Tạo hình khuyết hổng trong phẫu thuật ung thư âm hộ: Báo cáo 2 trường hợp tạo hình phức tạp và tổng quan y văn
Bệnh viện Trung ương Huế
Báo cáo trường hợp
TẠO HÌNH KHUYẾT HỔNG TRONG PHẪU THUẬT UNG THƯ
ÂM HỘ: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP TẠO HÌNH PHỨC TẠP VÀ
TỔNG QUAN Y VĂN
Lương Chấn Lập1*, Nguyễn Văn Tiến2, Tạ Thanh Liêu2, Nguyễn Việt Dũng3
DOI: 10.38103/jcmhch.2020.65.17
TÓM TẮT
Phẫu thuật tận gốc cho ung thư âm hộ tiến triển tại chổ thường để lại những khuyết hổng lớn. Những
khuyết hổng này, đặc biệt trong trường hợp đã xạ trị trước đó, thường cần những kỹ thuật tái tạo tiên tiến
hơn là sử dụng những vạt tại chổ. Chúng tôi báo cáo 2 trường hợp tái tạo khuyết hổng, một trường hợp
bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu (DIEP) và trường hợp còn lại là bằng vạt da cơ thon.
Những vạt có cuống này dường như là phương pháp hiệu quả và thích hợp để tái tạo tầng sinh môn sau
khi cắt rộng bướu cho ung thư âm hộ tiến triển tại chổ, nhất là ở bệnh nhân đã xạ trị.
Từ khóa: ung thư âm hộ, vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu (DIEP), vạt da cơ thon, tái
tạo tầng sinh môn.
ABSTRACT
RECONSTRUCTION OF VULVAR DEFECTS IN VULVAR CANCER: TWO CASES
REPORT AND LITERATURE REVIEW
Luong Chan Lap1*, Nguyen Van Tien2, Ta Thanh Lieu2, Nguyen Viet Dung3
Performing radical surgery for locally advanced vulvar cancer is usually associated with the occurrence of
large perineal defects. These defects, especially in previously radiated cases, often require more advanced
reconstructive techniques using locoregional flaps. We present two cases of vulvar reconstruction, one
case using a split and thinned, transversely oriented, pedicled deep inferior epigastric artery perforator
(DIEP) flap and another one with gracilis myocutaneous flap. These pedicled flap seems to be an effective
and feasible method of perineal reconstruction after extended perineal resection for locally advanced vulvar
cancers. especially in pre-irradiated patients.
Key words: vulvar cancer, deep inferior epigastric artery perforator flap (DIEP), gracilis myocutaneous
flap, perineal reconstruction.
1 Khoa Ngoại 1 BVUB TP. HCM.
- Ngày nhận bài (Received): 1/10/2020; Ngày phản biện (Revised): 06/10/ 2020;
2 Khoa Ngoại Phụ khoa BVUB TP.HCM - Ngày đăng bài (Accepted): 04 /12 /2020
3 Khoa Ngoại Đầu cổ - Tai mũi họng - Người phản hồi (Corresponding author): Lương Chấn Lập
BVUB TP. HCM.
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
117
Tạo hình khuyết hổng trong phBẫệunhthvuiậệnt uTnrugntghưươânmg hHộu..ế.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
tôi lấy một vạt DIEP có cuống 2 bên theo chiều
Ung thư âm hộ là một bệnh lý ung thư phụ khoa
ít gặp và một phần không nhỏ bệnh nhân chỉ được
chẩn đoán sau một thời gian dài bệnh âm thầm tiến
triển. Hầu hết bệnh nhân thường lớn tuổi và có xu
hướng bỏ qua hay che dấu những triệu chứng tại
chổ như chảy máu, ngứa hoặc xuất hiện khối bướu
to vùng âm hộ. Vì thế, trong một số trường hợp,
bệnh được chẩn đoán khi đã ở giai đoạn tiến triển,
và để kiểm soát tốt tại chổ cần phải cắt rộng sang
thương với diện cắt tối thiểu là 1 cm (ESGO 2017).
