhiều với các tác giả trên khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,04).  
thế giới như Masschaele và cộng sự (2012)  
Tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc Gia, giai  
[2,3], Martikainen [4], Ashrafi và cộng sự đoạn 2015-2019, đa số các trường hợp được  
(2015)[3]. Về nguyên nhân vô sinh thường gặp chuyển 3 phôi. Chuyển 2 phôi thường là do nhu  
là vòi tử cung với 204/495 (41,2%. Ít gặp nhất cầu và nguyện vọng hoặc đối tượng có nhiều  
là bất thường tinh trùng với 37/495 (7,5%). Vô phôi tốt. Sunkara (2011)[6] nghiên cứu phân  
sinh không rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ tương tích gộp 400.135 chu kỳ thụ tinh trong ống  
đối cao (30,7%). Đối chiếu với các nghiên cứu nghiệm cho thấy số nang trung bình là 8 nang  
của Martikainen và cộng sự (2001) [4], Ashrafi thì tỷ lệ thai sinh sống dao động từ 11%-34%.  
(2015) [3]. thấy tỷ lệ này cao (30,7%) so với Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ thai sinh sống  
7,8% (Martikainen) và 15% (Ashrafi). Tại Việt là 38,2% phù hợp với kết quả nghiên cứu trên.  
Nam, tỷ lệ vô sinh do vòi tử cung ở nước ta còn Số noãn MII trung bình của nhóm chuyển 02  
chiếm tỷ lệ cao (41,2%).  
phôi là 8,18 + 4,8 noãn. Số noãn MII trung bình  
Về nồng độ FSH, LH và Estradiol xét nghiệm của nhóm chuyển 3 phôi là 8,33 + 3,0 noãn.  
vào ngày thứ 3 của chu kỳ kinh ở nhóm chuyển Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số  
2 phôi và 3 phôi không có sự khác biệt có ý noãn MII thu được giữa nhóm chuyển 2 phôi và  
19  
vietnam medical journal n01 - MARCH - 2021  
3 phôi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng nhóm chuyển 2 phôi là 61,5+30,5 và nhóm  
tương đồng với nghiên cứu của Ashrafi và đồng chuyển 3 phôi là 61,2 + 35,0 [3]; thấp hơn của  
nghiệp (2015) [3].  
chúng tôi.  
4.2. Kết quả có thai. Tỷ lệ làm tổ của  
Nghiên cứu này có tỷ lệ thụ tinh đạt 81,9%.  
Tỷ lệ thụ tinh trung bình của nhóm chuyển 2 chúng tôi là 253 túi thai, nhóm chuyển 2 phôi là  
phôi là 80,2 + 18%, của nhóm chuyển 3 phôi là 16,2 + 29,1%, nhóm chuyển 3 phôi là 21,8 +  
86,17 +15%. Tỷ lệ thụ tinh trung bình của nhóm 25,9%. Tỷ lệ làm tổ ở nhóm chuyển 3 phôi cao  
chuyển 3 phôi cao hơn nhóm 2 phôi, sự khác hơn nhóm chuyển 2 phôi. Sự khác biệt có ý  
biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01. Theo nghĩa (p = 0,025).  
Ashrafi và cộng sự (2015), tỷ lệ thụ tinh của  
Bảng 4.1. So sánh tỷ lệ làm tổ theo số phôi chuyển giữa các nghiên cứu  
Ashrafi (2015) [3] (p = 0,07)  
Bùi Bảo Lâm (2020) (p = 0.025)  
Nghiên cứu  
Nhóm chuyển  
2 phôi  
26,1 + 35,7  
Nhóm chuyển 3  
phôi  
20,0 + 29,5  
Nhóm chuyển 2  
phôi  
16,2 + 29,1  
Nhóm chuyển 3  
phôi  
21,8 + 25,9  
Chỉ số  
Tỷ lệ làm tổ (%)  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ngược lại so 02 phôi, có 07 trường hợp ở nhóm chuyển 03  
với kết quả nghiên cứu của Ashrafi và cộng sự phôi. Có 1 sảy thai (8 tuần) ở nhóm chuyển 2  
(2015) [3]. Sự khác biệt về kết quả giữa 2 nghiên phôi và 03 trường hợp ở nhóm chuyển 02 phôi  
cứu có thể nằm ở chiến lược chuyển số phôi.  
4.2.1. Tỷ lệ có thai lâm sang. Tỷ lệ có thai  
lâm sàng là 43,43% (của nhóm chuyển 2 phôi là  
38%, nhóm chuyển 3 phôi là 49%, có sự khác  
biệt có ý nghĩa (p = 0,025). Ngày nay trong quá  
trình làm thụ tinh ống nghiệm, người ta quan  
tâm nhiều tới tỷ lệ có thai sinh sống thay vì tỷ lệ  
có thai lâm sàng.  
