Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương Huế
Bệnh viện Trung ương Huế
Nghiên cứu
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHỤ VÀ CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA
BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ ĐANG HÓA TRỊ BỔ TRỢ TẠI TRUNG
TÂM UNG BƯỚU-BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Phan Thị Đỗ Quyên1*, La Thị Hoàng Oanh1, Nguyễn Thị Hương2
DOI: 10.38103/jcmhch.2020.65.18
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát về tác dụng phụ thường gặp của hóa trị, tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng chất
lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ/tân bổ trợ tại khoa Hóa Trị Bệnh viện trung ương Huế.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi trên 65 bệnh
nhân đang hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ tại khoa Hóa Trị - Trung tâm Ung bứu - Bệnh viện trung ương Huế
từ tháng 1đến tháng 6 năm 2020. Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm SPSS21 for windows.
Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân là 48,84. Tỷ lệ có thụ thể nội tiết dương tính chiếm 50,8%, Her2neu
dương tính chiếm 61,5%, bộ ba âm tính chiếm 7,7%. Hầu hết có các triệu chứng gây giảm chất lượng sống
như khô miệng, mất cảm giác ngon miệng, đau mỏi toàn thân, đau cánh tay và hạn chế vận động tay bên
mổ cắt vú. Đa phần bệnh nhân cảm giác mặc cảm vì cơ thể mất cân đối và xấu xí hơn sau mổ cắt vú triệt để
cải biên. Hầu hết không có hứng thú với hoạt động tình dục hoặc không tìm thấy vui thích trong quan hệ tình
dục. Tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 3 là 35,4%, tuy nhiên số bệnh nhân được hóa trị tân bổ trợ chỉ chiếm 7,7%.
Kết luận: Biết rõ hơn về các triệu chứng mà bệnh nhân phải chịu đựng, biết được các mối quan tâm,
lo lắng và các vấn đề khó chịu mà bệnh nhân gặp phải trong quá trình điều trị nội trú, hiểu về các suy nghĩ
và nhu cầu lựa chọn điều trị của họ sẽ hỗ trợ rất lớn cho bác sĩ lâm sàng có thể đưa ra kế hoạch điều trị và
theo dõi hỗ trợ tốt hơn cho bệnh nhân ung thư vú. Từ đây có thể hướng đến hóa trị tân bổ trợ và kế hoạch
bảo tồn vú cho bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.
ABSTRACT
ASSESSMENT OF SIDE EFFECTS AND QUALITY OF LIFE AND ITS DETERMINANTS
AMONG BREAST CANCER PATIENTS WITH ADJUVANT CHEMOTHERAPY AT
ONCOLOGY CENTER - HUE CENTRAL HOSPITAL
Phan Thi Đo Quyen1*, La Thi Hoang Oanh1, Nguyen Thi Huong2
Objective: The survey aims to explore the side effects and quality of life and its determinants among
breast cancer patients who have been receiveing adjuvant chemotherapy at Oncology Center - Hue Central
Hospital.
Sample and Methods: This cross - sectional study deployed questionnaire - based interviews with
1 Trung tâm Ung bướu, BVTW Huế
- Ngày nhận bài (Received): 1/10/2020; Ngày phản biện (Revised): 06/10/ 2020;
- Ngày đăng bài (Accepted): 04 /12 /2020
- Người phản hồi (Corresponding author): Phan Thị Đổ Quyên
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
125
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.
65 patients when they came to the hospital for adjuvant chemotherapy at Oncology Center - Hue Central
Hospital from January to June 2020. Collected data was analyzed using SPSS software 21 for Windows.
Results: The sample has an average age of 48,84. Among the total respondents, 50,8% had hormone
receptor-positive breast cancer, 61,5% had Her2neu - positive, 7,7% was triple negative breast cancer
patients. Most respondents reported having symptoms that decreased their quality of life, such as dry
mouth, appetite changes, fatigue, arm pain, and limited mobility in ipsilateral arm. The majority felt insecure
because of their asymmetric and less good-looking body image post mastectomy. Most were no longer
interested in sexual activities. The rate of stage 3 was 35,4% but there was only 7,7% of patients who had
received neo-adjuvant chemotherapy.
Conclusion: This survey contributes to understanding of patients’ suffering of symptoms, their concerns
and anxiety, and distress during their outpatient care. It also provides information on their thoughts and
preferences for options of therapy. Altogether the study carries important implications for clinicians to plan
more effective treatment and care for breast cancer patients.
