Kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ khối Khoa học sức khỏe, trường Đại học Duy Tân

V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 121  
03(40) (2020) 121-136  
Kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ  
khối Khoa học sức khỏe, Trường Đại học Duy Tân  
Knowledge, attitudes, and behaviors on the reproductive health of female students of Health  
Sciences Faculty, Duy Tan University  
Võ Thị Kiều Mia, Đậu Thị Thanh Hằnga, Trần Thanh Ngânb, Nguyễn Bích Hạnhb,  
Nguyễn Đình Tùngc,d,*  
Mi Thi Kieu Voa, Hang Thi Thanh Daua, Ngan Thanh Tranb, Hanh Bich Nguyenb,  
Tung Dinh Nguyenc,d,*  
aK22YDH3, KhoaDược, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, 550000, Việt Nam  
bK22YDH4, KhoaDược, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, 550000, Việt Nam  
c
Trung tâm Thực hành Mô phỏng Y khoa, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, 550000, Việt Nam  
d
Khoa Y, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, 550000, Việt Nam  
aK22YDH3, Faculty of Pharmacy, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
bK22YDH4, Faculty of Pharmacy, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
cMedical Simulation Center, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
dFaculty of Medicine, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 08/05/2020, ngày phản biện xong: 30/05/2020, ngày chấp nhận đăng: 27/6/2020)  
Tóm tắt  
Ngày nay, tình trạng quan hệ tình dục không an toàn ở sinh viên Việt Nam rất phổ biến, do đó việc tuyên truyền các  
biện pháp tránh thai phù hợp cho lứa tuổi này là hết sức quan trọng, để làm giảm tình trạng có thai ngoài ý muốn, nạo  
phá thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên, các bệnh lây truyền đường tình dục. Bài báo nghiên cứu thực trạng về sức khỏe sinh  
sản ở sinh viên với mục tiêu khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên và các yếu tố liên  
quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 530 đối tượng là sinh viên nữ từ năm 1 đến  
năm 4 thuộc khối ngành Khoa học sức khỏe Trường Đại học Duy Tân, sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn  
và thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn với hình thức tự điền giấu tên. Kết quả: tỷ lệ sinh viên có kiến thức, thái độ  
và hành vi tốt về sức khỏe sinh sản lần lượt là 37,9%, 23,4% và 82,6%. Kết luận: Thực trạng kiến thức, thái độ và hành  
vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ thuộc khối Khoa học sức khỏe Trường Đại học Duy Tân còn hạn chế trong khi  
nhu cầu tìm hiểu về vấn đề sức khỏe sinh sản khá cao. Do vậy, cần tăng cường giáo dục về sức khỏe sinh sản để sinh  
viên nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.  
Từ khóa: Sinh viên; sức khỏe sinh sản; quan hệ tình dục.  
Abstract  
Nowadays, the situation of unsafe sex among Vietnamese students is very common. Therefore, it is very important to  
disseminate contraceptive methods suitable for this age group, so that we can prevent, reduce unintended pregnancy and  
indiscriminate abortion among teenagers of our country. From the above-mentioned issues, researching the real  
*Corresponding Author: Nguyen Dinh Tung; Medical Simulation Center, Duy Tan University, Da Nang, 550000,  
Vietnam; Faculty of Medicine, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam.  
122 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
situation of reproductive health in students is necessary with the aim of investigating the correct understanding of  
students' reproductive health, thereby proposing solutions to minimize the consequences of unsafe sex, to protect the  
health of students. The cross-sectional descriptive study was conducted on a total of 530 female students from years 1 to  
4 of the Health Sciences Faculty at Duy Tan University, Da Nang City, using the multi-stage sampling method and  
collecting data with prepared questionnaires with the form of anonymous autocompletion The results showed that: The  
percentage of students with good knowledge, attitudes and behaviors about reproductive health were 37.9%, 23.4% and  
82.6%, respectively. Conclusion: The reality of knowledge, attitudes and behaviors on reproductive health of female  
students in the Health Sciences Department of Duy Tan University, Da Nang City is still limited while the need to learn  
about reproductive health is quite high. Therefore, it is necessary to strengthen reproductive health education for  
students to improve their knowledge as well as proactively protect the health of themselves and the community.  
Keywords: Students, reproductive health, sex.  
1. Mở đầu  
Sức khỏe sinh sản (SKSS) là sự thể hiện các  
cứ 4 ca thì có 1 ca là phá thai không an toàn,  
chiếm 13% nguyên nhân tử vong mẹ [3]. Các  
con số chứng tỏ sự hiểu biết và thực hiện các  
biện pháp tránh thai còn hạn chế. Vì vậy việc  
tuyên truyền các biện pháp tránh thai phù hợp  
cho lứa tuổi này là hết sức quan trọng, từ đó có  
thể ngăn chặn và giảm dần được việc có thai  
ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai bừa bãi  
ở lứa tuổi thanh niên hiện nay của nước ta. Từ  
các vấn đề cấp thiết trên, đề tài này được thực  
hiện với mục tiêu:  
trạng thái về thể chất, tinh thần, xã hội liên  
quan đến hoạt động và chức năng sinh sản của  
mỗi người, nó bao gồm các vấn đề kế hoạch  
hóa gia đình, sức khỏe phụ nữ, phòng tránh phá  
thai và phá thai an toàn, tình dục và phòng ngừa  
các bệnh lây truyền qua đường tình dục.  
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập  
quốc tế, văn hóa phương Tây xâm nhập vào  
nước ta càng diễn ra mạnh mẽ, bên cạnh những  
ảnh hưởng tích cực cũng có những tác động  
tiêu cực, cụ thể: Kết quả nghiên cứu của Dương  
Thị Anh Đào và cộng sự với đề tài “Thực trạng  
kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe của sinh  
viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” cho  
thấy trong số sinh viên đã quan hệ tình dục có  
đến 27% sinh viên không sử dụng biện pháp  
tránh thai, 62% sinh viên thỉnh thoảng có sử  
dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục,  
và khi hỏi về lý do tại sao thì 41,6% sinh viên  
trả lời là “sợ vô sinh”; 43% sinh viên trả lời  
“không thích dùng”. Điều này cho thấy sinh  
viên chưa hiểu biết đầy đủ về các biện pháp  
tránh thai và chưa chủ động thực hiện tình  
dục an toàn dẫn đến nguy cơ cao mang thai  
ngoài ý muốn và lây nhiễm các bệnh lây truyền  
qua đường tình dục, ảnh hưởng đến SKSS [1].  
1/ Mô tả được kiến thức, thái độ và hành vi  
về chăm sóc sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ  
Khối khoa học sức khỏe, Trường Đại Học Duy  
Tân, thành phố Đà Nẵng.  
2/ Khảo sát một số yếu tố liên quan đến kiến  
thức, thái độ và hành vi về chăm sóc sức khỏe  
sinh sản của đối tượng trên.  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Sinh viên nữ từ năm 1 đến năm 4 thuộc khối  
ngành Khoa học sức khỏe Trường Đại học Duy Tân.  
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Từ tháng 11/2018 đến tháng 02/2019 tại  
trường Đại học Duy Tân (thành phố Đà Nẵng).  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế  
nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
Theo số liệu của Viện SKSS và Gia đình  
Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai cao,  
trong đó 70% là ở tuổi vị thành niên. Ước tính  
Cỡ mẫu: tính theo công thức ước lượng một  
tỷ lệ:  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 123  
+ Thái độ chung về vấn đề SKSS 30 điểm:  
tốt >20 điểm và thái độ về vấn đề quan hệ tình  
dục trước hôn nhân tốt; ≤ 20 là chưa tốt.  
