Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương Huế

Bệnh viện Trung ương Huế  
Nghiên cứu  
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHỤ VÀ CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA  
BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ ĐANG HÓA TRỊ BỔ TRỢ TẠI TRUNG  
TÂM UNG BƯỚU-BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ  
Phan Thị Đỗ Quyên1*, La Thị Hoàng Oanh1, Nguyễn Thị Hương2  
DOI: 10.38103/jcmhch.2020.65.18  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Khảo sát về tác dụng phụ thường gặp của hóa trị, tìm hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng chất  
lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ/tân bổ trợ tại khoa Hóa Trị Bệnh viện trung ương Huế.  
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi trên 65 bệnh  
nhân đang hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ tại khoa Hóa Trị - Trung tâm Ung bứu - Bệnh viện trung ương Huế  
từ tháng 1đến tháng 6 năm 2020. Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm SPSS21 for windows.  
Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân là 48,84. Tỷ lệ có thụ thể nội tiết dương tính chiếm 50,8%, Her2neu  
dương tính chiếm 61,5%, bộ ba âm tính chiếm 7,7%. Hầu hết có các triệu chứng gây giảm chất lượng sống  
như khô miệng, mất cảm giác ngon miệng, đau mỏi toàn thân, đau cánh tay và hạn chế vận động tay bên  
mổ cắt vú. Đa phần bệnh nhân cảm giác mặc cảm vì cơ thể mất cân đối và xấu xí hơn sau mổ cắt vú triệt để  
cải biên. Hầu hết không có hứng thú với hoạt động tình dục hoặc không tìm thấy vui thích trong quan hệ tình  
dục. Tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 3 là 35,4%, tuy nhiên số bệnh nhân được hóa trị tân bổ trợ chỉ chiếm 7,7%.  
Kết luận: Biết rõ hơn về các triệu chứng mà bệnh nhân phải chịu đựng, biết được các mối quan tâm,  
lo lắng và các vấn đề khó chịu mà bệnh nhân gặp phải trong quá trình điều trị nội trú, hiểu về các suy nghĩ  
và nhu cầu lựa chọn điều trị của họ sẽ hỗ trợ rất lớn cho bác sĩ lâm sàng có thể đưa ra kế hoạch điều trị và  
theo dõi hỗ trợ tốt hơn cho bệnh nhân ung thư vú. Từ đây có thể hướng đến hóa trị tân bổ trợ và kế hoạch  
bảo tồn vú cho bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.  
ABSTRACT  
ASSESSMENT OF SIDE EFFECTS AND QUALITY OF LIFE AND ITS DETERMINANTS  
AMONG BREAST CANCER PATIENTS WITH ADJUVANT CHEMOTHERAPY AT  
ONCOLOGY CENTER - HUE CENTRAL HOSPITAL  
Phan Thi Đo Quyen1*, La Thi Hoang Oanh1, Nguyen Thi Huong2  
Objective: The survey aims to explore the side effects and quality of life and its determinants among  
breast cancer patients who have been receiveing adjuvant chemotherapy at Oncology Center - Hue Central  
Hospital.  
Sample and Methods: This cross - sectional study deployed questionnaire - based interviews with  
1 Trung tâm Ung bướu, BVTW Huế  
- Ngày nhận bài (Received): 1/10/2020; Ngày phản biện (Revised): 06/10/ 2020;  
- Ngày đăng bài (Accepted): 04 /12 /2020  
- Người phản hồi (Corresponding author): Phan Thị Đổ Quyên  
- Email: [email protected]; ĐT: 0904 303 821  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
125  
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.  
65 patients when they came to the hospital for adjuvant chemotherapy at Oncology Center - Hue Central  
Hospital from January to June 2020. Collected data was analyzed using SPSS software 21 for Windows.  