Tuy nhiên, trong những trường hợp này, mặc dù kết
cục về mặt ung thư có thể rất tốt, bệnh nhân sẽ phải
thường xuyên đối mặt với vấn đề vết thương khó
lành, bung hở vết thương, nhiễm trùng hay thậm chí
là thoát vị.
ngang bằng cách rạch da theo hình elip nằm ngang ở
vùng da bụng dưới tương tự như cách lấy vạt DIEP
truyền thống cho tái tạo tuyến vú (Hình 1.3). Đánh
giá bằng siêu âm trước và trong lúc mổ cho thấy
động mạch thương vị sâu dưới và dãy nhánh xuyên
2 bên đều tốt. Vạt da thiết kế theo hình trám dưới
rốn, rạch đến lớp cân nông, vạt da được nâng từ
ngoài vào trong khi đến bờ ngoài cơ thẳng bụng thì
phải thận trọng để tránh làm tổn thương các nhánh
xuyên chính. Lựa chọn 1 hoặc 2 nhánh xuyên chính
kèm tĩnh mạch, phẫu tích nhánh xuyên và tĩnh mạch
đi kèm đến vị trí xuất phát là bó mạch thượng vị sâu
dưới, buột và cắt các nhánh xuyên khác (Hình 1.4).
Chúng tôi làm mỏng vạt bằng cách giảm thiểu mô
mỡ dưới cân Scarpa để phù hợp với khuyết hổng.
Vạt được xoay xuống dưới để che phủ xương mu
và khuyết hổng âm hộ. Sau khi tái tạo xong, vùng
bụng cho vạt sẽ được may khép lại 2 lớp, có đặt 01
tấm cân chỉnh cơ phía dưới để tránh thoát vị. Hậu
phẫu bệnh nhân không có vấn đề gì nghiêm trọng,
vết thương lành tốt và bệnh nhân được xạ trị bổ túc
sau đó 1 tháng (Hình 1.5).
Những khuyết hổng lớn ở âm hộ hay tầng sinh
môn, đặc biệt khi có xạ trị trước đó, thường đòi hỏi
những kỹ thuật tạo hình tiên tiến hơn là sử dụng
những vạt tại chổ. Chúng tôi giới thiệu kỹ thuật
dùng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới
sâu (DIEP) và vạt da cơ thon để tái tạo âm hộ trong
2 trường hợp có sang thương to, bệnh nhân đã được
điều trị xạ trị trước đó. Chúng tôi đề xuất nên cân
nhắc lựa chọn những vạt có cuống này bên cạnh
những vạt tại chổ truyền thống để tái tạo những
khuyết hổng lớn ở âm hộ hay vùng đáy chậu vì nó
tối đa hóa hiệu quả thẩm mỹ và giảm thiểu đến mức
thấp nhất những di chứng tại vùng cho vạt.
II. BÁO CÁO CA LÂM SÀNG
Ca thứ 1
Bệnh nhân nữ, 56 tuổi có sang thương âm hộ kích
thước 15 x 15 cm, chiếm toàn bộ âm hộ, lan lên đến
xương mu nhưng chưa xâm lấn âm đạo, hậu môn
trực tràng (Hình 1.1). Sinh thiết bướu cho kết quả là
Carcinôm tế bào gai grad 3. Bệnh nhân có hạch bẹn
nghi di căn trên siêu âm nhưng chưa thấy hạch chậu
bệnh lý trên CTscan. Bệnh nhân được phẫu thuật
cắt âm hộ toàn bộ với bờ diện cắt cách bướu 2 cm
và nạo hạch bẹn 2 bên (Hình 1.2). Sau đó chúng
Hình 1.1: Sang thương âm hộ
118
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
Hình 1.2: Khuyết hổng sau khi cắt âm hộ toàn bộ
Hình 1.5: Sau khi tạo hình khuyết hổng
Ca thứ 2
Bệnh nhân nữ, 31 tuổi, được chẩn đoán ung thư
âm hộ T2N2Mx với sang thương ban đầu kích thước
> 12 cm và hạch bẹn nghi ngờ di căn trên siêu âm.
Bệnh nhân được hóa xạ trị tân hỗ trợ với mục đích
thu nhỏ sang thương và điều trị hạch di căn. Sau
đó, bệnh nhân được cắt âm hộ toàn bộ + nạo hạch
bẹn 2 bên và tái tạo bằng vạt trượt V-Y 2 bên (Hình
2.1). Tuy nhiên do xạ trị trước đó nên vạt da bị
hoại tử và vết thương bị hở, không lành. Bệnh nhân
được lên kế hoạch can thiệp phẫu thuật lần 2 để
tạo hình lại. Do bệnh nhân có tiền căn mỗ lấy thai
đường ngang, nên chúng tôi không chọn vạt DIEP
vì lo ngại các nhánh xuyên bị ảnh hưởng. Thay vào
đó chúng tôi chọn vạt da cơ thon. Sau khi cắt rộng
sẹo cũ và vùng mô bị hoại tử không lành, khuyết
hổng được tái tạo bằng cách sử dụng vạt da cơ thon
bắt nguồn từ cơ thon phải. Sau khi bóc tách vạt và
tạo cuống cho vạt, vạt được xoay và ghép vào vết
thương âm hộ qua một đường hầm dưới da để khép
vào khuyết hổng (Hình 2.1-2.6). Vùng đùi nơi cho
vạt được may khép lại. Hậu phẫu bệnh nhân rút
sonde tiểu vào ngày thứ 14 và xuất viện sau đó.