Trong đó:  
+ n là cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu  
= 1,96 với độ tin cậy 95%(α = 0,05)  
+ Hành vi chung về vấn đề SKSS tối đa 20  
điểm: Tốt khi tổng điểm ≥ 10 và chưa từng  
+
quan hệ tình dục trước hôn nhân/ đã nạo phá  
thai/ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; ≤  
10 là chưa tốt.  
+ d là sai số của nghiên cứu, chọn d = 0,05  
+ p là tỷ lệ của một nghiên cứu tương tự, để  
đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất chúng tôi chọn p=0,5.  
+ Phân tích các mối liên quan đơn biến với  
kiểm định Chi-bình phương và mối liên quan  
đa biến bằng kiểm định hồi quy Logistic đa  
biến. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý  
nghĩa p < 0,05.  
Từ đó cỡ mẫu tối thiểu n = 384. Để dự phòng  
146 đối tượng trả lời không hợp lệ trong quá  
trình nghiên cứu, chúng tôi chọn cỡ mẫu là 530.  
- Phương pháp: chọn mẫu nhiều giai đoạn.  
+ Giai đoạn 1: 530 đối tượng tỷ lệ với mỗi khoa  
+ Giai đoạn 2: Tỷ lệ đối tượng với mỗi năm học  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Kết quả  
+ Giai đoạn 3: Chọn mẫu ngẫu nhiên ở mỗi  
năm học.  
n
%
Đặc điểm  
2.4. Tiêu chuẩn loại trừ  
<21  
21-22  
>22  
Kinh  
Khác  
265  
243  
22  
525  
5
50  
45,8  
4,2  
99,1  
0,9  
- Những đối tượng không đồng ý tham gia.  
- Sinh viên là Nam giới.  
Tuổi  
Dân tộc  
- Sinh viên không thuộc từ năm 1 đến năm 4.  
Chưa kết hôn 523  
98,7  
2.5. Thu thập thông tin  
Hôn nhân  
Đã kết  
hôn/đã ly hôn  
7
1,3  
Phát vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi có sẵn dưới  
sự quản lý thu thập số liệu của các điều tra viên.  
Nghèo/cận  
31  
5,8  
nghèo  
Kinh tế gia  
đình  
Trung bình  
(TB)/trên TB  
2.6. Nhập và xử lý số liệu  
499  
94,2  
62,1  
37,9  
Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS  
20.0 để nhập và phân tích số liệu. Tiến hành  
điều tra thử 30 sinh viên, kiểm định Cronbach  
Alpha với kiến thức (0,92); thái độ (0,82); thực  
hành (0,82) đảm bảo độ tin cậy của bộ câu hỏi.  
Học tập toàn  
thời gian  
329  
Tình trạng  
công việc  
Vừa học vừa  
làm thêm  
201  
Chưa bao  
giờ/hiếm khi/ 179  
thỉnh thoảng  
Thường  
33,8  
66,2  
Điểm đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi  
với:  
Hoạt động  
cộng đồng  
xuyên/rất  
351  
thường  
+ Kiến thức chung tối đa là 28 điểm. Kiến  
thức chung tốt: tổng điểm  
sinh kinh nguyệt đúng cách, kiến thức về mang  
thai, nạo phá thai tốt, kiến thức về bệnh lây  
truyền qua đường tình dục và HIV tốt, còn lại  
là chưa tốt.  
xuyên  
≥ 14 điểm và biết vệ  
Sống với gia  
đình/bố  
139  
26,2  
73,8  
Môi trường  
sống  
mẹ/sống nhờ  
họ hàng  
Ở trọ  
391  
124 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
Bảng 2. Đặc điểm học tập đối tượng nghiên  
Bảng 3. Kiến thức về biện pháp tránh thai,  
cứu  
mang thai, nạo phá thai  
Kết quả  
Kết quả  
n
%
n
%
Kiến thức  
Đặc điểm  
Đúng  
406 76,6  
Vệ sinh kinh  
nguyệt  
Mang thai trong  
lần quan hệ tình  
dục đầu tiên  
<20  
198 37,4  
332 62,6  
Điểm đầu  
Chưa đúng 124 23,4  
vào  
≥20  
Đúng  
452 85,3  
78 14,7  
Điều Dưỡng  
Dược  
139 26,2  
295 55,7  
Chưa đúng  
Khoa  
4-6 biện  
pháp  
0-3 biện  
pháp  
376 70,9  
154 29,1  
324 61,2  
206 38,8  
Y
96  
18,1  
Số lượng các biện  
pháp tránh thai  
≤năm 2  
>năm 2  
268 50,6  
262 49,4  
Năm học  
hiện tại  
Biết 4-6 tác  
Yếu/trung  
hại  
19  
3,6  
Tác hại của nạo  
Xếp loại  
năm học vừa  
rồi  
bình  
phá thai  
Biết 0-3 tác  
Khá/giỏi  
Xuất sắc  
351 66,2  
hại  
Tốt  
Chưa tốt  
13  
80  
2,5  
380 71,7  
150 28,3  
Kiến thức  
Hoàn toàn  
không/hiếm  
khi  
15,1  
Áp lực học  
tập  
Thỉnh  
thoảng/thường  
xuyên/rất  
450 84,9  
thường xuyên  
3.2. Kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS  
3.2.1. Kiến thức của đối tượng về SKSS  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ sinh viên nhận biết về tên  
các bệnh lây truyền qua đường tình dục  
Bảng 4. Kiến thức về bệnh lây truyền qua  
đường tình dục  
Kết quả  
n
%
Kiến thức  
Biết 5-9  
251 47,4  
279 52,6  
343 64,7  
187 35,3  
Biết tên bệnh lây  
truyền qua đường  
tình dục  
bệnh  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ hiểu biết về từng biện pháp  
Biết 0-4  
bệnh  
tránh thai  
Biết 2-3 dấu  
Biết dấu hiệu của  
bệnh lây truyền  
qua đường tình  
dục  
hiệu  
Biết 0-1 dấu  
hiệu  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 125  
Biết 2-3  
Biết cách phòng  
tránh bệnh lây  
truyền qua đường  
tình dục  
391 73,8  
139 26,2  
cách  
Biết 0-1  
cách  
Tốt  
471 88,9  
59 11,1  
Kiến thức chung  
Chưa tốt  
Biểu đồ 4. Thái độ khi có thai trước hôn nhân  
của sinh viên chưa kết hôn  
Bảng 6. Thái độ chung về SKSS  
Kết quả  
n
%
Thái độ  
Biểu đồ 3. Kiến thức chung về SKSS  
Tốt  
124  
406  
530  
23,4  
76,6  
100  
3.2.2. Thái độ của đối tượng về SKSS  
Chưa tốt  
Tổng  
Bảng 5. Thái độ về cung cấp kiến thức biện  
pháp tránh thai, tiếp cận với biện pháp tránh  
thai, nạo phá thai  
3.2.3. Hành vi về SKSS của đối tượng  
Bảng 7. Các vấn đề về hành vi SKSS của sinh  
Kết quả  
viên  
n
%
Thái độ  
Kết quả  
n
%
Đồng ý  
206 38,9  
Cung cấp kiến  
thức về biện  
pháp tránh thai  
là khó khăn  
Hành vi  
Không đồng ý 194 36,6  
Đúng  
367 69,2  
Hành vi vệ sinh  
kinh nguyệt  
Chưa đúng 163 30,8  
Có thể được  
Đồng ý  
130 24,5  
173 32,6  
Chia sẻ vấn đề  
liên quan đến  
giới tính, tình  
dục, SKSS  
Có chia sẻ  
469 88,5  
61 11,5  
229 43,2  
Tiếp cận với  
biện pháp  
tránh thai là  
khó khăn  
Không chia  
Không đồng ý 210 39,6  
sẻ  
Có thể được  
Bình thường  
147 27,7  
22 4,2  
Chưa xem  
Vô tình  
xem/thoáng 270 50,9  
qua  
Xem phim, ảnh,  
sách, báo có nội  
dung khiêu dâm  
Nguy hiểm  
nhưng là giải  
pháp nếu chưa  
kết hôn  
Thái độ trước  
việc nạo phá  
thai  
90  
17  
Thường  
31 5,8  
xuyên xem  
Lên án/không  
chấp nhận  
418 78,9  
Thường  
88 16,6  
xuyên  
Tiếp cận thông  
tin về SKSS  
Thỉnh thoảng 271 51,1  
Hiếm  
171 32,3  
khi/không  
126 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
Bảng 8. Quan hệ tình dục trước hôn nhân và sử  