Results: The sample has an average age of 48,84. Among the total respondents, 50,8% had hormone  
receptor-positive breast cancer, 61,5% had Her2neu - positive, 7,7% was triple negative breast cancer  
patients. Most respondents reported having symptoms that decreased their quality of life, such as dry  
mouth, appetite changes, fatigue, arm pain, and limited mobility in ipsilateral arm. The majority felt insecure  
because of their asymmetric and less good-looking body image post mastectomy. Most were no longer  
interested in sexual activities. The rate of stage 3 was 35,4% but there was only 7,7% of patients who had  
received neo-adjuvant chemotherapy.  
Conclusion: This survey contributes to understanding of patients’ suffering of symptoms, their concerns  
and anxiety, and distress during their outpatient care. It also provides information on their thoughts and  
preferences for options of therapy. Altogether the study carries important implications for clinicians to plan  
more effective treatment and care for breast cancer patients.  
Từ khóa: Chất lượng sống, ung thư vú, gánh nặng ung thư  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
vú bên mang khối u, sau đó, các phương pháp điều trị  
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ  
bổ trợ như hóa trị, xạ trị, nội tiết đều có thể gây ảnh  
tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Tại  
hưởng lâu dài đến hình thể, nội tiết tố nữ và các hoạt  
Việt Nam, theo số liệu ghi nhận ung thư 2010, ung  
động chức năng của cánh tay bên mổ cắt vú, và cả  
thư vú đứng hàng thứ nhất với tỷ lệ mắc chuẩn theo  
đời sống tình dục của chính bệnh nhân. Tất cả những  
tuổi trung bình là 29,9/100.000 dân. Theo ước tính,  
điều này ảnh hưởng đến tâm sinh lý của người bệnh.  
đến năm 2020, tỷ lệ này là 38,1/ 100.000 dân [1]. Với  
Ở Việt Nam nói riêng và các nước Á Đông nói chung,  
sự phát triển mạnh mẽ của y học ngày nay, đặc biệt  
phụ nữ thường ngại ngùng khi được hỏi đến vấn đề  
trong lĩnh vực điều trị ung thư vú, sự phối hợp điều  
đời sống tình dục. Các đề tài nghiên cứu về vấn đề  
trị đa mô thức, đa chuyên khoa đã nâng tỷ lệ điều trị  
này cũng chưa được chú trọng và còn hạn chế.  
lành của ung thư ngày càng cao. Vì vậy, thời gian  
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm  
sống thêm sau điều trị và tỷ lệ sống thêm toàn bộ của  
tìm hiểu thêm một vài yếu tố ảnh hưởng đến chất  
bệnh nhân ngày càng kéo dài. Trong xu thế hiện nay,  
người ta càng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất  
lượng sống của bệnh nhân bên cạnh hiệu quả điều  
lượng sống của bệnh nhân ung thư vú, trong đó có  
đời sống tình dục. Đặc biệt là bệnh nhân đang trong  
quá trình nhận hóa trị liệu - một trong những liệu  
trị lành của các phương pháp điều trị. Người bệnh pháp điều trị gây nên các tác dụng phụ đặc trưng  
và gây ám ảnh lớn cho tất cả bệnh nhân ung thư nói  
chung và ung thư vú nói riêng. Ngoài ra, chúng tôi  
cũng khảo sát chung về giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán  
và tỷ lệ bệnh nhân được hóa trị bổ trợ trước mổ vì đây  
là xu thế điều trị trong giai đoạn hiện nay nhằm có kế  
hoạch bảo tồn vú cho bệnh nhân. Các thông tin này  
giúp chúng ta có thêm các hiểu biết về mối quan tâm  
của bệnh nhân, hỗ trợ bác sĩ tư vấn rõ ràng và cặn kẽ  
hơn trong quá trình điều trị nhằm giảm thiểu các tác  
hại của một số phương án điều trị không chính thống  
và hỗ trợ tốt cho bệnh nhân ung thư giảm các tác  
dụng phụ trong quá trình hóa trị. Cũng từ các thông  
tin này, chúng ta cũng nhận thấy gánh nặng về thể  
chất và tinh thần của bệnh nhân ung thư vú trong quá  
trình điều trị hóa chất.  
ung thư nói chung và người phụ nữ mắc ung thư vú  
nói riêng, khi được chẩn đoán ung thư phải trải qua  
những cung bậc cảm xúc rất khác biệt. Họ có thể sẽ  
sốc, sợ hãi, lo lắng, tuyệt vọng. Sau khi đã quen dần  
với việc bản thân mắc ung thư, họ lại phải bắt đầu  
chịu đựng những nỗi đau về thể xác từ các phương  
pháp điều trị mang lại như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.  