Từ khóa: Chất lượng sống, ung thư vú, gánh nặng ung thư
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
vú bên mang khối u, sau đó, các phương pháp điều trị
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ
bổ trợ như hóa trị, xạ trị, nội tiết đều có thể gây ảnh
tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Tại
hưởng lâu dài đến hình thể, nội tiết tố nữ và các hoạt
Việt Nam, theo số liệu ghi nhận ung thư 2010, ung
động chức năng của cánh tay bên mổ cắt vú, và cả
thư vú đứng hàng thứ nhất với tỷ lệ mắc chuẩn theo
đời sống tình dục của chính bệnh nhân. Tất cả những
tuổi trung bình là 29,9/100.000 dân. Theo ước tính,
điều này ảnh hưởng đến tâm sinh lý của người bệnh.
đến năm 2020, tỷ lệ này là 38,1/ 100.000 dân [1]. Với
Ở Việt Nam nói riêng và các nước Á Đông nói chung,
sự phát triển mạnh mẽ của y học ngày nay, đặc biệt
phụ nữ thường ngại ngùng khi được hỏi đến vấn đề
trong lĩnh vực điều trị ung thư vú, sự phối hợp điều
đời sống tình dục. Các đề tài nghiên cứu về vấn đề
trị đa mô thức, đa chuyên khoa đã nâng tỷ lệ điều trị
này cũng chưa được chú trọng và còn hạn chế.
lành của ung thư ngày càng cao. Vì vậy, thời gian
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm
sống thêm sau điều trị và tỷ lệ sống thêm toàn bộ của
tìm hiểu thêm một vài yếu tố ảnh hưởng đến chất
bệnh nhân ngày càng kéo dài. Trong xu thế hiện nay,
người ta càng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất
lượng sống của bệnh nhân bên cạnh hiệu quả điều
lượng sống của bệnh nhân ung thư vú, trong đó có
đời sống tình dục. Đặc biệt là bệnh nhân đang trong
quá trình nhận hóa trị liệu - một trong những liệu
trị lành của các phương pháp điều trị. Người bệnh pháp điều trị gây nên các tác dụng phụ đặc trưng
và gây ám ảnh lớn cho tất cả bệnh nhân ung thư nói
chung và ung thư vú nói riêng. Ngoài ra, chúng tôi
cũng khảo sát chung về giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán
và tỷ lệ bệnh nhân được hóa trị bổ trợ trước mổ vì đây
là xu thế điều trị trong giai đoạn hiện nay nhằm có kế
hoạch bảo tồn vú cho bệnh nhân. Các thông tin này
giúp chúng ta có thêm các hiểu biết về mối quan tâm
của bệnh nhân, hỗ trợ bác sĩ tư vấn rõ ràng và cặn kẽ
hơn trong quá trình điều trị nhằm giảm thiểu các tác
hại của một số phương án điều trị không chính thống
và hỗ trợ tốt cho bệnh nhân ung thư giảm các tác
dụng phụ trong quá trình hóa trị. Cũng từ các thông
tin này, chúng ta cũng nhận thấy gánh nặng về thể
chất và tinh thần của bệnh nhân ung thư vú trong quá
trình điều trị hóa chất.
ung thư nói chung và người phụ nữ mắc ung thư vú
nói riêng, khi được chẩn đoán ung thư phải trải qua
những cung bậc cảm xúc rất khác biệt. Họ có thể sẽ
sốc, sợ hãi, lo lắng, tuyệt vọng. Sau khi đã quen dần
với việc bản thân mắc ung thư, họ lại phải bắt đầu
chịu đựng những nỗi đau về thể xác từ các phương
pháp điều trị mang lại như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.
Sau khi đã trải qua các phương pháp điều trị triệt căn,
người bệnh phải chịu một số tác dụng không mong
muốn của các phương pháp điều trị trong một thời
gian khá dài và đôi khi đem lại nhiều ám ảnh cho họ
suốt quãng đời còn lại. Một đặc thù của bệnh nhân
ung thư vú đó là: hầu hết bệnh nhân là phụ nữ, khi
điều trị, họ thường sẽ bị cắt đi một phần hoặc toàn bộ
126
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Xử lý số liệu
Số liệu được ghi nhận bằng cách phỏng vấn bệnh
nhân bằng bảng câu hỏi, được thu thập và xử lý bằng
phần mềm SPSS 21 for windows.