dụng biện pháp tránh thai của sinh viên  
Kết quả  
n
%
Hành vi  
Bạn đã từng  
quan hệ tình dục  
trước hôn nhân  
Đã có  
101 19,1  
Chưa bao giờ 429 80,9  
Có/thường  
81 80,2  
xuyên  
Sử dụng những  
biện pháp tránh  
thai khi quan hệ  
tình dục (n=101)  
Thỉnh  
Biểu đồ 5. Hành vi về nạo phá thai của đối  
20 19,8  
thoảng/không  
tượng (n=101)  
Bảng 9. Hành vi chung về SKSS  
Kết quả  
n
%
Hành vi  
Tốt  
Chưa tốt  
Tổng  
438  
92  
530  
82,6  
17,4  
100  
3.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS của đối tượng  
Bảng 10. Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và học tập đến kiến thức về SKSS  
Chưa tốt  
Tốt  
p
Kiến thức  
Đặc  
điểm  
Yếu tố liên quan  
n
%
n
%
19-20  
21-22  
>22  
190 71,7  
128 52,7 115 47,3 <0,05  
75 28,3  
Tuổi  
11  
21  
50  
67,7  
11  
50  
Nghèo/cận nghèo  
Trung bình/trên trung bình  
Học tập toàn thời gian  
10 32,3  
Kinh tế gia đình  
<0,05  
<0,05  
<0,05  
308 61,7 191 38,3  
208 63,2 121 36,8  
Tình trạng công  
việc chính hiện  
nay  
Cá  
nhân  
Vừa học vừa làm  
121 60,2  
114 63,7  
80 39,8  
65 36,3  
Chưa tốt  
Tốt  
Ở trọ  
Hoạt động cộng  
đồng  
215 61,3 136 38,7  
240 61,4 151 38,6  
Môi trường sống  
Điểm đầu vào  
<0,05  
<0,05  
Sống với gia đình/bố mẹ/  
họ hàng  
89  
129 65,2  
200 60,2 132 39,8  
93 69,9 46 33,1  
185 62,7 110 37,3 <0,05  
64  
50  
36  
<20  
≥20  
Điều Dưỡng  
Dược  
69 34,8  
Học  
tập  
Khoa  
Y
51  
193  
53,1  
72  
45 46,9  
75 28  
≤năm 2  
>năm 2  
Năm học hiện tại  
<0,05  
136 51,9 126 48,1  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 127  
Trung bình/yếu  
Khá/giỏi  
Xuất sắc  
Không  
11  
57,9  
8
42,1  
Xếp loại năm học  
vừa rồi  
190 54,1 161 45,9 <0,05  
6
51  
46,2  
63,8  
7
53,8  
29 36,2  
Áp lực học tập  
<0,05  
Có  
278 61,8 172 38,2  
Bảng 11. Mối liên quan giữa đặc điểm về cá nhân và học tập đến thái độ về SKSS  
Chưa tốt  
%
Tốt  
%
p
Thái độ  
Đặc  
điểm  
Yếu tố liên quan  
n
n
71  
48  
5
5
119  
78  
19-20  
21-22  
>22  
194  
195  
17  
26  
380  
251  
73,2  
80,2  
77,3  
83,9  
76,2  
76,3  
26,8  
19,8  
22,7  
16,1  
23,8  
23,7  
Tuổi  
<0,05  
Nghèo/cận nghèo  
Trung bình/trên trung bình  
Học tập toàn thời gian  
Kinh tế gia đình  
<0,05  
<0,05  
<0,05  
Tình trạng công  
việc chính hiện  
nay  
Cá  
nhân  
Vừa học vừa làm  
155  
77,1  
46  
22,9  
Chưa tốt  
Tốt  
Ở trọ  
139  
267  
301  
77,7  
76,1  
77  
40  
84  
90  
22,3  
23,9  
23  
Hoạt động cộng  
đồng  
Môi trường sống  
Điểm đầu vào  
<0,05  
<0,05  
Sống với gia đình/bố mẹ/  
họ hàng  
105  
75,5  
34  
24,5  
<20  
≥20  
Điều Dưỡng  
Dược  
155  
251  
109  
220  
77  
196  
210  
64  
78,3  
75,6  
78,4  
74,6  
80,2  
73,1  
80,2  
64  
43  
81  
30  
75  
19  
72  
52  
16  
108  
21,7  
24,4  
21,6  
25,4  
19,8  
26,9  
19,8  
20  
Khoa  
<0,05  
Học  
tập  
Y
≤năm 2  
>năm 2  
Không  
Có  
Năm học hiện tại  
Áp lực học tập  
<0,05  
<0,05  
342  
76,9  
24  
Bảng 12. Mối liên quan giữa đặc điểm về cá nhân và học tập đến hành vi về SKSS  
Chưa tốt  
Tốt  
p
Hành vi  
Đặc  
điểm  
Yếu tố liên quan  
n
%
n
%
19-20  
21-22  
>22  
16  
70  
6
6
249 94  
Tuổi  
28,8 173 71,2 <0,05  
27,3  
29  
16 72,7  
22 71  
Cá  
nhân  
Nghèo/cận nghèo  
Trung bình/trên trung bình  
Học tập toàn thời gian  
9
Kinh tế gia đình  
<0,05  
<0,05  
83  
49  
16,6 416 83,4  
14,9 280 85,1  
Tình trạng công  
việc chính hiện  
nay  
Vừa học vừa làm  
43  
21,4 158 78,6  
128 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
Chưa tốt  
Tốt  
31  
61  
69  
17,3 148 82,7  
17,4 290 82,6  
17,6 322 82,4  
Hoạt động cộng  
đồng  
<0,05  
<0,05  
<0,05  
Ở trọ  
Môi trường sống  
Điểm đầu vào  
Sống với gia đình/bố mẹ/  
họ hàng  
23  
16,5 116 83,5  
<20  
≥20  
31  
61  
16  
68  
8
15,7 167 84,3  
18,4 271 81,6  
11,5 123 88,5  
Điều Dưỡng  
Dược  
Khoa  
23,1 227 76,9 <0,05  
Y
8,3  
5,6  
88 91,7  
253 94,4  
≤năm 2  
>năm 2  
Trung bình/yếu  
Khá/giỏi  
Xuất sắc  
Không  
15  
77  
6
Học tập Năm học hiện tại  
<0,05  
29,4 185 70,6  
31,6 13 68,4  
20,8 278 79,2 <0,05  
Xếp loại năm học  
vừa rồi  
73  
2
15,4  
18,8  
11 84,6  
65 81,2  
15  
77  
Áp lực học tập  
<0,05  
Có  
17,1 373 82,9  
Bảng 13. Phân tích hồi quy Logistic đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức SKSS của đối  
tượng  
Yếu tố  
Hệ số hồi quy (β)  
OR  
1
95% Cl  
p
Điều Dưỡng  
Dược  
1
Khoa  
0,184  
0,579  
1
1,202  
1,784  
1
0,786-1,838  
1,045-3,044  
0,396  
Y
0,034  
Năm 1-năm 2  
Năm 3-năm 4  
Năm học hiện tại  
0,869  
2,384  
1,663-3,418  
0,000  
4. Bàn luận  
chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Samuel  
thấy bao cao su (46,4%). Gần 58% số người  
được hỏi chỉ biết một biện pháp tránh thai, 60%  
có kiến thức hơn hai biện pháp tránh thai trở lên  
[8]. Lý do của sự khác biệt là tại các nước  
phương Tây, việc quan hệ tình dục được xem là  
phổ biến, quan hệ tình dục xuất hiện ở độ tuổi  
trẻ hơn và với tần suất cao hơn so với Việt Nam,  
có thể sinh viên tại đó cảm thấy việc sử dụng  
bao cao su bất tiện hơn khi quan hệ nên sẽ chọn  
các biện pháp khác để phòng ngừa. Còn tại Việt  
Nam, biện pháp sử dụng bao cao su được biết  
4.1. Kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS  
của sinh viên thuộc khối Khoa học sức khỏe  
4.1.1. Kiến thức về SKSS của sinh viên  
4.1.1.1. Hiểu biết về các biện pháp tránh thai  
và vấn đề nạo phá thai  
Bảng 3 và biểu đồ 1 cho thấy tất cả 100%  
sinh viên biết ít nhất một biện pháp tránh thai,  
trong đó biện pháp tránh thai bằng bao cao su  
được biết đến nhiều nhất chiếm 94,5%. Mức độ  
hiểu biết tốt (biết 4-6 biện pháp tránh thai) của  
sinh viên chiếm 70,9%. Kết quả nghiên cứu của  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 129  
đến nhiều hơn các biện pháp tránh thai khác do  
bao cao su được tuyên truyền, quảng cáo nhiều,  
dễ sử dụng, phòng bệnh lây truyền qua đường  
tình dục cao, đặc biệt là có thể tìm thấy ngay ở  
hầu hết các tiệm tạp hóa lớn, các chi nhánh của  
VinMart hay các siêu thị,...  