Sau khi đã trải qua các phương pháp điều trị triệt căn,  
người bệnh phải chịu một số tác dụng không mong  
muốn của các phương pháp điều trị trong một thời  
gian khá dài và đôi khi đem lại nhiều ám ảnh cho họ  
suốt quãng đời còn lại. Một đặc thù của bệnh nhân  
ung thư vú đó là: hầu hết bệnh nhân là phụ nữ, khi  
điều trị, họ thường sẽ bị cắt đi một phần hoặc toàn bộ  
126  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
Bệnh viện Trung ương Huế  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Xử lý số liệu  
Số liệu được ghi nhận bằng cách phỏng vấn bệnh  
nhân bằng bảng câu hỏi, được thu thập và xử lý bằng  
phần mềm SPSS 21 for windows.  
Đối tượng  
Bao gồm 65 bệnh nhân đang điều trị hóa trị bổ  
trợ hoặc tân bổ trợ, được thu thập thông tin tại Trung  
tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Huế, thỏa  
mãn các tiêu chuẩn sau:  
Các tiêu chuẩn đánh giá chính: Các yếu tố ảnh  
hưởng đến kế hoạch điều trị và tiên lượng như giai  
đoạn, hóa mô miễn dịch khối u, các yếu tố gây giảm  
chất lượng sống của bệnh nhân, đời sống tình dục  
của bệnh nhân.  
- Ung thư vú đã được chẩn đoán xác định, chưa  
có di căn xa, điều trị nội trú hóa trị bổ trợ - tân bổ trợ  
từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020.  
- Bệnh nhân có năng lực nghe, hiểu, nói chuyện  
- Bệnh nhân được giải thích về cuộc khảo sát và  
tham gia phỏng vấn hoàn toàn tự nguyện. Việc tham  
gia nghiên cứu hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc  
điều trị hay kế hoạch theo dõi, chăm sóc sức khỏe  
của bệnh nhân.  
III. KẾT QUẢ  
Đặc điểm bệnh nhân  
Bệnh nhân nữ, đã được chẩn đoán xác định ung  
thư vú và chưa có di căn xa có chỉ định hóa trị bổ trợ  
hoặc tân bổ trợ. Tuổi trung bình: 48,84.  
Giai đoạn  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Giai đoạn II chiếm 64,6% (42 người), giai đoạn  
III chiếm 35,4% (23 người)  
- Bệnh nhân từ chối tham gia khảo sát.  
Bệnh nhân ung thư vú có di căn xa  
Số bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính là 33,  
chiếm 50,8%. Số bệnh nhân có Her2neu dương tính  
là 40 người, chiếm tỷ lệ 61,5%. 5 bệnh nhân (7,7%)  
có bộ ba âm tính.  
Bệnh nhân không có chỉ định hóa trị  
Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp mô tả cắt ngang  
- Công cụ khảo sát là bảng câu hỏi dựa trên  
EORTC QoQ BR23 phiên bản tiếng Việt, một bảng  
câu hỏi về chất lượng sống của Tổ chức nghiên cứu  
và điều trị ung thư Châu Âu (The European Organi-  
zation for Research and Treatment of Cancer). Bảng  
câu hỏi này được chỉnh sửa để phù hợp với tình hình  
bệnh nhân đang hóa trị tại khoa Hóa trị của Trung  
tâm Ung Bướu - BVTW Huế.  
Trong 65 bệnh nhân này, có 5 bệnh nhân được  
hóa trị tân bổ trợ (hóa trị trước mổ) do khối u ban  
đầu lớn, di căn hạch nách khám được trên lâm sàng.  