Đối tượng
Bao gồm 65 bệnh nhân đang điều trị hóa trị bổ
trợ hoặc tân bổ trợ, được thu thập thông tin tại Trung
tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Huế, thỏa
mãn các tiêu chuẩn sau:
Các tiêu chuẩn đánh giá chính: Các yếu tố ảnh
hưởng đến kế hoạch điều trị và tiên lượng như giai
đoạn, hóa mô miễn dịch khối u, các yếu tố gây giảm
chất lượng sống của bệnh nhân, đời sống tình dục
của bệnh nhân.
- Ung thư vú đã được chẩn đoán xác định, chưa
có di căn xa, điều trị nội trú hóa trị bổ trợ - tân bổ trợ
từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020.
- Bệnh nhân có năng lực nghe, hiểu, nói chuyện
- Bệnh nhân được giải thích về cuộc khảo sát và
tham gia phỏng vấn hoàn toàn tự nguyện. Việc tham
gia nghiên cứu hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc
điều trị hay kế hoạch theo dõi, chăm sóc sức khỏe
của bệnh nhân.
III. KẾT QUẢ
Đặc điểm bệnh nhân
Bệnh nhân nữ, đã được chẩn đoán xác định ung
thư vú và chưa có di căn xa có chỉ định hóa trị bổ trợ
hoặc tân bổ trợ. Tuổi trung bình: 48,84.
Giai đoạn
Tiêu chuẩn loại trừ
Giai đoạn II chiếm 64,6% (42 người), giai đoạn
III chiếm 35,4% (23 người)
- Bệnh nhân từ chối tham gia khảo sát.
Bệnh nhân ung thư vú có di căn xa
Số bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính là 33,
chiếm 50,8%. Số bệnh nhân có Her2neu dương tính
là 40 người, chiếm tỷ lệ 61,5%. 5 bệnh nhân (7,7%)
có bộ ba âm tính.
Bệnh nhân không có chỉ định hóa trị
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp mô tả cắt ngang
- Công cụ khảo sát là bảng câu hỏi dựa trên
EORTC QoQ BR23 phiên bản tiếng Việt, một bảng
câu hỏi về chất lượng sống của Tổ chức nghiên cứu
và điều trị ung thư Châu Âu (The European Organi-
zation for Research and Treatment of Cancer). Bảng
câu hỏi này được chỉnh sửa để phù hợp với tình hình
bệnh nhân đang hóa trị tại khoa Hóa trị của Trung
tâm Ung Bướu - BVTW Huế.
Trong 65 bệnh nhân này, có 5 bệnh nhân được
hóa trị tân bổ trợ (hóa trị trước mổ) do khối u ban
đầu lớn, di căn hạch nách khám được trên lâm sàng.
Tác dụng phụ huyết học: hay gặp là giảm bạch
cầu hạt: 23 người chiếm 35,3%, trong đó hầu hết ở
độ 1-2, độ 3 chỉ 1 bệnh nhân (1,5%), không có độ 4.
Không có trường hợp nào giảm tiểu cầu.
Một số các triệu chứng gây giảm chất lượng sống của bệnh nhân
Bảng 1: Các triệu chứng gây giảm chất lượng sống của bệnh nhân
Mức độ
Không có
Ít
Nhiều
Rất nhiều
Triệu chứng
Khô miệng
3 (4,6%)
2 (3,1%)
10 (15,4%)
41 (63,1%)
39 (60%)
6 (9,2%)
2 (3,1%)
5 (7,6%)
36 (55,4%)
31 (47,7%)
21 (32,3%)
13 (20,0%)
13 (20,0%)
21 (32,3%)
60 (92,3%)
50 (76,9%)
25 (38,5%)
30 (46,2%)
32 (49,2%)
10 (15,4%)
13 (20,0%)
32 (49,2%)
3 (4,6%)
1 (1,5%)
2 (3,15)
2 (3,1%)
1 (1,5%)
0
Thay đổi khẩu vị
Mất cảm giác ngon miệng
Đau mỏi toàn thân
Bốc hỏa
Mất ngủ
4 (6,2%)
0
Buồn nôn
Nôn
10 (15,3%)
0
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
127
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.
