Đánh giá hiệu quả dự phòng nôn, buồn nôn bằng Dexamethason 8mg và Ondasetron 4mg trong gây tê tủy sống bằng Bupivacain và Morphin trong mổ lấy thai

vietnam medical journal n01 - MARCH - 2021  
analysis of cell images. Ann N Y Acad Sci, 128(3),  
quả chẩn đoán giữa các chuyên gia GPB [9].  
1035–1053.  
Sự hình thành vi ống và cấp độ hạt nhân là  
hai thành phần quan trọng khác trong phân loại  
mô bệnh học của ung thư vú. Tuy nhiên, các  
phương pháp hoàn toàn tự động cho hai nhiệm  
vụ này vẫn đang được phát triển. Công việc  
được công bố hiện tại tập trung vào phân tích  
cấu trúc mô có thể được sử dụng cho các nhiệm  
vụ này. Romo-Bucheli và cộng sự đã huấn luyện  
một mô hình CNN để phát hiện các hạt nhân vi  
ống và tính toán số liệu thống kê về các hạt  
nhân để dự đoán các phân loại rủi ro Oncotype  
DX. Veta và cộng sự đề xuất một loạt các thuật  
toán phi CNN để phân đoạn và phát hiện hạt  
nhân. Những phân đoạn này sau đó được sử  
dụng để phát hiện hạt nhân để phân tích hình  
thái sâu hơn nữa [9].  
2. Mukhopadhyay S., Feldman M.D., Abels E. và  
cộng sự (2018). Whole Slide Imaging Versus  
Microscopy for Primary Diagnosis in Surgical  
Pathology:  
A Multicenter Blinded Randomized  
Noninferiority Study of 1992 Cases (Pivotal Study).  
Am J Surg Pathol, 42(1), 39–52.  
3. Williams B.J., DaCosta P., Goacher E. và cộng  
sự (2017). A Systematic Analysis of Discordant  
Diagnoses in Digital Pathology Compared With  
Light Microscopy. Arch Pathol Lab Med, 141(12),  
1712–1718.  
4. Ozkan T.A., Eruyar A.T., Cebeci O.O. và cộng  
sự (2016). Interobserver variability in Gleason  
histological grading of prostate cancer. Scand J  
Urol, 50(6), 420–424.  
5. Cruz-Roa A., Gilmore H., Basavanhally A. và  
cộng sự (2017). Accurate and reproducible  
invasive breast cancer detection in whole-slide  
images: A Deep Learning approach for quantifying  
tumor extent. Sci Rep, 7, 46450.  
IV. KẾT LUẬN  
6. Han Z., Wei B., Zheng Y. và cộng sự (2017).  
Breast  
Cancer  
Multi-classification  
from  
Những tổng quan về những tiến bộ giải phẫu  
bệnh học kỹ thuật số và áp dụng trong ung thư  
vú trên thế giới đã cho thấy tiềm năng của  
việcxây dựng và triển khai ứng dụng AI trong  
chẩn đoán bệnh lý các bệnh ung thư nói chung  
và ung thư vú nói riêngtrên người Việt Nam. Ứng  
dụng AI trong chẩn đoán Ung thư vú dựa trên  
ảnh giải phẫu bệnh kỹ thuật số hóa sẽ giúp giải  
quyết những thách thức còn đang tồn tại trong  
lĩnh vực này và hứa hẹn sẽ mang lại những kết  
quả đột phá trong tương lai ở Việt Nam.  
Histopathological Images with Structured Deep  
Learning Model. Sci Rep, 7(1), 1–10.  
7. Ehteshami Bejnordi B., Veta M., Johannes  
van Diest P. và cộng sự. (2017). Diagnostic  
Assessment of Deep Learning Algorithms for  
Detection of Lymph Node Metastases in Women  
With Breast Cancer. JAMA, 318(22), 2199–2210.  
8. Veta M., Heng Y.J., Stathonikos N. và cộng  
sự. (2019). Predicting breast tumor proliferation  
from whole-slide images: The TUPAC16 challenge.  
Med Image Anal, 54, 111–121.  