Tác dụng phụ huyết học: hay gặp là giảm bạch  
cầu hạt: 23 người chiếm 35,3%, trong đó hầu hết ở  
độ 1-2, độ 3 chỉ 1 bệnh nhân (1,5%), không có độ 4.  
Không có trường hợp nào giảm tiểu cầu.  
Một số các triệu chứng gây giảm chất lượng sống của bệnh nhân  
Bảng 1: Các triệu chứng gây giảm chất lượng sống của bệnh nhân  
Mức độ  
Không có  
Ít  
Nhiều  
Rất nhiều  
Triệu chứng  
Khô miệng  
3 (4,6%)  
2 (3,1%)  
10 (15,4%)  
41 (63,1%)  
39 (60%)  
6 (9,2%)  
2 (3,1%)  
5 (7,6%)  
36 (55,4%)  
31 (47,7%)  
21 (32,3%)  
13 (20,0%)  
13 (20,0%)  
21 (32,3%)  
60 (92,3%)  
50 (76,9%)  
25 (38,5%)  
30 (46,2%)  
32 (49,2%)  
10 (15,4%)  
13 (20,0%)  
32 (49,2%)  
3 (4,6%)  
1 (1,5%)  
2 (3,15)  
2 (3,1%)  
1 (1,5%)  
0
Thay đổi khẩu vị  
Mất cảm giác ngon miệng  
Đau mỏi toàn thân  
Bốc hỏa  
Mất ngủ  
4 (6,2%)  
0
Buồn nôn  
Nôn  
10 (15,3%)  
0
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
127  
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.  
Các triệu chứng khô miệng, mất cảm giác ngon  
Chán ăn và mất ngủ cũng là các triệu chứng  
miệng, nôn và buồn nôn trong quá trình điều trị thường gặp ở bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị.  
hóa chất là thường gặp và có thể kéo dài ngay cả Một trong những lý do lớn nhất có thể do tâm lý quá  
sau khi ngừng hóa trị. Một nguyên nhân khác có lo lắng của người bệnh và chế độ ăn uống sinh hoạt  
thể dẫn đến các triệu chứng này là do tâm lý lo kiêng khem ngặt nghèo làm bệnh nhân bị giảm chất  
lắng, căng thẳng vì bệnh tật của bệnh nhân. Ngoài lượng sống và giảm sự tận hưởng cuộc sống của  
ra, chế độ ăn kiêng khem ngặt nghèo cũng có thể bệnh nhân.  
góp phần gây nên các triệu chứng này. Vì vậy  
Rụng tóc là tác dụng phụ đặc trưng của hóa trị.  
trong quá trình hóa trị các loại thuốc hỗ trợ giảm Tất cả bệnh nhân ung thư vú hóa trị bổ trợ/tân bổ trợ  
tác dụng phụ luôn có.  
đều rụng hết tóc sau 1 đợt truyền thuốc.  
Đau mỏi toàn thân là một triệu chứng khá phổ  
Hội chứng thần kinh ngoại biên gây ra các triệu  
biến ở các bệnh nhân được khảo sát. Lý do có thể chứng tê đau bàn tay chân kiểu châm chích, kéo dài  
do các đợt hóa trị trước đó, do quá trình hóa trị làm thường xuất hiện từ đợt 7 của điều trị (sau 2 đợt  
bất hoạt buồng trứng tạm thời làm sụt giảm nội tiết paclitaxel). Hầu hết bệnh nhân có biểu hiện độ 1-2.  
tố nữ ở bệnh nhân trẻ gây nên các vấn đề như đau Không có độ 3-4. Có 15 bệnh nhân (23%) không có  
mỏi cơ, bốc hỏa…  
biểu hiện hội chứng này.  