Các triệu chứng khô miệng, mất cảm giác ngon
Chán ăn và mất ngủ cũng là các triệu chứng
miệng, nôn và buồn nôn trong quá trình điều trị thường gặp ở bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị.
hóa chất là thường gặp và có thể kéo dài ngay cả Một trong những lý do lớn nhất có thể do tâm lý quá
sau khi ngừng hóa trị. Một nguyên nhân khác có lo lắng của người bệnh và chế độ ăn uống sinh hoạt
thể dẫn đến các triệu chứng này là do tâm lý lo kiêng khem ngặt nghèo làm bệnh nhân bị giảm chất
lắng, căng thẳng vì bệnh tật của bệnh nhân. Ngoài lượng sống và giảm sự tận hưởng cuộc sống của
ra, chế độ ăn kiêng khem ngặt nghèo cũng có thể bệnh nhân.
góp phần gây nên các triệu chứng này. Vì vậy
Rụng tóc là tác dụng phụ đặc trưng của hóa trị.
trong quá trình hóa trị các loại thuốc hỗ trợ giảm Tất cả bệnh nhân ung thư vú hóa trị bổ trợ/tân bổ trợ
tác dụng phụ luôn có.
đều rụng hết tóc sau 1 đợt truyền thuốc.
Đau mỏi toàn thân là một triệu chứng khá phổ
Hội chứng thần kinh ngoại biên gây ra các triệu
biến ở các bệnh nhân được khảo sát. Lý do có thể chứng tê đau bàn tay chân kiểu châm chích, kéo dài
do các đợt hóa trị trước đó, do quá trình hóa trị làm thường xuất hiện từ đợt 7 của điều trị (sau 2 đợt
bất hoạt buồng trứng tạm thời làm sụt giảm nội tiết paclitaxel). Hầu hết bệnh nhân có biểu hiện độ 1-2.
tố nữ ở bệnh nhân trẻ gây nên các vấn đề như đau Không có độ 3-4. Có 15 bệnh nhân (23%) không có
mỏi cơ, bốc hỏa…
biểu hiện hội chứng này.
Một số triệu chứng có thể là tác dụng phụ lâu dài sau mổ cắt vú gây ảnh hưởng chất lượng sống
Bảng 2: Tác dụng phụ lâu dài sau mổ cắt vú
Mức độ
Không có
Ít
Nhiều
Rất nhiều
Triệu chứng
Đau ở cánh tay
39 (60%)
57 (87,7%)
40 (61,5%)
21 (32,3%)
17 (26,2%)
8 (12,3%)
23 (35,4%)
42 (64,6%)
9 (13,8%)
0
0
0
0
0
Phù cánh tay
Vận động cánh tay khó khăn
Dị cảm ở vết mổ cũ tại ngực sau cắt vú
2 (3,1%)
2 (3,1%)
Hầu hết bệnh nhân ung thư vú sau mổ cắt vú triệt để cải biên trong cuộc khảo sát này đều cho biết họ có
cảm giác đau nhức ở vùng vú và cánh tay bên đã mổ. Đặc biệt là vùng nách và mặt trong cánh tay. Một số
bệnh nhân có thể có phù nhẹ ở cánh tay cùng bên cắt vú. 67,7% bệnh nhân sau mổ cắt vú triệt để cải biên
có cảm giác dị cảm ở vùng vú đã cắt 38,5% bệnh nhân có vận động khó khăn ở cánh tay cùng bên với vú
đã cắt. Những triệu chứng này gây nên sự khó chịu trong cuộc sống hàng ngày của người bệnh và có thể
gây giảm chức năng vận động khớp vai và cánh tay bên mổ cắt vú triệt để cải biên trong thời gian lâu dài
sau điều trị. Vì vậy, cần có sự tham gia hỗ trợ của khoa Phục hồi chức năng trong kế hoạch điều trị của một
bệnh nhân ung thư vú.