9. Veta M., Kornegoor R., Huisman A. và cộng  
sự. (2012). Prognostic value of automatically  
extracted nuclear morphometric features in whole  
slide images of male breast cancer. Mod Pathol Off  
J U S Can Acad Pathol Inc, 25(12), 1559–1565.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Prewitt J.M. và Mendelsohn M.L. (1966). The  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG NÔN, BUỒN NÔN BẰNG  
DEXAMETHASON 8MG VÀ ONDASETRON 4MG TRONG GÂY TÊ  
TỦY SỐNG BẰNG BUPIVACAIN VÀ MORPHIN TRONG MỔ LẤY THAI  
Phạm Thị Anh Tú*, Công Quyết Thắng**, Lưu Quang Thùy***  
viện phụ sản Hải phòng trong thời gian từ tháng  
TÓM TẮT19  
10/2018 đến tháng 2/2019. Phương pháp nghiên  
cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tiến cứu có so  
sánh. Nhóm đối chứng (nhóm 1): sử dụng thuốc  
chống nôn bằng dexamethasone 8mg và nhóm nghiên  
cứu (nhóm 2): có sử dụng phối hợp thuốc chống nôn  
dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg. Kết quả  
nghiên cứu: Tỷ lệ nôn - buồn nôn ở nhóm sử dụng  
đơn thuần dexamethasone (với 15,6%) cao hơn so với  
nhóm sử dụng phối hợp phối hợp dexamethasone và  
ondansetron (với 6,9%) với sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê. Mức độ nôn - buồn nôn ở nhóm sử dụng  
đơn thuần dexamethason nặng hơn so với nhóm sử  
dụng phối hợp dexamethasone và ondansetron ở tất  
cả các các mức độ. Kết luận: Nên sử dụng phối hợp  
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả dự phòng nôn và  
buồn nôn bằng dexamethasone 8mg và ondansetron  
4mg trong gây tê tủy sống bằng bupivacain và  
morphin sulphat để mổ lấy thai thực hiện tại bệnh  
*Bệnh viện phụ sản Hải Phòng  
**Đại học Y Hà Nội  
***Bệnh viện Việt Đức  
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Thị Anh Tú  
Ngày nhận bài: 4.01.2021  
Ngày phản biện khoa học: 26.2.2021  
Ngày duyệt bài: 8.3.2021  
72  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 500 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2021  
dexamethasone và ondansetron để dự phòng nôn,  
buồn nôn nào là hiệu quả nhất. Hiện nay, trên  
thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều thuốc  
chống nôn mới đã được nghiên cứu và sử dụng  
riêng lẻ hoặc phối hợp. Cũng đã có một số  
nghiên cứu đề phòng nôn và buồn nôn khi phối  
hợp dexamethasone và ondansetron trong mổ  
nội soi ổ bụng, tai mũi họng, mổ chi dưới [3],[4].  
Trong mổ lấy thai có nguy cơ nôn và buồn nôn  
sau mổ cao hơn hẳn một số trường hợp khác thì  
tại thời điểm này ở Việt Nam chúng tôi chưa tìm  
thấy báo cáo nào về vấn đề này. Chính vì vậy  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá  
hiệu quả dự phòng nôn và buồn nôn bằng  
dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg trong  
gây tê tủy sống bằng bupivacain và morphin  
sulphat để mổ lấy thai”  
buồn nôn cho bệnh nhân gây tê tủy sống trong mổ lấy thai.  
Từ khóa: dexamethasone, ondansetron, gây tê  
tủy sống  
SUMMARY  
EVALUATE THE POSTOPERATIVE NAUSEA  
AND VOMITING PREVENTION EFFECT OF  
DEXAMETHASONE 8MG AND ONDASETRON  
4MG IN SPINAL ANESTHESIA BY  
BUPIVACAINE AND MORPHINE IN  
CESAREAN SECTION  
Objective: To evaluate the postoperative nausea  
and vomiting prevention effect of dexamethasone  
8mg and ondansetron 4mg in spinal anesthesia with  
bupivacaine and morphine sulphate for cesarean  
section performed at Hai Phong Obstetrics Hospital  
from October 2018 to February 2019. Method:  
prospective randomized controlled trial interventional  
study. Control group (group 1): using antiemetics with  
dexamethasone 8mg, and intervention group (group  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1 Đối tượng nghiên cứu  
2): using  
a
combination of antiemetics with  
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sản phụ có tinh  
thần tỉnh táo. Tình trạng sức khỏe ASA I, II. Sản  
phụ được chỉ định mổ lấy thai chủ động. Có chỉ  
định với GTTS. Không sử dụng thuốc chống nôn  
hoặc các thuốc có thể gây tăng tỷ lệ nôn, buồn  
nôn trước mổ. Đồng ý tham gia nghiên cứu  
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sản phụ có khó khăn  
trong giao tiếp, mắc bệnh động kinh hay tâm  
thần, tiền sử hay hiện tại nghiện ma túy. Có  
chống chỉ định gây tê tủy sống hoặc không thực  
hiện được kỹ thuật gây tê. Có triệu chứng nôn  
và buồn nôn trước mổ. Các trường hợp có tai  
biến, biến chứng của mổ như chảy máu nhiều,  
tụt huyết áp nặng, suy hô hấp… Sản phụ dị ứng  
với các thành phần của thuốc bupivacain,  
morphin sulphat, ondansetron và dexamethasone.  