Một số triệu chứng có thể là tác dụng phụ lâu dài sau mổ cắt vú gây ảnh hưởng chất lượng sống  
Bảng 2: Tác dụng phụ lâu dài sau mổ cắt vú  
Mức độ  
Không có  
Ít  
Nhiều  
Rất nhiều  
Triệu chứng  
Đau ở cánh tay  
39 (60%)  
57 (87,7%)  
40 (61,5%)  
21 (32,3%)  
17 (26,2%)  
8 (12,3%)  
23 (35,4%)  
42 (64,6%)  
9 (13,8%)  
0
0
0
0
0
Phù cánh tay  
Vận động cánh tay khó khăn  
Dị cảm ở vết mổ cũ tại ngực sau cắt vú  
2 (3,1%)  
2 (3,1%)  
Hầu hết bệnh nhân ung thư vú sau mổ cắt vú triệt để cải biên trong cuộc khảo sát này đều cho biết họ có  
cảm giác đau nhức ở vùng vú và cánh tay bên đã mổ. Đặc biệt là vùng nách và mặt trong cánh tay. Một số  
bệnh nhân có thể có phù nhẹ ở cánh tay cùng bên cắt vú. 67,7% bệnh nhân sau mổ cắt vú triệt để cải biên  
có cảm giác dị cảm ở vùng vú đã cắt 38,5% bệnh nhân có vận động khó khăn ở cánh tay cùng bên với vú  
đã cắt. Những triệu chứng này gây nên sự khó chịu trong cuộc sống hàng ngày của người bệnh và có thể  
gây giảm chức năng vận động khớp vai và cánh tay bên mổ cắt vú triệt để cải biên trong thời gian lâu dài  
sau điều trị. Vì vậy, cần có sự tham gia hỗ trợ của khoa Phục hồi chức năng trong kế hoạch điều trị của một  
bệnh nhân ung thư vú.  
Sự mặc cảm vì thay đổi hình thể của bệnh nhân sau mổ cắt vú  
Bảng 3: Sự mặc cảm vì thay đổi hình thể của bệnh nhân sau mổ cắt vú  
Mức độ  
Không có  
Ít  
Nhiều  
Rất nhiều  
Triệu chứng  
Cảm giác xấu xí  
16 (24,6%) 12 (18,5%) 22 (33,8%) 15 (23,1%)  
17 (26,2%) 11 (16,9%) 22 (33,8%) 15 (23,1%)  
13 (20,0%) 14 (21,5%) 22 (33,8%) 16 (24,6%)  
12 (18,5%) 18 (27,7%) 19 (29,2%) 16 (24,6%)  
Cảm giác thiếu nữ tính  
Cảm thấy khó khăn khi tự ngắm mình  
Bất mãn với cơ thể  
128  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
Bệnh viện Trung ương Huế  
Vú và bộ ngực là một trong những đặc trưng của thấy có sự khác biệt nhỏ về đặc điểm bệnh nhân ung  
người phụ nữ. Hầu hết phụ nữ cảm thấy tự tin vào  
hình thể của mình khi có một bộ ngực đẹp và hoàn  
chỉnh. Vì vậy, việc bị cắt đi một bên vú và sự mất cần  
bằng cùng với vết mổ cũ lớn và sẹo xấu sau cắt vú  
triệt để cải biên đã gây nên một tổn thương khá lớn  
cho hầu hết nữ bệnh nhân ung thư vú. Một số bệnh  
nhân thậm chí không dám ngắm bản thân mình qua  
gương, câu trả lời thường gặp là họ sợ nhìn chính  
mình trong gương. Tỷ lệ sợ nhiều và rất nhiều chiếm  
58,4% (28 người), phần còn lại, 14 người (21,5%) có  
sợ nhưng ít hơn. Chỉ 20% người bệnh cảm thấy bình  
thường thì thấy bản thân trong gương.  