Sự mặc cảm vì thay đổi hình thể của bệnh nhân sau mổ cắt vú
Bảng 3: Sự mặc cảm vì thay đổi hình thể của bệnh nhân sau mổ cắt vú
Mức độ
Không có
Ít
Nhiều
Rất nhiều
Triệu chứng
Cảm giác xấu xí
16 (24,6%) 12 (18,5%) 22 (33,8%) 15 (23,1%)
17 (26,2%) 11 (16,9%) 22 (33,8%) 15 (23,1%)
13 (20,0%) 14 (21,5%) 22 (33,8%) 16 (24,6%)
12 (18,5%) 18 (27,7%) 19 (29,2%) 16 (24,6%)
Cảm giác thiếu nữ tính
Cảm thấy khó khăn khi tự ngắm mình
Bất mãn với cơ thể
128
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
Vú và bộ ngực là một trong những đặc trưng của thấy có sự khác biệt nhỏ về đặc điểm bệnh nhân ung
người phụ nữ. Hầu hết phụ nữ cảm thấy tự tin vào
hình thể của mình khi có một bộ ngực đẹp và hoàn
chỉnh. Vì vậy, việc bị cắt đi một bên vú và sự mất cần
bằng cùng với vết mổ cũ lớn và sẹo xấu sau cắt vú
triệt để cải biên đã gây nên một tổn thương khá lớn
cho hầu hết nữ bệnh nhân ung thư vú. Một số bệnh
nhân thậm chí không dám ngắm bản thân mình qua
gương, câu trả lời thường gặp là họ sợ nhìn chính
mình trong gương. Tỷ lệ sợ nhiều và rất nhiều chiếm
58,4% (28 người), phần còn lại, 14 người (21,5%) có
sợ nhưng ít hơn. Chỉ 20% người bệnh cảm thấy bình
thường thì thấy bản thân trong gương.
thư vú ở nhóm nghiên cứu và với một số nghiên cứu
khác trên thế giới như tỷ lệ bệnh nhân có thụ thể nội
tiết dương tính thường chiếm 2/3 tổng số bệnh nhân
ung thư vú ở các nghiên cứu lớn. Ở nghiên cứu của
chúng tôi, tỷ lệ này chiếm 50,8%. Ngược lại, tỷ lệ
bệnh nhân có Her2neu dương tính chiếm tỷ lệ cao
hơn là 61,5%. Điều này là có thể lý giải được do
tiêu chuẩn chọn bệnh là những bệnh nhân chưa có
di căn và đang hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ. Trong
khi đó, bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính ở
giai đoạn sớm ưu tiên điều trị nội tiết bổ trợ, việc chỉ
định hóa trị là hạn chế. Vì vậy, trên quần thể bệnh
nhân này-những bệnh nhân có chỉ định hóa trị, tỷ lệ
bệnh nhân có thụ thể nội tiết thấp hơn so với tỷ lệ
bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết trên toàn
bộ quần thể bệnh nhân ung thư vú (có chỉ định và
không có chỉ định hóa trị). Mặt khác, bệnh nhân có
Her2neu dương tính thường có chỉ định hóa trị bổ
trợ nhiều hơn nên tỷ lệ trong quần thể bệnh nhân
đang hóa trị sẽ cao hơn so với quần thể bệnh nhân
ung thư vú tính chung. Bệnh nhân sau khi đã được
chẩn đoán xác định ung thư vú chưa di căn, họ vào
bệnh viện với mục đích được nhận hóa trị để điều
trị triệt căn. Tuy nhiên, quá trình chăm sóc toàn diện
cho bệnh nhân ung thư vẫn cần được tiến hành và
theo dõi thường xuyên chứ không chỉ dừng lại hóa
trị hay xạ trị. Một số vấn đề lớn bệnh nhân thường
gặp phải sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống rất nhiều
nếu không được chú ý giải quyết kịp thời. Đầu tiên
là các triệu chứng có thể còn tồn tại sau các đợt điều
trị trước đó như đau mỏi cơ thể, khô miệng, chán
ăn. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng này ở bệnh nhân
của chúng tôi là trên 30%. Tỷ lệ này tương đương
với một số nghiên cứu được tiến hành ở các nước
Tây Âu trên bệnh nhân ung thư vú sau mổ cắt vú
triệt để cải biên như nghiên cứu của Johannsen M.
và cộng sự [2]. Sau phẫu thuật cắt vú triệt để cải
biên, hơn 20% bệnh nhân có cảm giác đau nhiều ở
vùng vết mổ cũ và cánh tay bên mổ cắt vú, tỷ lệ có
đau cả ít và nhiều lên tới 40%. Khoảng 38,6% bệnh
Trong 65 bệnh nhân được khảo sát, mặc dù tất
cả bệnh nhân đang ở giai đoạn chưa di căn, trong
đó giai đoạn II chiếm 64,6%, giai đoạn III là 35,5%,
hầu hết bệnh nhân vẫn có cơ hội chữa khỏi, nhưng
số bệnh nhân lo lắng cho sức khỏe tương lai của bản
thân lại chiếm đến 98,4% (64 người), chỉ 1 người trả
lời không lo lắng. Trong đó, số người trả lời lo lắng
rất nhiều là 33 người, chiếm 50,8%. Qua đó, cho
thấy bệnh nhân ung thư mặc dù đã được giải thích
điều trị và tiên lượng rõ ràng nhưng vẫn luôn có nỗi
sợ thường trực về bệnh tái phát.