Sản phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu.  
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu. Đề  
tài thực hiện tại khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện  
Phụ Sản Hải Phòng. Tiến hành từ tháng 10/2018  
đến tháng 2/2019.  
2.3 Phương pháp nghiên cứu. Thử nghiệm  
lâm sàng ngẫu nhiên tiến cứu có so sánh. Chọn  
ngẫu nhiên theo phương pháp bốc thăm, chia  
làm hai nhóm bằng nhau với nhóm đối chứng  
(nhóm1: sử dụng thuốc chống nôn bằng  
dexamethasone 8mg) và nhóm nghiên cứu  
(nhóm 2: có sử dụng phối hợp thuốc chống nôn  
dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg). Mỗi  
bệnh nhân sẽ tương ứng với một lần bắt thăm,  
bắt được thăm nào thì xếp vào nhóm đó và thực  
hiện đúng theo phương pháp đó. Mỗi nhóm  
được tiến hành nghiên cứu và thu thập số liệu  
như nhau.  
dexamethasone 8mg and ondansetron 4mg. Results:  
The vomiting – nausea rate in the group using only  
dexamethasone (15.6%) was higher than in the group  
using the combination of dexamethasone and  
ondansetron (6.9%) with statistically significant  
difference. The vomiting – nausea level in the group  
using only dexamethasone was higher than in the  
group using the combination of dexamethasone and  
ondansetron. Results: We should apply  
a
combination of dexamethasone and ondansetron to  
prevent vomiting, nausea for patients with spinal  
anesthesia during cesarean section.  
Key words: dexamethasone, ondansetron, spinal  
anesthesia.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Gây tê tủy sống là một phương pháp vô cảm  
thường được áp dụng phổ biến cả trên thế giới  
và Việt Nam để mổ lấy thai. Nhiều nghiên cứu  
cho thấy việc tác dụng hiệp đồng trong gây tê  
tủy sống bằng hỗn hợp thuốc tê bupivacain kết  
hợp với morphin hiện đang được sử dụng phổ  
biến do hiệu quả kéo dài thời gian giảm đau.  
Nhưng lại có tác dụng không mong muốn là gây  
ức chế hô hấp và gây buồn nôn, nôn, ngứa, an  
thần sâu, bí đái. theo khuyến cáo điều trị của  
chương trình ERAS cần phải dùng thuốc dự  
phòng nôn và buồn nôn sau mổ là điều trị bắt  
buộc cho bệnh nhân mổ [1]. Từ khi khám phá  
được vùng nhận cảm hóa học CTZ ở sàn não  
thất IV, các chất trung gian hóa học đồng vận  
dẫn truyền cảm giác nôn, tại vùng này tới trung  
tâm nôn ở hành não đã cắt nghĩa được phần nào  
cơ chế tác dụng phòng nôn của dexamethasone,  
ondansetron [2]. Tuy nhiên các nghiên cứu bằng  
nhiều phương thức ở nhiều nơi khác nhau vẫn  
chưa khẳng định biện pháp dự phòng nôn và  
Tiêu chí đánh giá: Ngoài các tiêu chí chung về  
73  
vietnam medical journal n01 - MARCH - 2021  
tuổi, giới, cân nặng, loại hình phẫu thuật. Chúng  
Mức độ 1 Buồn nôn nhẹ (cảm giác lợm giọng)  
tôi đánh giá mức độ vô cảm của phẫu thuật dựa  
vào thang điểm Abouleizh và đánh giá mức độ  
nôn và buồn nôn dựa vào thang điểm  
Klockgether-radle [5].  