thư vú ở nhóm nghiên cứu và với một số nghiên cứu  
khác trên thế giới như tỷ lệ bệnh nhân có thụ thể nội  
tiết dương tính thường chiếm 2/3 tổng số bệnh nhân  
ung thư vú ở các nghiên cứu lớn. Ở nghiên cứu của  
chúng tôi, tỷ lệ này chiếm 50,8%. Ngược lại, tỷ lệ  
bệnh nhân có Her2neu dương tính chiếm tỷ lệ cao  
hơn là 61,5%. Điều này là có thể lý giải được do  
tiêu chuẩn chọn bệnh là những bệnh nhân chưa có  
di căn và đang hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ. Trong  
khi đó, bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính ở  
giai đoạn sớm ưu tiên điều trị nội tiết bổ trợ, việc chỉ  
định hóa trị là hạn chế. Vì vậy, trên quần thể bệnh  
nhân này-những bệnh nhân có chỉ định hóa trị, tỷ lệ  
bệnh nhân có thụ thể nội tiết thấp hơn so với tỷ lệ  
bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết trên toàn  
bộ quần thể bệnh nhân ung thư vú (có chỉ định và  
không có chỉ định hóa trị). Mặt khác, bệnh nhân có  
Her2neu dương tính thường có chỉ định hóa trị bổ  
trợ nhiều hơn nên tỷ lệ trong quần thể bệnh nhân  
đang hóa trị sẽ cao hơn so với quần thể bệnh nhân  
ung thư vú tính chung. Bệnh nhân sau khi đã được  
chẩn đoán xác định ung thư vú chưa di căn, họ vào  
bệnh viện với mục đích được nhận hóa trị để điều  
trị triệt căn. Tuy nhiên, quá trình chăm sóc toàn diện  
cho bệnh nhân ung thư vẫn cần được tiến hành và  
theo dõi thường xuyên chứ không chỉ dừng lại hóa  
trị hay xạ trị. Một số vấn đề lớn bệnh nhân thường  
gặp phải sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống rất nhiều  
nếu không được chú ý giải quyết kịp thời. Đầu tiên  
là các triệu chứng có thể còn tồn tại sau các đợt điều  
trị trước đó như đau mỏi cơ thể, khô miệng, chán  
ăn. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng này ở bệnh nhân  
của chúng tôi là trên 30%. Tỷ lệ này tương đương  
với một số nghiên cứu được tiến hành ở các nước  
Tây Âu trên bệnh nhân ung thư vú sau mổ cắt vú  
triệt để cải biên như nghiên cứu của Johannsen M.  
và cộng sự [2]. Sau phẫu thuật cắt vú triệt để cải  
biên, hơn 20% bệnh nhân có cảm giác đau nhiều ở  
vùng vết mổ cũ và cánh tay bên mổ cắt vú, tỷ lệ có  
đau cả ít và nhiều lên tới 40%. Khoảng 38,6% bệnh  
Trong 65 bệnh nhân được khảo sát, mặc dù tất  
cả bệnh nhân đang ở giai đoạn chưa di căn, trong  
đó giai đoạn II chiếm 64,6%, giai đoạn III là 35,5%,  
hầu hết bệnh nhân vẫn có cơ hội chữa khỏi, nhưng  
số bệnh nhân lo lắng cho sức khỏe tương lai của bản  
thân lại chiếm đến 98,4% (64 người), chỉ 1 người trả  
lời không lo lắng. Trong đó, số người trả lời lo lắng  
rất nhiều là 33 người, chiếm 50,8%. Qua đó, cho  
thấy bệnh nhân ung thư mặc dù đã được giải thích  
điều trị và tiên lượng rõ ràng nhưng vẫn luôn có nỗi  
sợ thường trực về bệnh tái phát.  
Hầu hết bệnh nhân biết họ có cảm giác đau ốm,  
cảm thấy bản thân luôn có bệnh. Số người này  
chiếm 80% (52 người), trong đó 18 người (27,7%)  
trả lời là cảm giác đau ốm ở mức rất thường xuyên.  
Sự hứng thú và hoạt động tình dục của  
bệnh nhân  
53,8% (35 người) bệnh nhân được hỏi trả lời họ  
không có hứng thú với sinh hoạt tình dục và hoàn  
toàn không nghĩ tới quan hệ tình dục trong quá trình  
điều trị. 22 người chiếm 33,8% trả lời có quan tâm  
tới đời sống tình dục, tuy nhiên, số người cho biết họ  
có tận hưởng đời sống tình dục là 15 người (23,0%).  