Bảng 5 cho thấy có 39,6% nữ sinh viên cho  
rằng tiếp cận với biện pháp tránh thai là dễ  
dàng và đa số sinh viên có thái độ lên án/không  
chấp nhận trước việc nạo phá thai (78,9%). Kết  
quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả  
nghiên cứu của Đỗ Thị Như Mai có 16,5% tìm  
hiểu về mang thai/các biện pháp tránh thai là dễ  
[2]. Hay kết quả nghiên của Nur Feyzal Kesen  
và cộng sự với 62% không đồng ý với tuyên bố  
rằng phá thai là sai trái [6]. Lý do của sự khác  
biệt này do xuất phát điểm là sinh viên khối  
Khoa sức khỏe tiếp xúc thường xuyên các kiến  
thức về sức khỏe bao gồm SKSS nên thái độ tốt  
hơn. Một phần sinh viên tại các nước phương  
Tây thường có suy nghĩ thoáng hơn trong vấn  
đề về tình dục, hành vi tình dục và kế hoạch  
hóa gia đình,...nên sinh viên cảm thấy việc nạo  
phá thai là không đáng lo ngại.  
Bảng 3 cho thấy ở nội dung hiểu biết về tác  
hại của nạo phá thai có 61,2% sinh viên có hiểu  
biết tốt (biết 4-6 tác hại). Số còn lại là hiểu biết  
chưa tốt và không biết đến tác hại của nạo phá  
thai chiếm 38,8%. Kết quả nghiên cứu của  
chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của  
Dương Thị Anh Đào và cộng sự là chỉ có 2%  
sinh viên không biết tác hại của việc nạo phá  
thai đến sức khỏe của nữ giới, tác hại được biết  
đến nhiều nhất là vô sinh (94,9%) [1].  
4.1.1.2. Kiến thức về bệnh lây truyền qua tình dục  
Biểu đồ 3 và bảng 4 có 99,2% sinh viên nữ  
biết ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình  
dục với HIV/AIDS (95,8%); Giang mai  
(72,6%); Lậu (68,1%); Sùi mào gà (67,4%);  
Mụn rộp bộ phận sinh dục (41,4%); Viêm gan  
B (36,9%). Có 64,7% kể được từ 2 dấu hiệu trở  
lên của bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tỷ  
lệ biết 2-3 cách phòng tránh bệnh lây truyền  
qua đường tình dục của sinh viên chiếm 73,8%,  
còn lại 26,2% là biết một cách và không biết  
cách phòng tránh bệnh lây truyền qua đường  
tình dục. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
tương đồng với nghiên cứu của Dương Thị Anh  
Đào và cộng sự với 88,7% sinh viên biết đến  
HIV/AIDS; Giang mai (75,3%); Lậu (71,3%)  
[1]. Việc có nhiều kiến thức về các bệnh lây  
truyền qua đường tình dục sẽ giúp cho sinh  
viên tìm hiểu kỹ hơn về cách phòng tránh, từ đó  
ngăn chặn việc có thai, mang thai ngoài ý  
muốn, nạo phá thai, đặc biệt là các bệnh lây  
truyền qua đường tình dục.  
4.1.2.2. Thái độ khi có thai trước hôn nhân của  
nữ sinh viên chưa kết hôn  
Theo thống kê biểu đồ 5 có 21,9% chắc chắn  
giữ thai khi có thai trước hôn nhân; 57,5% lựa  
chọn báo cho gia đình biết và hỏi ý kiến.  
Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương  
đồng với nghiên cứu của Nur Feyzal Kesen cho  
thấy tỷ lệ sinh viên đồng ý với quan điểm  
không được phép phá thai chiếm 22% và có  
57,1% sinh viên không chắc chắn về việc thực  
hiện phá thai [6]. Từ kết quả nghiên cứu cho  
thấy, sinh viên cần trang bị kiến thức giới tính  
phù hợp. Ngoài ra, sinh viên có thể sử dụng các  
dịch vụ tư vấn có uy tín hoặc nhờ sự tư vấn từ  
những người hiểu biết trong gia đình.  
4.1.3. Hành vi về SKSS của sinh viên  
4.1.3.1. Quan hệ tình dục trước hôn nhân và sử  
dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ  
Bảng 8 cho thấy có 19,1% nữ sinh viên chưa  
kết hôn có quan hệ tình dục trước hôn nhân,  
trong đó 80,2% là có/thường xuyên sử dụng  
biện pháp tránh thai; thỉnh thoảng/không sử  
dụng biện pháp tránh thai (19,8%) và không có  
4.1.2. Thái độ về SKSS của sinh viên  
4.1.2.1. Thái độ về việc tiếp cận các biện pháp  
tránh thai, nạo phá thai  
130 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
bất kỳ sinh viên nào là không sử dụng biện  
pháp tránh thai khi quan hệ tình dục. Kết quả  
của chúng tôi cao hơn so với Mussa N Sweya  
và cộng sự với 43,6% đã từng sử dụng biện  
pháp tránh thai [10]. Lý do của sự khác biệt này  
là tỷ lệ quan hệ tình dục của nghiên cứu chúng  
tôi thấp hơn nhưng tỷ lệ sử dụng biện pháp  
tránh thai lại cao hơn do đối tượng nghiên cứu  
là sinh viên nữ thuộc khối Khoa học sức khỏe  
nên hiểu biết của sinh viên về quan hệ tình dục  
cao hơn so với các sinh viên học các chuyên  
ngành khác. Từ vấn đề trên cho thấy, việc tiếp  
cận với các kiến thức về sức khỏe là yếu tố  
quan trọng thúc đẩy các hành vi tốt trong chăm  
sóc SKSS.  
quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với  
nghiên cứu của Randhir Kumar với 91,5%  
thanh thiếu niên muốn bác sĩ cho họ lời khuyên  
về giáo dục giới tính, 83,0% là trường học/giáo  
viên [7]. Nghiên cứu của Mussa N Sweya với  
44,8% là chia sẻ với bạn bè/đồng nghiệp,  
truyền hình và các cơ sở y tế (40,3%) [10].  