Buồn nôn nặng (muốn nôn không  
nôn được)  
Nôn khan hoặc nôn thực sự dưới 2  
lần/1 giai đoạn  
Nôn thực sự ≥ 2 lần/1 giai đoạn  
Mức độ 2  
Mức độ 3  
Mức độ 0  
Không nôn và không buồn nôn  
Mức độ 4  
- Các thời điểm đánh giá:  
Ký hiệu  
Thời điểm  
Ký hiệu  
H30  
HKT  
Hs2  
Hs6  
Hs24  
Thời điểm  
Sau khi gây tê 30 phút  
Kết thúc cuộc mổ  
Sau mổ 2 giờ  
H0  
H1  
H5  
Trước khi gây tê  
Ngay sau khi gây tê  
Sau khi gây tê 5 phút  
Sau khi gây tê 10 phút  
Sau khi gây tê 15 phút  
H10  
H15  
Sau mổ 6 giờ  
Sau mổ 24 giờ  
2.4 Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được mã hóa, nhập vào máy tính và xử lý theo chương trình  
SPSS 12.0 và phần mềm Microsoft Excel 2007.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1 Đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu  
Bảng 3.1. Phân bố về tuổi, chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI  
Chỉ số  
Tuổi trung bình  
(năm)  
Nhóm NC  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Tần số  
32  
Trung bình  
31,6  
SD  
4,5  
3,8  
5,0  
4,4  
6,5  
7,6  
2,5  
3,2  
p
> 0,05  
58  
32  
29,8  
157,0  
156,1  
64,3  
Chiều cao  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
(cm)  
58  
32  
58  
Cân nặng  
(kg)  
65,2  
32  
58  
26,1  
26,8  
BMI  
(kg/m2)  
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về các đặc điểm nhân trắc học  
3.2 Mức độ vô cảm  
Bảng 3.2. Thời gian vô cảm  
Chỉ số  
Nhóm NC  
Tần số  
Trung bình  
SD  
p
Thời gian  
Thời gian onset  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
Nhóm 1  
Nhóm 2  
32  
58  
32  
58  
32  
58  
4,66  
4,33  
36,44  
37,40  
89,52  
88,65  
0,75  
1,14  
9,23  
7,84  
17,21  
18,72  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
(phút)  
Thời gian mổ  
(phút)  
Thời gian vô cảm  
(phút)  
Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm về mức độ vô cảm với p > 0,05  
3.3 Đánh giá hiệu quả dự phòng nôn, buồn nôn  
Bảng 3.3. Tỷ lệ sản phụ nôn, buồn nôn trong mổ và sau mổ  
Nhóm 1 (n = 32)  
Nhóm 2 (n = 58)  
Tổng số (n = 90)  
Tần số  
Đặc điểm  
p
Tần số  
Tỷ lệ  
84,4%  
15,6%  
Tần số  
Tỷ lệ  
93,1%  
6,9%  
Tỷ lệ  
90%  
10%  
Không nôn  
Nôn-buồn nôn  
27  
5
54  
4
81  
9
< 0,05  
Nhận xét: Tỉ lệ nôn, buồn nôn ở nhóm 1 (sử dụng đơn độc dexamethasone) nhiều hơn nhóm 2  
(kết hợp dexamethasone và ondansetron) có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.  
Bảng 3.4. Phân bố mức độ nôn, buồn nôn theo Klockgether-Radke tại các thời điểm  
Độ 0  
Độ 1  
Độ 2  
Độ 3  
Độ 4  
Mức độ  
Thời điểm  
Thời điểm H0  
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
90  
88  
83  
100  
97,8  
92,2  
Thời điểm H1  
Thời điểm H5  
2
5
2,2  
5,6  
2
2,2  
74  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 500 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2021  
Thời điểm H10  
Thời điểm H15  
Thời điểm H30  
Thời điểm KT  
Thời điểm S2  
Thời điểm S6  
Thời điểm S24  
83  
82  
81  
81  
81  
84  
89  
92,2  
91,1  
90  
90  
90  
93,3  
99,9  
3
2
1
2
4
5
1
3,35  
2,2  
1,1  
2,2  
4,5  
5,6  
1,1  
3
3
3
1
3
1
3,35  
3,35  
3,35  
1,1  
3,35  
1,1  
1
3
2
2
1
1,1  
3,35  
2,2  
2,2  
1,1  
3
4
1
3,35  
4,5  
1,1  
Nhận xét: Mức độ 4 chỉ gặp ở 4 bệnh nhân tại thời điểm 30 phút sau tê, 3 bệnh nhân tại lúc kết  
thúc mổ và chỉ có 1 bệnh nhân ở 2 giờ sau mổ. Sau 24h sau mổ thì chỉ có 1 bệnh nhân là có mức độ 1.  