Không có biến chứng hậu phẫu nghiêm trọng nào
được ghi nhận.
Hình 1.3: Vạt DIEP được lấy
Hình 1.4: Phẫu tích và bảo tồn các nhánh xuyên từ
Động mạch thượng vị sâu dưới
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
119
Tạo hình khuyết hổng trong phBẫệunhthvuiậệnt uTnrugntghưươânmg hHộu..ế.
Hình 2.1: Vết thương không lành sau khi tạo hình
Hình 2.6: Sau khi tạo hình xong
III. BÀN LUẬN
lần 1
Khuyết hổng ở âm hộ chủ yếu là hậu quả của
phẫu thuật ung thư âm hộ. Phần lớn những khuyết
hổng nhỏ có thể được may khép tức thì, tuy nhiên
những khuyết hổng lớn hơn cần những kỹ thuật tạo
hình để khép lại vết thương, tránh làm chậm lành
vết thương tầng sinh môn và trì hoãn việc xạ trị bổ
túc cần thiết sau đó.
Mục tiêu của việc tạo hình âm hộ là nhằm trả lại
cấu trúc giải phẫu và chức năng của cơ quan sinh
dục ngoài, duy trì bề ngoài bình thường của cơ thể,
đảm bảo chức năng sinh dục và chức năng bài tiết
cho bệnh nhân.
Do đặc điểm da và mô dưới da ở vùng quanh âm
hộ rất mềm mại và di động nên đối với các khuyết
hổng nhỏ có thể dễ dàng sử dụng các vạt ngẫu nhiên
để che phủ. Ngoài ra, lân cận vùng này còn có nhiều
nguồn tài nguyên khác để che phủ các khuyết hổng
lớn hơn. Đó là các vạt có cuống như vạt da - cơ thon,
vạt da - cơ căng mạc đùi, vạt da - cơ thẳng bụng.
Đối với những khuyết hổng lớn ở âm hộ, việc
tạo hình cần phải thực hiện được 3 nhiệm vụ chính
là: 1. Lấp đầy khoảng chết, 2. Che phủ xương mu
và 3. Lót mặt trong vùng xung quanh âm đạo niệu
quản. Đặc biệt trong những trường hợp bệnh nhân
đã xạ trị trước đó, việc sử dụng những vạt có cuống
sẽ giảm thiểu biến chứng ở nơi cho vạt và cung cấp
Hình 2.2-2.5: Sử dụng vạt da cơ thon bắt nguồn
từ cơ thon phải
120
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
một lượng lớn mô da cách xa vùng bị ảnh hưởng bên dưới. Sau đó vạt được nâng lên theo hướng từ
bởi tia xạ.
xa đến gần. Ở đầu xa, một hoặc hai nhánh xuyên
Những vạt da cơ được lấy từ cơ thon, cơ mông lớn đi vào cơ được cắt bỏ. Cuống mạch chính đi vào
lớn hay cơ thẳng bụng được coi là tiêu chuẩn vàng 1/3 gần của cơ thon ở khoảng giữa cơ khép dài và
để tái tạo âm hộ trong một thời gian dài. Lựa chọn cơ khép lớn, khoảng 8 - 10 cm bên dưới củ mu. Một
vạt nào sau khi cắt âm hộ có vẻ bị ảnh hưởng lớn khi cuống mạch đã được xác định và bảo tồn thì có
bởi vị trí của khuyết hổng. Nếu tổn thương nằm thể cắt bỏ đầu gần của cơ nếu cần thiết. Sau đó toàn
lệch về phía sau và có kích thước lớn không thể che bộ vạt da cơ có thể được đưa đến khuyết hổng qua
phủ được bằng các vạt ngẫu nhiên được thì vạt da đường hầm dưới da. Sau thì tái tạo thì khuyết hổng
cơ thon là một giải pháp được lựa chọn. Đây là vạt ở nơi cho vạt được may khép lại. Có thể sử dụng
có cuống sử dụng phần da cơ được cung cấp máu vạt cơ thon ở cả hai bên để che khuyết hổng lớn
nuôi từ các nhánh xuyên từ cơ thon ở mặt trong đùi. hoặc để tái tạo âm đạo trong phẫu thuật đoạn chậu
Những vạt cơ mông và cơ thon có vẻ thích hợp để toàn phần. Điều này đã được chứng minh trong một
tái tạo cho những khuyết hổng kích thước trung bình nghiên cứu ở Phần Lan, Kaartinen và cs [11] đã tiến
(kích thước khoảng từ 20 - 60 cm3) tạo thành do cắt hành đoạn chậu toàn phần 12 bệnh nhân, trong đó 2
hậu môn trực tràng, âm hộ và âm đạo, nhằm điều trị người được đoạn chậu do ung thư âm hộ tiến triển
những ung thư vùng tầng sinh môn tiến triển tại chổ tại chổ. Tất cả đều được tái tạo bằng vạt da cơ thon.