Lý do đưa ra là không có hứng thú, đau, mệt mỏi  
và 13,8% (9 người) được hỏi cho biết họ lo sợ sinh  
hoạt tình dục có thể gây tăng nguy cơ tái phát bệnh.  
IV. BÀN LUẬN  
Với kết quả của nghiên cứu này, chúng tôi nhận  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
129  
Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống cBủaệnbhệnvhiệnnhTârnunugngươthnưg vHúu..ế.  
nhân có cảm giác vận động cánh tay khó khăn. Đây thần của bệnh nhân được tốt hơn. Ngoài ra, trong xu  
là các triệu chứng khá thường gặp sau mổ cắt vú thế điều trị bảo tồn hiện nay, việc hóa trị tân bổ trợ  
triệt để cải biên. Chúng ta có thể tìm thấy những sau đó lên kế hoạch mổ cắt thùy vú cũng là một lựa  
tỷ lệ tương tự ở các nghiên cứu của Johannsen M. chọn cần cân nhắc nhằm làm giảm các tác dụng phụ  
và cộng sự, nghiên cứu của Leysen L. và cộng sự cả về thể chất và tinh thần do cắt vú triệt để cải biên  
[3]. Từ các số liệu này, chúng ta có thể thấy một mang đến cho bệnh nhân ung thư vú.  
vấn đề rất lớn cần quan tâm đó là tập phục hồi chức  
Một yếu tố không thể thiếu để có chất lượng sống  
năng cho bệnh nhân sau mổ cắt vú triệt để cải biên. tốt là đời sống tình dục của bệnh nhân ung thư vú  
Đây là một nhu cầu cấp thiết nhằm cải thiện chất sau điều trị. Với những bệnh nhân đã mổ cắt vú, sự  
lượng sống trong thời gian lâu dài cho bệnh nhân khiếm khuyết về hình thể ảnh hưởng rất lớn đến vấn  
ung thư vú sau điều trị tích cực. Việc tiến hành tập đề này. Với tình hình về các tỷ lệ hoạt động đời sống  
phục hồi chức năng cần tiến hành sớm và phối hợp tình dục như ở nhóm bệnh nhân được khảo sát, chất  
nhịp nhàng giữa khoa Ung Thư và khoa Phục Hồi lượng cuộc sống của bệnh nhân sẽ bị giảm xuống  
Chức Năng để mang lại hiệu quả lâu dài nhằm nâng đáng kể. Ngoài ra, với đặc thù văn hóa và tập tính  
cao chất lượng sống bệnh nhân sau điều trị.  
của người Á Đông, đời sống tình dục của bệnh nhân  
Một vấn đề khác cũng rất quan trọng và hiện chưa được quan tâm để có sự hỗ trợ đúng mức. Kết  
chưa được quan tâm đúng mức là mặc cảm về hình luận này cũng được tìm thấy ở một số nghiên cứu ở  
thể của bệnh nhân sau phẫu thuật cắt toàn bộ vú. Ở các nước châu Á khác như Đài Loan hay Jordan [6]  
nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn bệnh nhân có  
Ngoài ra, một số các yếu tố khác cũng gây nên  
cảm giác mình bị xấu đi sau mổ, giảm nữ tính và giảm chất lượng sống trong đời sống tình dục của  
cảm thấy sợ hãi khi nhìn chính bản thân mình trong bệnh nhân như việc sử dụng thuốc nội tiết và các  
gương. Đây là một trong những yếu tố gây nên áp tác dụng phụ của thuốc lên hệ nội tiết sinh dục của  
lực tâm lý rất lớn cho bệnh nhân ung thư vú sau mổ. người bệnh, sự lo lắng về bệnh tật, cảm giác đau ốm,  
Trên những người được hỏi, dù bệnh nhân còn trẻ và cả sự suy giảm về sức khỏe sau điều trị, chế độ  
hay đã lớn tuổi vẫn rất quan tâm tới hình thể của bản ăn uống kiêng khem quá ngặt nghèo. Tất cả những  
thân. Tỷ lệ cảm thấy bản thân xấu xí là 75,4% (49 yếu tố này đều có ảnh hưởng nhất định đến đời sống  
người). 52 (80%) người cảm thấy khó khăn khi tự tình dục của bệnh nhân.  