Hầu hết bệnh nhân biết họ có cảm giác đau ốm,
cảm thấy bản thân luôn có bệnh. Số người này
chiếm 80% (52 người), trong đó 18 người (27,7%)
trả lời là cảm giác đau ốm ở mức rất thường xuyên.
Sự hứng thú và hoạt động tình dục của
bệnh nhân
53,8% (35 người) bệnh nhân được hỏi trả lời họ
không có hứng thú với sinh hoạt tình dục và hoàn
toàn không nghĩ tới quan hệ tình dục trong quá trình
điều trị. 22 người chiếm 33,8% trả lời có quan tâm
tới đời sống tình dục, tuy nhiên, số người cho biết họ
có tận hưởng đời sống tình dục là 15 người (23,0%).
Lý do đưa ra là không có hứng thú, đau, mệt mỏi
và 13,8% (9 người) được hỏi cho biết họ lo sợ sinh
hoạt tình dục có thể gây tăng nguy cơ tái phát bệnh.
IV. BÀN LUẬN
Với kết quả của nghiên cứu này, chúng tôi nhận
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
129
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.
nhân có cảm giác vận động cánh tay khó khăn. Đây thần của bệnh nhân được tốt hơn. Ngoài ra, trong xu
là các triệu chứng khá thường gặp sau mổ cắt vú thế điều trị bảo tồn hiện nay, việc hóa trị tân bổ trợ
triệt để cải biên. Chúng ta có thể tìm thấy những sau đó lên kế hoạch mổ cắt thùy vú cũng là một lựa
tỷ lệ tương tự ở các nghiên cứu của Johannsen M. chọn cần cân nhắc nhằm làm giảm các tác dụng phụ
và cộng sự, nghiên cứu của Leysen L. và cộng sự cả về thể chất và tinh thần do cắt vú triệt để cải biên
[3]. Từ các số liệu này, chúng ta có thể thấy một mang đến cho bệnh nhân ung thư vú.
vấn đề rất lớn cần quan tâm đó là tập phục hồi chức
Một yếu tố không thể thiếu để có chất lượng sống
năng cho bệnh nhân sau mổ cắt vú triệt để cải biên. tốt là đời sống tình dục của bệnh nhân ung thư vú
Đây là một nhu cầu cấp thiết nhằm cải thiện chất sau điều trị. Với những bệnh nhân đã mổ cắt vú, sự
lượng sống trong thời gian lâu dài cho bệnh nhân khiếm khuyết về hình thể ảnh hưởng rất lớn đến vấn
ung thư vú sau điều trị tích cực. Việc tiến hành tập đề này. Với tình hình về các tỷ lệ hoạt động đời sống
phục hồi chức năng cần tiến hành sớm và phối hợp tình dục như ở nhóm bệnh nhân được khảo sát, chất
nhịp nhàng giữa khoa Ung Thư và khoa Phục Hồi lượng cuộc sống của bệnh nhân sẽ bị giảm xuống
Chức Năng để mang lại hiệu quả lâu dài nhằm nâng đáng kể. Ngoài ra, với đặc thù văn hóa và tập tính
cao chất lượng sống bệnh nhân sau điều trị.