4.2.2. Tỷ lệ đa thai, tỷ lệ sinh non và tỷ  
lệ có thai sinh sống. Tỷ lệ đa thai nói chung  
trong nghiên cứu của chúng tôi là 11,5%. Tỷ lệ  
đa thai của nhóm chuyển 2 phôi là 6% (15/250),  
nhóm chuyển 3 phôi là 17,1% (42/245 trường  
hợp), sự khác biệt có ý nghĩa p = 0.0001. Việc  
chuyển nhiều phôi sẽ làm tăng nguy cơ đa thai  
đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu  
và đề cập tới trong thời gian gần đây [2,3,4].  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp  
với các tác giả này.  
(12, 15 và 16 tuần).  
Tỷ lệ thai lưu nhóm chuyển 2 phôi: 2,8%  
(7/250 trường hợp), thấp hơn nhóm 3 phôi  
(9,4%, 23/245). Khác biệt có ý nghĩa với 2 =  
9,4 và p = 0,002.  
Việc tăng số phôi chuyển từ 2 lên 3 phôi dẫn  
đến có thai lâm sàng tăng lên 1,56 lần với dự  
đoán chính xác là 56,6%. Nguy cơ đa thai tăng  
lên 3,24 lần với dự doán chính xác 88,5 %. Nguy  
cơ sinh non cũng tăng gấp 2 lần với dự đoán  
chính xác 91,7%. Theo Ashrafi (2015)[3], việc  
chuyển 02 phôi làm tăng tỷ lệ thai sinh sống lên  
gấp 3,1 lần. Chúng tôi thấy rằng việc tăng số  
phôi chuyển từ 2 phôi lên 3 phôi làm tăng nguy  
cơ đa thai và sinh non. Do đó cần có sự thay đổi  
về quan điểm thực hành lâm sàng là giảm số  
lượng phôi chuyển. Các nghiên cứu trên thế giới  
đang tiến hành nhằm giảm số lượng phôi chuyển  
để làm giảm các nguy cơ do đa thai, đặc biệt là  
sinh non [2,3]. Mỹ, Pháp, Canada... chuyển đơn  
phôi có chọn lọc đã và đang áp dụng rộng rãi  
[4]. Theo hiệp hội Nội tiết sinh sản và Hiếm  
muộn Canada, Hiệp hội thực hành Sản - Phụ  
Khoa Canada [7,8], với những phụ nữ dưới 35 tuổi  
được khuyến cáo không nên chuyển quá 2 phôi.  
Tỷ lệ sinh non nói chung trong nghiên cứu là  
8,3%. Tỷ lệ sinh non nhóm chuyển 2 phôi là  
5,6%, nhóm chuyển 3 phôi là 11,02%, sự khác  
biệt có ý nghĩa (p = 0,0001). Như vậy tăng số  
phôi chuyển từ 2 lên 3 phôi sẽ làm tăng nguy cơ  
sinh non. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp  
với các tác giả khác trên thế giới [2,3,4].  
V. KẾT LUẬN  
Tỷ lệ thai sinh sống là 38,2%. Với nhóm  
chuyển 2 phôi là 35,2% và nhóm chuyển 3 phôi  
là 41,2%. Sự khác biệt không có ý nghĩa (p =  
0,17). Như vậy việc tăng số phôi chuyển từ 2  
phôi lên 3 phôi không làm thay đổi tỷ lệ thai sinh  
sống. Một số tác giả khác trên thế giới cũng đã  
nghiên cứu về vấn đề này và có kết quả tương  
tự chúng tôi [3].  
Thời gian vô sinh hay gặp là dưới 5 năm  
(59,4%). Nguyên nhân vô sinh do vòi tử cung  
rất thường gặp (41,2 %). Số nang thứ cấp trung  
bình của nhóm chuyển 2 phôi cao hơn nhóm  
chuyển 3 phôi. Số noãn trung bình sau chọc hút  
của nhóm chuyển 2 phôi nhiều hơn nhóm  
chuyển 3 phôi. Nồng độ progesterone ngày tiêm  
hCG trung bình của nhóm chuyển 3 phôi cao hơn  
Không có chửa ngoài tử cung ở nhóm chuyển  
20  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 500 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2021  
Rates in Good Prognosis Patients. International  
nhóm chuyển 2 phôi. Nhóm chuyển 3 phôi có  
beta hCG sau chuyển phôi, tỷ lệ có thai lâm  
sàng, tỷ lệ đa thai, tỷ lệ sinh non, tỷ lệ thai lưu  
cao hơn nhóm chuyển 2 phôi. Không có sự khác  
biệt về tỷ lệ thai sinh sống giữa 2 nhóm chuyển  
2 và 3 phôi. Chuyển 3 phôi làm tăng gấp 3,24  
lần nguy cơ đa thai, gấp 2 lần nguy cơ đẻ non so  
với chuyển 2 phôi. Chuyển 2 phôi là lựa chọn  
hợp lý, an toàn và hiệu quả.  
journal of fertility & sterility. 2015;9:292-299.  
4. Martikainen H, Group the FES, Tiitinen A, et  
al. One versus two embryo transfer after IVF and  
ICSI:  
a
randomized study. Hum Reprod.  
2001;16(9):1900-1903.  