Phần lớn sinh viên đều chọn chia sẻ vấn đề này  
với nhiều đối tượng khác nhau, chính điều này  
sẽ giúp trao đổi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm  
của bản thân, cũng như chia sẻ về các vấn đề  
sức khỏe liên quan đến giới tính, tình dục, giúp  
những đối tượng khác có sức khỏe an toàn, biết  
cách phòng tránh các nguyên nhân gây ra bệnh.  
4.1.4. Kiến thức, thái độ và hành vi chung về  
vấn đề SKSS  
4.1.3.2. Chia sẻ các vấn đề về giới tính, mang  
thai ngoài ý muốn và nạo phá thai  
Biểu đồ 3, Bảng 6 và Bảng 9 cho thấy kiến  
thức, thái độ, hành vi chung về các vấn đề  
SKSS tốt chiếm lần lượt là 37,9%, 23,4% và  
82,6%. Mặc dù xuất phát điểm là sinh viên  
thuộc khối Khoa học sức khỏe nhưng tỷ lệ này  
lại thấp, có thể do việc sinh viên thiếu sự tự tin  
trong các vấn đề nhạy cảm, cũng có thể do việc  
truyền tải kiến thức của giảng viên, sách vở,  
phương tiện thông tin đại chúng,.. có nói nhiều  
về vấn đề này nhưng sự tiếp thu hay lắng nghe  
của sinh viên còn chưa cao nên dẫn đến việc  
thiếu hụt kiến thức về SKSS. Vì vậy, việc hình  
thành các hệ thống tư vấn về SKSS thông qua  
các đường dây nóng tại trường học hay các  
trang web trực tuyến do Đoàn Thanh niên  
trường phối hợp với các trung tâm y tế cơ sở,  
trung tâm tư vấn tâm lý giáo dục, chăm sóc  
SKSS, các buổi học ngoại khóa về sức khỏe  
tình dục nhằm giải đáp thắc mắc, cung cấp  
phương tiện và hướng dẫn sử dụng các biện  
pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn, các  
nguy hiểm của việc nạo phá thai, các bệnh lây  
truyền qua đường tình dục, dấu hiệu cũng như  
cách phòng tránh bệnh lây truyền qua đường  
tình dục, HIV/AIDS,... cho sinh viên là hết sức  
quan trọng.  
Biểu đồ 5 cho thấy có 9,9% nữ sinh viên đã  
thực hiện nạo phá thai khi mang thai, về tỷ lệ  
xem phim, ảnh, sách, báo có nội dung khiêu  
dâm thường xuyên chiếm 5,8%, đa số là vô tình  
xem/thoáng qua (50,9%) và chưa xem (43,2%).  
Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của  
Robera Olana Fite với 86,5% có tiền sử phá  
thai khi mang thai ngoài ý muốn [5]. Nghiên  
cứu của Oyedunni Sola Arulogun là 72% đã  
từng xem các trang web khiêu dâm [4]. Và  
nghiên cứu của Patrícia Sofia Ferreira Miranda  
với 30% thừa nhận họ đã xem phim khiêu dâm  
[9]. Lý do của sự khác biệt này là tại các nước  
phương Tây thường có xu thế quan hệ tình dục  
ở độ tuổi sớm hơn so với Việt Nam. Chính vì  
quan hệ tình dục sớm nên việc tìm hiểu các  
trang mạng với nội dung khiêu dâm sẽ cao hơn,  
dẫn đến các hành vi có thai ngoài ý muốn và  
hậu quả có thể là nạo phá thai. Do đó việc tiếp  
cận các kiến thức về SKSS, tình dục an toàn là  
yếu tố quan trọng thúc đẩy các hành vi phù  
hợp, giảm thiểu hậu quả nạo phá thai.  
Theo Bảng 7, đa số các nữ sinh viên có chia  
sẻ vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục,  
SKSS với người khác giới chiếm 88,5%. Kết  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 131  
4.2. Các yếu tố liên quan đến SKSS  
Sinh viên thường xuyên tham gia các hoạt  
động có kiến thức tốt hơn những sinh viên ít  
hoặc không tham gia (38,7% so với 36,3%).  
Những sinh viên thường xuyên tham gia các  
hoạt động, ngoài kiến thức của trường học thì  
còn có thêm các kiến thức từ ngoại khóa, từ các  
sinh viên khóa trên hay những kiến thức thực tế  
mà sinh viên đã trải nghiệm. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với p < 0,05.  
4.2.1. Các yếu tố liên quan đến kiến thức về  
SKSS qua phân tích đơn biến  
4.2.1.1. Mối liên quan giữa đặc điểm về cá  
nhân đến kiến thức về SKSS  
Theo phân tích đơn biến các yếu tố liên quan  
có ý nghĩa thống kê đến kiến thức về SKSS ở  
bảng 10, cho thấy sự liên quan của tuổi, kinh tế  
gia đình, tình trạng công việc chính hiện nay,  
hoạt động cộng đồng và môi trường sống với  
kiến thức về SKSS (p<0,05).  
Đối với môi trường sống: những sinh viên ở  
trọ sẽ có kiến thức tốt hơn (38,6%) sinh viên  
sống chung với gia đình/bố mẹ/ sống nhờ họ  
hàng (38,6% so với 36%). Đối với những sinh  
viên ở trọ, thường xuyên phải tự sắp xếp sinh  
hoạt cuộc sống, luôn phải tự thích nghi với  
cuộc sống xa gia đình, điều đó đòi hỏi phải luôn  
duy trì khả năng học tập kỹ năng mềm, trong đó  
có các kỹ năng bảo vệ sức khỏe. Khác với sinh  
viên ở cùng gia đình, người thân, thì sinh viên  
được sự chăm sóc từ gia đình, các vấn đề cuộc  
sống tự lập sẽ không gặp phải, do đó các kỹ  
năng bảo vệ bản thân khi tự lập chưa được hình  
thành. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p<0,05.  
Ở các độ tuổi khác nhau sẽ có kiến thức về  
SKSS khác nhau. Trong ba nhóm tuổi đã phân  
tích thì sinh viên ở độ tuổi > 22 có kiến thức tốt  
hơn sinh viên ở các độ tuổi từ 19-20 và 21-22  
lần lượt là (50%, 28,3% và 47,3%). Như vậy độ  
tuổi có tác động đến kiến thức về SKSS của  
sinh viên, tuổi càng lớn thì kiến thức càng tốt  
hơn, vì qua các năm học sinh viên được tiếp  
xúc càng nhiều những kiến thức liên quan đến  
sức khỏe trong đó có SKSS, với sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê với p<0,05.  
Sinh viên có mức kinh tế trung bình/trên  
trung bình có kiến thức tốt hơn sinh viên có  
điều kiện kinh tế nghèo/cận nghèo (38,3% so  
với 32,3%). Điều kiện kinh tế tốt sẽ giúp sinh  
viên có nhiều sự lựa chọn trong việc tiếp cận  
các kiến thức, tiếp cận các môi trường giáo dục  
có chất lượng cao, có cơ hội thường xuyên  
tham gia những hoạt động ngoại khóa, kỹ năng  
sống,... từ đó sẽ hình thành những kiến thức sức  
khỏe trong đó có SKSS. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với p<0,05.  