của người Á Đông, đời sống tình dục của bệnh nhân
Một vấn đề khác cũng rất quan trọng và hiện chưa được quan tâm để có sự hỗ trợ đúng mức. Kết
chưa được quan tâm đúng mức là mặc cảm về hình luận này cũng được tìm thấy ở một số nghiên cứu ở
thể của bệnh nhân sau phẫu thuật cắt toàn bộ vú. Ở các nước châu Á khác như Đài Loan hay Jordan [6]
nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn bệnh nhân có
Ngoài ra, một số các yếu tố khác cũng gây nên
cảm giác mình bị xấu đi sau mổ, giảm nữ tính và giảm chất lượng sống trong đời sống tình dục của
cảm thấy sợ hãi khi nhìn chính bản thân mình trong bệnh nhân như việc sử dụng thuốc nội tiết và các
gương. Đây là một trong những yếu tố gây nên áp tác dụng phụ của thuốc lên hệ nội tiết sinh dục của
lực tâm lý rất lớn cho bệnh nhân ung thư vú sau mổ. người bệnh, sự lo lắng về bệnh tật, cảm giác đau ốm,
Trên những người được hỏi, dù bệnh nhân còn trẻ và cả sự suy giảm về sức khỏe sau điều trị, chế độ
hay đã lớn tuổi vẫn rất quan tâm tới hình thể của bản ăn uống kiêng khem quá ngặt nghèo. Tất cả những
thân. Tỷ lệ cảm thấy bản thân xấu xí là 75,4% (49 yếu tố này đều có ảnh hưởng nhất định đến đời sống
người). 52 (80%) người cảm thấy khó khăn khi tự tình dục của bệnh nhân.
ngắm bản thân trong gương. Số người bất mãn với
chính cơ thể mình là 53 người chiếm 81,5%. Điều
này cũng được nhận thấy ở một số nghiên cứu tiến
V. KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu về tác dụng không mong muốn
hành ở bệnh nhân châu Á như nghiên cứu tại Đài của hóa trị và những yếu tố ảnh hưởng đến chất
Loan của Chie WC và cộng sự [4] hoặc nghiên cứu lượng sống của bệnh nhân, hiểu rõ về các khó khăn
tại Jordan của Abu-Helalha M. và cộng sự [5]. Từ cả về thể chất, tinh thần và đời sống tình dục của
những con số trên gợi ý đến việc chúng ta cần đưa bệnh nhân sẽ hỗ trợ bác sĩ lâm sàng có kế hoạch điều
phẫu thuật tái tạo vú cho những bệnh nhân mổ cắt trị và tư vấn rõ ràng đầy đủ cho bệnh nhân trước,
vú triệt để cải biên đã được điều trị ổn định như là trong và sau quá trình điều trị tích cực và cả trong
một điều trị cần thiết trong kế hoạch chăm sóc toàn thời gian dùng thuốc duy trì. Với một kế hoạch cụ
diện cho một bệnh nhân ung thư vú. Điều trị này thể, chính xác và phù hợp với bệnh nhân, cơ hội
nhằm cải thiện đáng kể chất lượng sống và làm cho thành công trong điều trị của chúng ta sẽ tăng lên,
việc điều trị ung thư vú trở nên hoàn chỉnh hơn, từ đó cơ hội lành bệnh sẽ cải thiện rõ ràng và giảm
chăm sóc và phục hồi sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thiểu các tai biến có thể có trong quá trình điều trị.
130
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. International Agency for Research on Cancer Cancer. 2017;25(12):3607-3643.
(2012). Breast Cancer Esti- mated Incidence, 4. Chie WC, Chang KJ, Huang CS, et al. Quality
Mortality and Prevalence Worldwide in 2012.
Globocan 2012.
of life of breast cancer patients in Taiwan:
validation of the Taiwan Chinese version of the
EORTC QLQ-C30 and EORTC QLQ-BR23.
Psychooncology 2003;12:729-35.
2. Johannsen M, Christensen S, Zachariae R, Jensen
AB. Socio-demographic, treatment-related,
and health behavioral predictors of persistent 5. Abu-Helalah M1, Al-Hanaqta M, Alshraideh
pain 15 months and 7-9 years after surgery: a
nationwide prospective study of women treated
for primary breast cancer. Breast Cancer Res
Treat. 2015;152(3):645-658.
H, Abdulbaqi N, Hijazeen J. Quality of life
and psychological well-being of breast cancer
survivors in Jordan. Asian Pac J Cancer
Prev. 2014;15(14):5927-36.
3. Leysen L, Beckwée D, Nijs J, et al. Risk factors 6. Yan B, Yang LM, Hao LP, et al. Determinants of
of pain in breast cancer survivors: a systematic
review and meta-analysis. Support Care
Quality of Lifeꢀfor Breast Cancer Patients in
Shanghai, China. PLoS One 2016;11:e0153714.
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
131
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tac_dung_phu_va_chat_luong_song_cua_benh_nhan_ung_t.pdf