ngắm bản thân trong gương. Số người bất mãn với  
chính cơ thể mình là 53 người chiếm 81,5%. Điều  
này cũng được nhận thấy ở một số nghiên cứu tiến  
V. KẾT LUẬN  
Việc nghiên cứu về tác dụng không mong muốn  
hành ở bệnh nhân châu Á như nghiên cứu tại Đài của hóa trị và những yếu tố ảnh hưởng đến chất  
Loan của Chie WC và cộng sự [4] hoặc nghiên cứu lượng sống của bệnh nhân, hiểu rõ về các khó khăn  
tại Jordan của Abu-Helalha M. và cộng sự [5]. Từ cả về thể chất, tinh thần và đời sống tình dục của  
những con số trên gợi ý đến việc chúng ta cần đưa bệnh nhân sẽ hỗ trợ bác sĩ lâm sàng có kế hoạch điều  
phẫu thuật tái tạo vú cho những bệnh nhân mổ cắt trị và tư vấn rõ ràng đầy đủ cho bệnh nhân trước,  
vú triệt để cải biên đã được điều trị ổn định như là trong và sau quá trình điều trị tích cực và cả trong  
một điều trị cần thiết trong kế hoạch chăm sóc toàn thời gian dùng thuốc duy trì. Với một kế hoạch cụ  
diện cho một bệnh nhân ung thư vú. Điều trị này thể, chính xác và phù hợp với bệnh nhân, cơ hội  
nhằm cải thiện đáng kể chất lượng sống và làm cho thành công trong điều trị của chúng ta sẽ tăng lên,  
việc điều trị ung thư vú trở nên hoàn chỉnh hơn, từ đó cơ hội lành bệnh sẽ cải thiện rõ ràng và giảm  
chăm sóc và phục hồi sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thiểu các tai biến có thể có trong quá trình điều trị.  
130  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
Bệnh viện Trung ương Huế  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. International Agency for Research on Cancer Cancer. 2017;25(12):3607-3643.  
(2012). Breast Cancer Esti- mated Incidence, 4. Chie WC, Chang KJ, Huang CS, et al. Quality  
Mortality and Prevalence Worldwide in 2012.  
Globocan 2012.  
of life of breast cancer patients in Taiwan:  
validation of the Taiwan Chinese version of the  
EORTC QLQ-C30 and EORTC QLQ-BR23.  
Psychooncology 2003;12:729-35.  
2. Johannsen M, Christensen S, Zachariae R, Jensen  
AB. Socio-demographic, treatment-related,  
and health behavioral predictors of persistent 5. Abu-Helalah M1, Al-Hanaqta M, Alshraideh  
pain 15 months and 7-9 years after surgery: a  
nationwide prospective study of women treated  
for primary breast cancer. Breast Cancer Res  
Treat. 2015;152(3):645-658.  
H, Abdulbaqi N, Hijazeen J. Quality of life  
and psychological well-being of breast cancer  
survivors in Jordan. Asian Pac J Cancer  
Prev. 2014;15(14):5927-36.  
3. Leysen L, Beckwée D, Nijs J, et al. Risk factors 6. Yan B, Yang LM, Hao LP, et al. Determinants of  
of pain in breast cancer survivors: a systematic  
review and meta-analysis. Support Care  
Quality of Lifeꢀfor Breast Cancer Patients in  
Shanghai, China. PLoS One 2016;11:e0153714.  
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020  
131  
pdf 7 trang yennguyen 11020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tác dụng phụ và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tac_dung_phu_va_chat_luong_song_cua_benh_nhan_ung_t.pdf