4.2.1.2. Mối liên quan giữa đặc điểm về học tập  
đến kiến thức về SKSS  
Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan có ý  
nghĩa thống kê đến kiến thức về SKSS ở Bảng  
10 cho thấy sự liên quan của điểm đầu vào,  
khoa, năm học hiện tại, xếp loại năm học vừa  
rồi và áp lực học tập với kiến thức về SKSS (p  
< 0,05).  
Đối với điểm đầu vào: những sinh viên có  
điểm vào trường ≥ 20 sẽ có kiến thức tốt hơn  
những sinh viên có điểm < 20 (39,8% so với  
34,8%). Điều này cũng cho thấy, từ những năm  
học cấp 2, cấp 3 sinh viên đã tự biết trang bị  
cho mình những kiến thức tốt về SKSS hay  
chịu khó tiếp thu từ thầy cô, bạn bè nhiều hơn  
so với những sinh viên có điểm đầu vào thấp.  
Ngoài ra, những sinh viên có điểm đầu vào cao  
Những sinh viên vừa học vừa làm có kiến  
thức tốt hơn sinh viên học tập hoàn toàn thời  
gian (39,8% so với 36,8%). Ở những sinh viên  
vừa học vừa làm, ngoài những kiến thức trên  
trường, sinh viên còn tiếp xúc với các kiến thức  
xã hội. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p<0,05.  
132 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
có khả năng học tập tốt hơn, sự tiếp thu các  
kiến thức trong đó có các kiến thức về sức khỏe  
cũng nhiều hơn. Sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê với p<0,05.  
Đối với áp lực học tập: sinh viên có áp lực  
học tập có kiến thức tốt hơn các sinh viên  
không có áp lực học tập (38,2% so với 36,2%).  
Áp lực học tập sẽ giúp sinh viên tập trung nâng  
cao kết quả học tập, tạo động lực trong việc  
nâng cao kiến thức. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p < 0,05.  
Đối với khoa: sinh viên thuộc khoa Y sẽ có  
kiến thức về SKSS cao hơn các sinh viên khoa  
Dược và Điều dưỡng lần lượt là (46,9% so với  
37,3% và 33,1%). Cụ thể, tại Bảng 13 thì  
những sinh viên học khoa Y có mức độ kiến  
thức SKSS cao hơn 1,78 lần so với sinh viên  
khoa Điều dưỡng (p < 0,05). Sinh viên khoa Y  
lượng kiến thức chuyên về lâm sàng, bệnh học  
nhiều hơn so với sinh viên Điều dưỡng và  
Dược, ngoài ra thực tập tại bệnh viện cũng  
nhiều hơn, nên sinh viên khoa này sẽ phải tìm  
hiểu kỹ hơn, từ đó lượng kiến thức về sức khỏe  
luôn được tăng cường. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p<0,05.  
4.2.2. Các yếu tố liên quan đến thái độ về  
SKSS qua phân tích đơn biến  
4.2.2.1. Mối liên quan giữa đặc điểm về cá  
nhân đến thái độ về SKSS  
Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan có ý  
nghĩa thống kê đến thái độ về SKSS ở Bảng 11  
cho thấy sự liên quan của tuổi, kinh tế gia đình,  
tình trạng công việc chính hiện nay, hoạt động  
cộng đồng và môi trường sống với thái độ về  
SKSS (p<0,05).  
Nữ sinh viên ở độ tuổi từ 19-20 (26,8%) có  
thái độ tốt hơn nữ sinh viên có độ tuổi 21-22  
(19,8%) và trên 22 tuổi (22,7%). Điều này có thể  
do phần đông các nữ sinh viên ở độ tuổi 19-20  
mới bước vào trường, đều có mong muốn được  
tìm hiểu và trao đổi, thu thập thông tin nhằm  
nâng cao hiểu biết của bản thân về chăm sóc sức  
khỏe. Do đó họ có động lực học hỏi, lắng nghe  
sự chỉ bảo về những vấn đề nhạy cảm này. Như  
vậy những nữ sinh viên ở nhóm tuổi này có thái  
độ tích cực hơn những nhóm tuổi còn lại. Sự  
khác biệt có ý nghĩa thông kê với (p<0,05).  
Đối với năm học hiện tại: sinh viên đang  
theo học tại trường thuộc năm 3 trở lên ( > năm  
2) có kiến thức tốt hơn các sinh viên ≤ năm 2  
(48,1% so với 28%), cụ thể tại Bảng 13 thì  
những sinh viên học năm 3 - năm 4 có mức độ  
kiến thức SKSS cao hơn 2,38 lần so với sinh  
viên năm 1 - năm 2 (p < 0,001). Ở những sinh  
viên thuộc năm học càng cao thì lượng kiến  
thức được tiếp thu cũng tăng dần, vì sinh viên  
được học tập tích lũy kiến thức ngày càng nhiều  
hơn, tiếp cận càng nhiều với môi trường y học,  
tham gia được nhiều ngoại khóa,... Sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.  
Đối với kinh tế gia đình: tình trạng kinh tế  
gia đình có liên quan đến ý nghĩa thống kê về  
thái độ của từng đối tượng (p<0,05). Những hộ  
gia đình có kinh tế trung bình hoặc trên mức  
trung bình (23,8%) sẽ có thái độ tốt hơn những  
hộ nghèo hoặc cận nghèo (16,1%). Sinh viên có  
điều kiện kinh tế tốt được tiếp xúc với các môi  
trường hội nhập nhiều hơn, do đó cách nghĩ và  
cách nhìn nhận, tiếp xúc với vấn đề SKSS của  
những người có kinh tế gia đình trung bình trở  
lên sẽ tích cực và dễ dàng hơn. Sự khác biệt có  
ý nghĩa thông kê với (p<0,05).  
Đối với xếp loại năm học vừa rồi: những  
sinh viên có bảng điểm thuộc loại xuất sắc  
(>3,59 – 53,8%) có kiến thức tốt hơn các sinh  
viên từ loại giỏi trở xuống (≤ 3,59 - 45,9%), (≤  
2,49 – 42,1%). Thông qua điểm số mà sinh viên  
đạt được trong học tập, những sinh viên thuộc  
loại xuất sắc được nhiều kiến thức về SKSS  
hơn vì tiếp cận với kiến thức nhiều hơn, tiếp  
thu, trao đổi với thầy cô, bạn bè nhiều hơn các  
sinh viên có xếp loại học tập kém hơn. Sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 133  
Đối với tình trạng công việc chính hiện nay  
cũng có liên quan có ý nghĩa thống kê đến thái  
độ SKSS (p<0,05), sinh viên học tập toàn thời  
gian có phần trăm cao hơn vừa học vừa làm,  
tuy tỷ lệ không đáng kể nhưng ít nhiều vẫn sẽ  
tác động tới thái độ của các đối tượng nghiên  
cứu (23,7% và 22,9%). Yếu tố này trái ngược  
với kiến thức, nhưng khi nói đến thái độ thì  
sinh viên học toàn thời gian có thái độ tốt hơn.  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với (p<0,05).  
áp lực học tập có liên quan đến ý nghĩa thống  
kê về thái độ SKSS của sinh viên (p < 0,05).  
Đối với điểm đầu vào: tỷ lệ sinh viên thi trên  
20 điểm có thái độ tốt hơn sinh viên thấp hơn  
20 điểm (24,4% so với 21,7%). Điều này có thể  
thấy những sinh viên có kiến thức tốt hơn sẽ  
chuẩn bị hành trang vào đời cho bản thân tốt  
hơn, không những nâng cao kiến thức của bản  
thân mà còn tích cực nâng cao thái độ của mình  
đối với mọi vấn đề, mà ở đây là SKSS. Sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê với (p < 0,05).  