nồng độ dopaminnergic bị giảm đáng kể tác  
dụng tại vùng này. [7]. Ngoài ra, nhiều tác giả  
cũng đã ghi nhận nếu kết hợp dự phòng bằng  
dexamethasone cùng với ondansetron là một  
chất ức chế thụ thể 5-HT3 sẽ cho kết quả dự  
phòng hiệu quả cao hơn. Theo một nghiên cứu  
của Tramer và cộng sự cho rằng, liều lượng tối  
thiểu 8mg ondansetron là cần thiết để ngăn  
chặn các thụ thể 5-HT3 ở một bệnh nhân nôn  
mửa[8]. Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
đã sử dụng dự phòng nôn, buồn nôn sau mổ  
Biểu đồ 3.1. Phân bố mức độ nôn, buồn  
nôn ở các nhóm  
bằng  
dexamethasone  
đơn  
thuần  
hay  
dexamethasone phối hợp cùng với ondansetron  
nên tỷ lệ các sản phụ không nôn-buồn nôn (mức  
độ 0) chiếm tỷ lệ cao. Tại một số thời điểm cụ  
thể của cuộc mổ và quá trình hồi phục sau mổ  
thì tỷ lệ này có thay đổi nhưng không đáng kể,  
như các thời điểm trong mổ như H30 không  
nôn-buồn nôn (mức độ 0) chiểm tỷ lệ thấp giống  
với các thời điểm HKT và thời điểm S2 với 90%  
sau đó tăng dần ở các thời điểm S6 với 93,3%  
và cao nhất ở thời điểm H24 với 99,9%. Tỷ lệ  
nôn ở mức độ 1 gặp rải rác từ thời gian sau khi  
tiến hành gây tê đến sau mổ 24 giờ, trong đó  
nhóm chỉ dự phòng nôn, buồn nôn bằng  
dexamethasone có tỷ lệ cao hơn nhóm được dự  
phòng bằng dexamethasone phối hợp cùng với  
ondansetron. Nôn ở mức độ 1 chủ yếu tập chung  
vào thời điểm H5 với 5,6%, thời điểm H10 với  
3,35%, thời điểm S2 với 4,5% và thời điểm S6  
với 5,6%. Tỷ lệ nôn ở mức độ 2 thường gặp  
trong thời gian thời điểm H5 với 2,2%, thời điểm  
H10, H15 và H30 với 3,35%, thời điểm S2 với  
3,35% và thời điểm S6 với 1,1%. Tỷ lệ nôn ở  
mức độ 3 chủ yếu gặp từ thời điểm H15 với  
3,35%; thời điểm H30 và thời điểm HKT với  
2,2% và cho đến khoảng thời gian S2 với 1,1%.  
Nôn ở mức độ 4 chiếm tỷ lệ cao tại thời điểm  
H30 và thời điểm HKT lần lượt là 3,35% và  
4,5%. Sau mổ tỷ lệ nôn mức độ 4 chỉ chiểm  
1,1% ở thời điểm S2. Nhưng khi đánh giá riêng  
theo từng nhóm thì tỷ lệ gặp sản phụ nôn, buồn  
Nhận xét: Ta đều nhận thấy là mức độ nôn,  
buồn nôn ở cả 4 mức độ thì nhóm 2 đều có tỉ lệ  
thấp hơn so với nhóm 1.  