5. Vương Thị Ngọc Lan. Giá trị các xét nghiệm  
AMH, FSH và AFC dự đoán đáp ứng buồng trứng  
thụ tinh trong ống nghiệm. Đại học Y dược thành  
phố Hồ Chí Minh.2016.  
6. Sunkara SK, Rittenberg V, Raine-Fenning N,  
Bhattacharya S, Zamora J, Coomarasamy A.  
Association between the number of eggs and live  
birth in IVF treatment: an analysis of 400 135  
treatment cycles. Hum Reprod. 2011;26(7):1768-1774.  
7. Taşdemir M, Taşdemir I, Kodama H, Fukuda  
J, Tanaka T. Implantation: Two instead of  
three embryo transfer in in-vitro fertilization. Hum  
Reprod. 1995;10(8):2155-2158.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. International Federation of Fertility Societies’  
Surveillance (IFFS) 2019: Global Trends in  
Reproductive Policy and Practice, 8th Edition.  
Global Reproductive Health. 2019;4(1):e29-e29 .  
2. Masschaele T, Gerris J, Vandekerckhove F, De  
Sutter P. Does transferring three or more  
embryos make sense for a well-defined population  
of infertility patients undergoing IVF/ICSI? Facts  
Views Vis Obgyn. 2012;4(1):51-58.  
8. Min JK, Hughes E, Young D, Joint Sogc-Cfas  
Clinical Practice Guidelines Committee,  
Reproductive  
Endocrinology  
And  
Infertility  
Committee. Elective single embryo transfer  
following in vitro fertilization. J Obstet Gynaecol  
Can. 2010;32(4):363-377.  
3. Ashrafi M, Madani T, Movahedi M, et al.  
Increasing The Number of Embryos Transferred  
from Two to Three, Does not Increase Pregnancy  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU BỆNH NHÂN UNG THƯ  
DI CĂN XƯƠNG BẰNG XẠ TRỊ TẠI BỆNH VIỆN 198-BỘ CÔNG AN  
Nguyễn Thị Minh Phương*, Hoàng Thanh Tuyền*,  
Nguyễn Minh Dũng*, Vi Thành Long*  
response, 70% with partial response, 10% not  
TÓM TẮT  
6
response. Bone pain relief response in all group 1  
tumor, > 1 tumors and many tumors.  
30 bệnh nhân ung thư di căn xương đau mức độ  
vừa hoặc nặng, được điều trị bằng thuốc giảm đau  
thông thường không hiệu quả. Chiếu xạ ngoài đạt  
hiệu quả giảm đau sau 1 tuần, giảm đau tốt sau 1  
tháng, 20% hết đau hoàn toàn, 70% đáp ứng một  
phần, 10% bệnh không đáp ứng giảm đau. Giảm đau  
sau xạ trị có ý nghĩa thống kê ở tất cả các nhóm 1 vị  
trí tổn thương, > 1 vị trí tổn thương và có tổn thương  
kết hợp.  
Keywords: Bone cancer, analgesics, radiation  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ung thư có su hướng ngày càng gia tăng  
trong những thập niên gần đây, bệnh nhiều khi  
không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Bệnh  
thường phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn, có di  
căn xa. Tỷ lệ ung thư di căn xương chiếm từ 30-  
70% số bệnh nhân tùy theo loại ung thư và giai  
đoạn bệnh [5]. Ung thư di căn xương không  
những làm giảm thời gian sống của bệnh nhân  
mà còn giảm chất lượng sống và gây các triệu  
chứng thường gặp như đau xương (xảy ra ở 2/3  
bệnh nhân có di căn xương). Điều trị giảm đau  
có vai trò quan trọng và cần thiết, nhằm cải  
thiện chất lượng sống cho người bệnh. Có nhiều  
phương pháp điều trị giảm đau như: phẫu thuật,  
hóa trị, thuốc giảm đau, xạ trị…Mỗi phương  
pháp có tác dụng trong những trường hợp nhất  
định. Sử dụng thuốc giảm đau có tác dụng trong  
thời gian ngắn, nhiều tác dụng phụ không mong  
muốn, tình trạng nhờn thuốc khiến bệnh nhân  
phải tăng liều… Điều trị giảm đau bằng xạ trị  
Từ khóa: Ung thư di căn xương, giảm đau, xạ trị  
SUMMARY  
EFFECTS OF PALLIATIVE TREATMENT BY  
RADIATION IN CANCER PATIENTS WITH  
BONE METASTASES AT 198 HOSPITAL  
30 patients with pain (moderate or severe) due to  
bone metastase were treated by conventional  
analgesics drug but not effective. These patients were  
treated by radiation bone pain relief response last 1  
week good response last 1 month, 20% very good  
*Bệnh viện 198, Bộ Công An  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Minh Phương  
Ngày nhận bài: 26/12/2021  
Ngày phản biện khoa học: 28/1/2021  
Ngày duyệt bài: 26/2/2021  
21  
pdf 5 trang yennguyen 22440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả chuyển hai và ba phôi tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Quốc gia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_chuyen_hai_va_ba_phoi_tai_trung_tam_ho_tro_sinh_san.pdf