Đối với hoạt động cộng đồng những sinh  
viên tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng  
có thái độ tốt hơn những sinh viên không/ít  
tham gia các hoạt động. Điều này có thể lý giải,  
khi một sinh viên năng động, không ngại giao  
tiếp, phát huy các kỹ năng mềm của mình thì sẽ  
có thái độ tích cực về mọi mặt đặc biệt là sức  
khỏe bản thân. Ngoài ra khi tham gia hoạt động  
sinh viên sẽ được biết nhiều hơn, tích lũy nhiều  
hơn, dẫn đến thái độ tốt hơn. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với p< 0,05.  
Đối với khoa: sinh viên khoa Dược có thái  
độ cao hơn khoa Y và Điều dưỡng (25,4% so  
với 19,8% và 21,6%). Điều này cho thấy thái  
độ của sinh viên khoa Dược cao hơn những  
khoa còn lại. Với những kiến thức lâm sàng có  
được từ học Y và học Điều dưỡng, sinh viên sẽ  
tự tin hơn trong kiến thức về các bệnh lây  
truyền qua đường tình dục hay các vấn đề nạo  
phá thai, điều này có thể tạo nên sự chủ quan  
của họ về việc tự bảo vệ sức khỏe, do đó thái  
độ của hai nhóm đối tượng này sẽ thấp hơn so  
với sinh viên ngành Dược học. Sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê với (p < 0,05).  
Môi trường sống cũng có liên quan đến ý  
nghĩa thống kê (p<0,05). Sinh viên sống chung  
với gia đình/bố mẹ/ sống nhờ họ hàng sẽ có thái  
độ tốt hơn (24,5%) sinh viên ở trọ (23%). Vì  
những đối tượng này có sự kèm cặp chặt chẽ  
hơn từ gia đình - những người sẽ nhắc nhở phổ  
cập kiến thức thường xuyên. Sự có mặt của gia  
đình không thể không nhắc tới, vì chính gia  
đình làm thay đổi tích cực một phần nào thái độ  
của nữ sinh viên. Cuộc sống ở trọ sẽ thoải mái  
hơn và ít có rào cản đến đời tư nên có cái nhìn  
coi nhẹ, không chú trọng về SKSS từ đó thái độ  
của những đối tượng này cũng sẽ có thay đổi và  
kéo theo tỷ lệ thấp hơn, sự khác biệt có ý nghĩa  
thông kê với (p<0,05).  
Đối với năm học hiện tại: sinh viên trên năm  
2 có thái độ thấp hơn sinh viên từ năm 1 đến  
năm 2 (19,8% so với 26,9 %). Tương đồng với  
lý do ở yếu tố khoa với thái độ, những sinh viên  
trên năm 2 được tích lũy nhiều kiến thức về sức  
khỏe, SKSS, điều này có thể tạo nên chủ quan  
của bản thân trong việc bảo vệ sức khỏe, trong  
đó có SKSS. Ngoài ra, sự tích lũy kiến thức  
không chính thống về chăm sóc SKSS, có thể  
tạo nên thái độ chưa phù hợp với vấn đề nghiên  
cứu. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với (p <  
0,05).  
4.2.2.2. Mối liên quan giữa đặc điểm về học tập  
đến thái độ về SKSS  
Đối với áp lực học tập: những sinh viên  
không có áp lực học tập sẽ có thái độ tốt thấp  
hơn so với những sinh viên có áp lực học tập  
(20% so với 24%). Áp lực sẽ giúp sinh viên chủ  
động hơn trong việc tìm kiếm thông tin phù hợp  
Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan có ý  
nghĩa thống kê đến thái độ về SKSS ở Bảng 11  
cho thấy điểm đầu vào, khoa, năm học hiện tại,  
134 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
cung cấp cho quá trình học tập, từ đó sẽ hình  
thành nhiều kiến thức trong đó có kiến sức  
chăm sóc sức khỏe. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với (p < 0,05).  
Kiến thức chưa đảm bảo lại tiếp cận xã hội  
nhiều, sinh viên sẽ khó tự bảo vệ được sức  
khỏe. Do đó hành vi của những đối tượng này  
chiếm tỷ lệ cao là chưa tốt. Sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê với p < 0,05.  
4.2.3. Các yếu tố liên quan đến hành vi về  
Đối với môi trường sống: tỷ lệ hành vi tốt  
SKSS ở các nữ sinh viên sống cùng gia đình/bố  
mẹ/họ hàng cao hơn so với nữ sinh viên sống ở  
trọ (83,5% so với 82,4%). Sinh viên sống cùng  
gia đình sẽ có được sự quản lý từ gia đình làm  
hạn chế việc tiếp xúc với những yếu tố xã hội  
chưa phù hợp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p<0,05.  
SKSS qua phân tích đơn biến  
4.2.3.1. Mối liên quan giữa đặc điểm về cá  
nhân đến hành vi về sức khóe sinh sản  
Phân tích đơn biến các yếu tố có liên quan  
đến ý nghĩa thống kê về hành vi về SKSS ở  
Bảng 12 cho thấy có sự liên quan của tuổi, kinh  
tế gia đình, tình trạng công việc chính hiện nay,  
hoạt động cộng đồng và môi trường sống với  
hành vi về SKSS (p < 0,05).  
4.2.3.2. Mối liên quan giữa đặc điểm về học tập  
đến hành vi về SKSS  
Hành vi tốt cho SKSS ở các nữ sinh viên 19-  
20 tuổi cao hơn so với nữ sinh viên 21-22 tuổi  
và >22 tuổi (94% so với 71,2% và 72,7%). Độ  
tuổi càng lớn sẽ tiếp xúc càng nhiều yếu tố xã  
hội, nhưng với một kiến thức chưa đảm bảo hay  
tiếp nhận những kiến thức không chính thống, ở  
giai đoạn sinh viên năm 3 năm 4 sẽ tăng tỷ lệ  
các hành vi chưa tốt cho sức khỏe, trong đó có  
SKSS. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
(p<0,05).  
Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan có ý  
nghĩa thống kê đến hành vi về SKSS ở Bảng 12  
cho thấy sự liên quan của điểm đầu vào, khoa,  
năm học hiện tại, xếp loại năm học vừa rồi và  
áp lực học tập với hành vi về SKSS (p < 0,05).  
Cụ thể:  
Đối với điểm đầu vào: tỷ lệ hành vi tốt về  
SKSS ở các nữ sinh viên có điểm đầu vào < 20  
điểm cao hơn so với nữ sinh viên có điểm đầu  
vào ≥ 20 điểm (84,3% so với 81,6%). Kết quả  
này ngược lại so với Kiến thức và Thái độ,  
những sinh viên có điểm đầu vào ≥ 20 điểm có  
Kiến thức và Thái độ tốt hơn những sinh viên <  
20 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p<0,05.  
Hành vi tự bảo vệ SKSS tốt ở các nữ sinh  
viên có kinh tế gia đình trung bình và trên trung  
bình cao hơn so với nữ sinh viên có kinh tế gia  
đình thuộc diện nghèo và cận nghèo (83,4% và  
71%). Kinh tế gia đình tốt giúp sinh viên có  
điều kiện tiếp cận nhiều với các thông tin, có  
nhiều sự lựa chọn hơn trong tiếp cận y tế, có  
nhiều lựa chọn hơn trong việc chăm sóc sức  
khỏe, từ đó hình thành những hành vi tự bảo vệ  
sức khỏe tốt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
với p<0,05.  
Đối với khoa: tỷ lệ hành vi tốt SKSS ở các  
nữ sinh viên khoa Y là cao nhất, tiếp theo đến  
nữ sinh viên khoa Điều Dưỡng, và cuối cùng là  
nữ sinh viên khoa Dược (91,7% so với 88,5%  
và 76,9%). Ở sinh viên khoa Y được cung cấp  
một lượng kiến thức bệnh học nhiều hơn so với  
2 khoa còn lại, và sinh viên cũng được đi thực  
tập nhiều hơn nên có tỷ lệ hành vi tốt hơn. Sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.  