IV. BÀN LUẬN  
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng  
số cả 2 nhóm nghiên cứu có tới 90% sản phụ  
không có các dấu hiện buồn nôn hay nôn và chỉ  
có 10% các sản phụ có nôn và/hoặc buồn nôn  
trong mổ và 24 giờ sau mổ. Đặc biệt, tỷ lệ có  
nôn và/hoặc buồn nôn ở nhóm 1 là nhóm chỉ dự  
phòng nôn, buồn nôn bằng dexamethasone có 5  
sản phụ tương ứng với 15,6% và ở nhóm 2 là  
nhóm dự phòng nôn, buồn nôn bằng  
dexamethasone phối hợp với ondansetron chỉ có  
4 sản phụ tương ứng với 6,9%. Khác biệt có ý  
nghĩa thống kê (p < 0,05). Theo nghiên cứu của  
Đỗ Thanh Hòa cho thấy tỷ lệ nôn, buồn nôn sau  
mổ  
ở
nhóm  
được  
dự  
phòng  
bằng  
dexamethasone kết hợp với ondansetron thấp  
hơn hẳn khi chỉ dự phòng bằng dexamethasone  
đơn thuần trong gây tê tủy sống để phẫu thuật  
chi dưới [6]. Một nghiên cứu trước đây cho rằng  
cơ chế hoạt động chống nôn, buồn nôn của  
dexamethasone có thể đối kháng với chất trung  
gian prostaglandin hoặc gây phóng thích  
endorphins, những kết quả này sẽ làm nâng cao  
điểm nhạy cảm, cân bằng cảm giác và gây thèm  
ăn dẫn đến làm giảm cảm giác nôn, buồn nôn  
[7]. Đồng thời với đó và/hoặc có thể do cơ chế  
đối kháng với dopamin receptor tại vùng nhận  
cảm hóa học (CTZ) ở sàn não thất IV làm cho  
nôn các mức độ  
ở
nhóm dự phòng  
dexamethasone đơn thuần đều cao hơn nhóm  
được dự phòng bằng dexamethasone phối hợp  
75  
vietnam medical journal n01 - MARCH - 2021  
cùng với ondansetron. Đồng thời, tỷ lệ nôn,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
buồn nôn là tương đối thấp và chủ yếu chỉ gặp  
nôn, buồn nôn ở mức độ 1; các mức độ khác,  
đặc biệt là mức độ 4 giảm thấp. Khi so sánh kết  
quả nghiên cứu của chúng tôi với các tác giả  
khác như Đỗ Thanh Hòa cho thấy ở mức độ 1, tỉ  
1. Công Quyết Thắng (2017), ERAS: Enhanced  
Recovery After Surgery- Tăng cường hồi phục sau  
phẫu thuật và vai trò của người làm Gây mê Hồi  
sức. Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam (VSA).  
2. Bộ Y Tế (2002), “Dexamethasone”. Dược Thư  
Quốc Gia Việt Nam, 356-357.  
lệ nôn, buồn nôn  
ở
nhóm dự phòng  
3. Nguyễn Đình Long (2011), So sánh tác dụng  
dự phòng và điều trị nôn và buồn nôn của  
ondansetron với dexamethasone sau mổ nội soi  
phụ khoa. Luận văn Thạc sĩ. Đại học y Hà Nội.  
4. Đỗ Thanh Hòa (2012), Nghiên cứu tác dụng dự  
phòng buồn nôn và nôn của dexamethasone đơn  
thuần hoặc kết hợp với ondansetron sau gây tê tủy  
sống trong phẫu thuật chi dưới. Y học thực hành, 841.  
5. Klockgether-Radke, A., et al. (1996), Nausea  
dexamethasone đơn thuần và nhóm được dự  
phòng bằng dexamethasone phối hợp cùng với  
ondansetron là không khác nhau, nhưng ở mức  
độ cao hơn là mức 2,3,4 ở nhóm dự phòng  
dexamethasone đơn thuần là cao hơn nhóm phối  
hợp [6]. Các nghiên cứu khác cũng cho kết quả  
tương tự như nghiên cứu của chúng tôi về sự  
and vomiting after laparoscopic surgery:  
a
hiệu quả  
của dự  
phòng  
nôn  
bằng  
comparison of propofol and thiopentone/halothane  
anaesthesia. European journal of anaesthesiology,  
13(1): 3-9.  
dexamethasone và ondansetron trong mổ [9].  
V. KẾT LUẬN  
6. Đỗ Thanh Hòa, Nguyễn Văn Phương (2012),  
nghiên cứu tác dụng dự phòng nôn và buồn nôn  
của Dexamethasone đơn thuần hoặc kết hợp với  
ondansetron sau gây tê tủy sống trong phẫu thuật  
chi dưới. Y học thực hành, 841(số 9/2012): 58-62.  
