Bài thuyết trình Nhân một vài trường hợp điều trị viêm gân vôi hoá bằng chọc khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội hút vôi dưới hướng dẫn siêu âm - Vương Thu Hà
Vôi hóa ở điểm bám gân
Chọc hút vôi hóa dưới siêu âm
Dùng đầu dò line tần số 5-12 MHz, sử dụng kim 18G chọc vào trung tâm vôi
hóa dưới hướng dẫn siêu âm, bơm nước muối sinh lý rồi phá vỡ vôi bằng việc
chọc kim nhiều lần vào vôi hóa sau đó hút ra, lặp đi lặp lại quá trình đến khi hết
phần vôi hóa quan sát được trên siêu âm. Cuối cùng, tiêm 1ml thuốc
Depomedrol 40mg/1ml vào bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai.
Vôi hóa sau khi hút ra
- Theo dõi lâm sàng thấy bệnh nhân giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận
động sau 2 ngày và giảm đáng kể các triệu chứng sau 1 tuần
- Kiểm tra lại bằng siêu âm sau 4 tuần không thấy vôi hóa.
Cas 2
Bệnh nhân nữ trẻ 33 tuổi, có vôi hoá ở điểm bám gân trên gai hai bên.
Tuy nhiên bệnh nhân chỉ có triệu chứng đau dữ dội và hạn chế vận
động bên phải nên chúng tôi chỉ thực hiện chọc hút vôi hoá bên phải
Sau 1 năm điều trị
Cas 3
Bệnh nhân nam 40 tuổi, vôi hoá ở gân trên gai phát hiện trên phim chụp MRI,
điều trị ở rất nhiều bệnh viện không đỡ, sau khi chọc hút vôi hoá bệnh nhân
giảm đau ngay sau 1 ngày và theo dõi 1 năm chưa có triệu chứng đau lại.
Cas 5
Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, đau mỏi nhiều vùng mặt ngoài khớp háng phải không rõ
nguyên nhân, không lan xuống đùi cẳng chân. Đau tăng về đêm và khi đi lại, đặc
biệt khi leo cầu thang. Bệnh nhân đã được chẩn đoán thoái hoá khớp háng và
điều trị thuốc chống viêm, giảm đau không đỡ
X quang lúc đầu bác sĩ không nghĩ tới bệnh lý viêm gân vôi hoá, do đó bệnh
nhân tiếp tục được chụp phim cộng hưởng từ. Trên hình ảnh cộng hưởng từ
quan sát thấy phản ứng viêm rộng ở các gân điểm bám vào mấu chuyển lớn
kèm hình nốt vôi hoá trong gân
Hình ảnh điển hình, kết hợp với triệu chứng lâm sàng đau nhiều
nên bệnh nhân được chỉ định chọc hút vôi hoá điều trị, kết hợp với
tiêm thẩm phân túi hoạt dịch cơ mông nhỡ. Kết quả bệnh nhân
giảm đau tốt sau 2 ngày và giảm hẳn các triệu chứng đau về đêm.
Cas 6
Nữ trẻ, 29 tuổi, đau dữ dội ở mặt ngoài khuỷu tay diễn biến 3 tháng, đã
uống nhiều thuốc chống viêm giảm đau nhưng không đỡ nhiều.
XQ, ban đầu do vị trí của nốt vôi hoá trùng với bóng xương quay nên khó
phát hiện, tuy nhiên khi làm siêu âm phát hiện nốt vôi hoá ở điểm bám gân
lồi cầu ngoài cánh tay nên bệnh nhân đã được chọc hút vôi hoá dưới
hướng dẫn siêu âm.
Tổng kết
STT
Cas 1
Cas 2
44
Cas 3
Cas 4
Cas 5
Cas 6
Tuổi
Giới
Vị trí
52
29
Nữ
33
40
54
Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nữ
Gân trên gai
Mấu
lớn
chuyển Khuỷu tay
Gân trên gai
Gân trên gai
Gân dưới vai
Lâm sàng
Đau (+++), hạn Đau (++)
Đau (+++)
Đau (+++)
Đau (+++)
Đau (+++)
chế vận động hạn chế vận hạn chế vận hạn chế vận hạn chế vận hạn chế vận
(+++)
động (+)
động (++)
động (++)
động (+++)
động (+++)
Điều trị nội 2 tuần
1 tháng
3 ngày
2 tháng
1 ngày
1 tuần
6 tháng
2 ngày
2 tháng
1 ngày
khoa
Thời gian đáp 1 tuần
2 ngày
ứng
Thời gian giảm 1 tháng
1 tháng
13 tháng
10 tháng
14 tháng
18 tháng
đau
Viêm gân vôi hoá
(calcific tendinosis)
• Là 1 bệnh ly
́
do lắng đọng tinh thể canxi
hydroxyapatite và được xếp vào nhóm
bệnh thấp do lắng đọng tinh thể
• Khá thường gặp: 2.5-7.5 % người trưởng
thành, BN chạy thận (50%), đái tháo
đường (25%)
• Tuổi trung bình 40-70 tuổi
• Nữ > nam
Viêm gân vôi hoá
(calcific tendinosis)
• Vị trí hay gặp nhất ơ
đo đến háng, khuỷu, cô
gối, cột sống cổ ...
̉
quanh khớp vai, sau
́
̉
tay, cổ chân, khớp
• Ở khớp vai : gân cơ trên gai (80%), gân
cơ dưới gai (15%) ,dưới vai (5%)
• Viêm gân vôi hóa là nguyên nhân của 7%
đau khớp vai
Lâm sàng và xét nghiệm
• Đa số không triệu chứng
• Ở giai đoạn tiêu vôi: viêm cấp (sưng,
nóng, đỏ, đau) ở vị trí điểm bám gân
• Biến chứng: đứt gân, tụ máu, thậm chí
hoại tử khớp
• Xét nghiệm marker viêm(+): CRP, bạch
cầu, máu lắng tăng cao.
Cơ chế bệnh sinh
• Nhiều gia
̉ thiết nhưng chưa sáng tỏ. Một số nguyên
nhân: rối loạn chuyển hoá calci phospho?, thoái hóa
hoặc hoại tư
kéo dài
̉ mô mềm, chấn thương, tình trạng thiếu oxy
• Mô bệnh học biểu hiện viêm: đại thực bào va
̀ các tinh
thê canxi apatite lắng đọng trong vùng tổn thương.
̉
• Tiến triển 4 giai đoạn: tiền vôi, vôi hóa, thoái biến vôi,
sau vôi hóa
• Giai đoạn vôi hóa có/không có triệu chứng (đau âm ỉ
tăng về đêm).
• Giai đoạn thoái biến vôi: enzyme tiêu hủy vôi gây viêm
dữ dội đau(+++), hạn chế vận động, đứt gân, phân
giải vỏ xươngdi trú vôi vào tủy xương
Chẩn đoán hình ảnh: X quang
• Dễ dàng, điển hình
• 3 type vôi hóa trên X quang :
– Type A là vôi hoá đồng nhất, tròn, bờ nét
thường kích thước lớn.
– Type B là vôi hoá nhiều ổ, hoặc tròn, thường
thuỳ múi, bờ mờ và mật độ thấp.
– Type C vôi hoá mảnh, dạng dải dọc theo
đường đi của gân (do viêm gân thoái hoá
mạn tính)
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài thuyết trình Nhân một vài trường hợp điều trị viêm gân vôi hoá bằng chọc khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội hút vôi dưới hướng dẫn siêu âm - Vương Thu Hà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_thuyet_trinh_nhan_mot_vai_truong_hop_dieu_tri_viem_gan_v.pdf