Đối với tình trạng công việc chính hiện nay:  
tỷ lệ hành vi SKSS tốt ở các nữ sinh viên học  
tập là toàn thời gian cao hơn so với nữ sinh  
viên vừa học vừa làm (85,1% so với 78,6%).  
Vừa học vừa làm sẽ giảm đi thời gian để sinh  
viên nghiên cứu, học tập, tiếp thu kiến thức.  
Đối với năm học hiện tại: tỷ lệ hành vi tốt  
SKSS ở các nữ sinh viên ≤ năm 2 nhiều hơn  
V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136 135  
các nữ sinh viên > năm 2 (94,4% so với  
70,6%). Nữ sinh viên ≤ năm 2 là những sinh  
viên mới tiếp xúc với giảng đường đại học, với  
các yếu tố xã hội ở mức cao hơn so với giai  
đoạn phổ thông, nhưng với tâm lý bảo vệ bản  
thân còn được kéo dài từ thời phổ thông sẽ giúp  
hạn chế các hành vi chưa tốt cho sức khỏe.  
Những sinh viên > năm 2 với tâm lý được tiếp  
cận tích lũy nhiều kiến thức xã hội mang tính  
hội nhập phương Tây, trong đó có các hành vi  
có hại cho SKSS. Sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê với p < 0,05.  
phân tích đơn biến: Tuổi, kinh tế gia đình, tình  
trạng công việc chính hiện nay, môi trường  
sống, điểm đầu vào, khoa, năm học hiện tại,  
xếp loại năm học vừa rồi, hoạt động cộng đồng,  
áp lực học tập liên quan có ý nghĩa thống kê  
đến kiến thức SKSS của sinh viên (p<0,05).  
- Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê  
đến kiến thức SKSS của sinh viên từ kết quả  
phân tích mô hình hồi quy Logistic đa biến bao  
gồm: Sinh viên thuộc khoa, năm học hiện tại  
của sinh viên.  
+ Những sinh viên học khoa Y có mức độ  
kiến thức SKSS cao hơn 1,78 lần so với sinh  
viên khoa Điều dưỡng (p < 0,05).  
Đối với áp lực học tập: tỷ lệ hành vi tốt  
SKSS ở các nữ sinh viên có áp lực học tập cao  
hơn nữ sinh viên không có áp lực học tập  
(82,9% so với 81,2%). Áp lực học tập thúc đẩy  
nâng cao kiến thức sinh viên, để đạt được kết  
quả học tập tốt, các kiến thức mà sinh viên tìm  
kiếm phải phù hợp, trong đó có các kiến thức  
về SKSS. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p < 0,05.  
+ Những sinh viên học năm 3 – năm 4 có  
mức độ kiến thức SKSS cao hơn 2,38 lần so với  
sinh viên năm 1 – năm 2 (p < 0,001).  
Liên quan đến thái độ SKSS  
Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến  
thái độ SKSS của sinh viên từ kết quả phân tích  
đơn biến: Tuổi, kinh tế gia đình, tình trạng công  
việc chính hiện nay, môi trường sống, điểm đầu  
vào, khoa, năm học hiện tại, hoạt động cộng  
đồng, áp lực học tập có liên quan có ý nghĩa  
thống kê đến kiến thức SKSS của sinh viên (p <  
0,05).  
Đối với xếp loại năm học vừa rồi: tỷ lệ hành  
vi tốt SKSS ở các nữ sinh viên có xếp loại xuất  
sắc là cao nhất, tiếp theo là khá/giỏi và cuối  
cùng là trung bình/yếu (84,6% so với 79,2% và  
68,4%). Với học lực tốt, tiếp cận các kiến thức  
phù hợp, sẽ giúp sinh viên tăng cường các hành  
vi phù hợp sức khỏe. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p < 0,05.  
Liên quan đến hành vi SKSS  
Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến  
hành vi SKSS của sinh viên từ kết quả phân  
tích đơn biến: Tuổi, kinh tế gia đình, tình trạng  
công việc chính hiện nay, môi trường sống,  
điểm đầu vào, khoa, năm học hiện tại, xếp loại  
năm học vừa rồi, hoạt động cộng đồng, áp lực  
học tập có liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiến  
thức sức khỏe sinh sản của sinh viên (p < 0,05).  
5. Kết luận  
5.1. Kiến thức, thái độ và hành vi SKSS của  
nữ sinh viên  
- Kiến thức tốt về SKSS là 37,9%;  
- Thái độ tốt về SKSS là 23,4%;  
- Hành vi tốt về SKSS là 82,6%.  
5.2. Liên quan đến kiến thức, thái độ và  
hành vi SKSS của đối tượng (p<0,05)  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Dương Thị Anh Đào, Đỗ Thị Như Trang, Nguyễn  
Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Loan Thanh (2017),  
“Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe  
của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình”.  
Liên quan đến kiến thức SKSS  
- Các yếu tố có liên quan đến ý nghĩa thống  
kê về kiến thức SKSS của sinh viên từ kết quả  
136 V.T.K.Mi, Đ.T.T.Hằng, T.T.Ngân,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 121-136  
[2]. Đỗ Thị Như Mai (2013), “Kết quả khảo sát vị thành  
niên, thanh niên Phú Yên”.  
[3]. Sở Y Tế Hà Nội (2018), “Tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị  
thành niên ngày càng gia tăng”, Hà Nội.  
attitude and perception of sex education among  
school going adolescents in Ambala District,  
Haryana, India: a cross-sectional study. Journal of  
clinical and diagnostic research: JCDR, 11(3),  
LC01.  
[4]. Arulogun, O. S., Ogbu, I. A., & Dipeolu, I. O.  
(2016). Influence of internet exposure on sexual  
behaviour of young persons in an urban district of  
Southwest Nigeria. The Pan African Medical  
Journal, 25.  
[5]. Fite, R. O., Mohammedamin, A., & Abebe, T. W.  
(2018). Unintended pregnancy and associated  
factors among pregnant women in Arsi Negele  
Woreda, West Arsi Zone, Ethiopia. BMC research  
notes, 11(1), 671.  
[6]. Kesen, N. F., Polat, G., & Dasbas, S. (2015).  
Opinions on abortion among a group of university  
students in Turkey. International Journal of  
Humanities and Social Science, 7(1), 89-95.  
[7]. Kumar, R., Goyal, A., Singh, P., Bhardwaj, A.,  
Mittal, A., & Yadav, S. S. (2017). Knowledge  
[8]. Mbugua, S. M., & Karonjo, J. M. (2018).  
Reproductive health knowledge among college  
students in Kenya. BMC public health, 18(1), 907.  
[9]. Miranda, P. S. F., Aquino, J. M. G., Monteiro, R. M.  
P. D. C., Dixe, M. D. A. C. R., Luz, A. M. B. D., &  
Moleiro, P. (2018). Sexual behaviors: study in the  
youth. Einstein (São Paulo), 16(3).  
[10]. Sweya, M. N., Msuya, S. E., Mahande, M. J., &  
Manongi, R. (2016). Contraceptive knowledge,  
sexual behavior, and factors associated with  
contraceptive use among female undergraduate  
university students in Kilimanjaro region in  
Tanzania. Adolescent  
therapeutics, 7.  
health,  
medicine  
and  
pdf 16 trang yennguyen 20320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ khối Khoa học sức khỏe, trường Đại học Duy Tân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_va_hanh_vi_ve_suc_khoe_sinh_san_cua_sinh_v.pdf