7. Tugsan E B, H andan B et al (2008), A  
comparative study of the antiemetic efficacy of  
dexamethasone, ondansetron, and metoclopramide  
in patients undergoing gynecological surgery.  
Anaesthsia, 2: 226-234.  
- Tỷ lệ nôn - buồn nôn ở nhóm sử dụng đơn  
thuần dexamethasone (với 15,6%) cao hơn so  
với nhóm sử dụng phối hợp phối hợp  
dexamethasone và ondansetron (với 6,9%) với  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.  
- Mức độ nôn, buồn nôn ở mức độ 3 và 4  
chiếm tỉ lệ nhỏ và chỉ ở một vài thời điểm nhất  
định trong cuộc mổ  
- Mức độ nôn - buồn nôn ở nhóm sử dụng  
đơn thuần dexamethason nặng hơn so với nhóm  
sử dụng phối hợp dexamethasone và  
ondansetron ở tất cả các các mức độ.  
8. Tramer MR, et al. (1999), Cost-effectiveness of  
ondansetron for postoperative nausea and  
vomiting. Anaesthsia, 54: 226-234.  
9. Nguyễn Minh Hải (2011), So sánh tác dụng dự  
phòng buồn nôn và nôn của ondansetron và  
metoclopramid sau phẫu thuật nội soi ổ bụng,  
Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân y 2011.  
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA  
NGƯỜI KHIẾM THỊ TUỔI TRƯỞNG THÀNH  
Nguyễn Thị Thu Hiền1  
34,1%; nhóm nguyên nhân thường gặp thứ hai là các  
bệnh lý võng mạc hoàng điểm 23,3%; nhóm nguyên  
nhân thường gặp thứ ba là các tổn hại của thị thần  
kinh 14,4%. Thị lực nhìn xa không kính trung bình là  
20/333 ± 20/500; 41,3% trường hợp thị lực nhìn xa  
cải thiện với kính chỉnh tật khúc xạ tối ưu. 73,7%  
trường hợp khả năng nhạy cảm tương phản tốt dưới  
10%. Tất cả các trường hợp bệnh glôcôm và bệnh  
thoái hóa sắc tố võng mạc đều tổn hại thị trường  
ngoại vi mức độ nặng. Thị lực gần tốt nhất trung bình  
là 20/285 ± 20/400. Thị lực xa và thị lực gần có mối  
liên quan tuyến tính mức độ trung bình với r = 0,45 (p  
= 0,001). Kết luận: Tuổi của bệnh nhân: hầu hết ở  
lứa tuổi lao động, chủ yếu sống cùng với gia đình  
hoặc người thân. Nguyên nhân gây khiếm thị chủ yếu  
là bệnh lý của thể thuỷ tinh. Tình trạng thị lực xa rất  
kém, cải thiện với kính chỉnh tật khúc xạ. Khả năng  
nhạy cảm tương phản tốt chiếm 73,7% trường hợp.  
Thị trường ngoại vi bị tổn hại nặng và khó đánh giá.  
TÓM TẮT20  
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của người  
khiếm thị ở tuổi trưởng thành. Phương pháp nghiên  
cứu: nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 167  
trường hợp đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo yêu  
cầu của nghiên cứu. Kết quả: Tuổi trung bình là  
31,46 ± 16,47; bệnh nhân cao tuổi nhất là 78 tuổi và  
trẻ nhất là 18 tuổi. Bệnh nhân chưa lập gia đình và  
sống cùng bố mẹ chiếm nhiều nhất 56,3%. Nguyên  
nhân gây khiếm thị theo bệnh học: nhóm nguyên  
nhân thường gặp nhất là các bệnh lý thể thủy tinh  
1Bệnh viện Mắt trung ương  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thu Hiền  
Ngày nhận bài: 24.12.2020  
Ngày phản biện khoa học: 15.2.2021  
Ngày duyệt bài: 24.2.2021  
76  
pdf 5 trang yennguyen 8760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả dự phòng nôn, buồn nôn bằng Dexamethason 8mg và Ondasetron 4mg trong gây tê tủy sống bằng Bupivacain và Morphin trong mổ lấy thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_du_phong_non_buon_non_bang_dexamethason_8m.pdf