[4]. Được mô tả lần đầu tiên bởi McCraw và cs vào 06 trường hợp tái tạo một bên, 06 ca còn lại sử dụng
năm 1976 [10] vạt da cơ thon đã nhanh chóng trở vạt có cuống 2 bên. Trong 18 vạt da cơ thon được
thành lựa chọn được ưa thích khi tái tạo âm hộ [12], thực hiện, chỉ có 01 vạt đơn bị hoại tử đầu xa. Hơn
[14]. Tuy nhiên kỹ thuật này có nhược điểm là việc thế nữa, những vạt được sử dụng để tái tạo lại âm
chuyển vạt thường sẽ làm giảm chức năng của chi đạo trong 5 trường hợp và không có biến chứng hậu
dưới và mức độ xoay vạt có thể bị ảnh hưởng đáng phẫu nào được ghi nhận. Ngoài ra phương pháp tạo
kể bởi bám tận của cuống mạch máu nuôi [6], [17]. hình vùng chậu bằng vạt da cơ thon còn hiệu quả
Khi tái tạo bằng vạt da cơ thon, bệnh nhân được trong những trường hợp có tiền căn xạ trị. Trong
đặt ở tư thế phụ khoa. Khớp hông duỗi và dạng. Mặt nghiên cứu của Vermaas và cs [17] bao gồm 25
trong đùi được sát khuẩn cho đến gối để cho phép bệnh nhân được tạo hình vì ung thư vùng chậu sau
tiếp cận nhóm các cơ ở mặt trong đùi. Một đảo da xạ trị, thời gian trung vị lành vết thương là 17 ngày
hình bầu dục có kích thước tối đa lên đến 6 cm x cho vùng cho vạt và 190 ngày cho khuyết hổng tầng
20 cm được phác họa trên bề mặt 2/3 gần của cơ. sinh môn. Tuy nhiên, không có vạt da cơ thon nào
Giới hạn trước của đường rạch da nằm trên đường bị hoại tử. Các tác giả đã chứng minh công dụng
thẳng nối giữa củ mu và gân cơ bán gân. Có thể của phương pháp khi giúp làm lành vết thương âm
rạch một đường rạch da nhỏ, riêng lẻ ở đầu xa để hộ tốt hơn sau phẫu thuật tận gốc ung thư âm hộ tiến
xác định gân cơ nếu cần thiết. Phía trước da được triển tại chổ, cũng như là phương pháp khả thi để tạo
rạch xuống đến nhóm cơ trong. Cơ thợ may được hình âm đạo, đồng thời chứng minh hiệu quả của
xác định và kéo lên phía trên. Gân cơ thon được phương pháp này ngay cả ở những bệnh nhân đã xạ,
xác định ở đầu xa, thường là qua một đường rạch với tỷ lệ thấp biến chứng trong lúc mổ và tăng tỷ lệ
ngắn riêng lẻ, và phần bám vào gân được cắt rời. lành khuyết hổng tầng sinh môn hoàn toàn.
Đường rạch phía sau được rạch sâu xuống đến cơ,
Mặc dù hầu hết những khuyết hổng kích thước
chú ý để không đào sâu bên dưới các nhánh xuyên nhỏ đến trung bình có thể may khép được, nhưng
đi từ cơ vào da hay tách rời da phía trên với lớp cơ tỷ lệ bung vết mổ lên đến 85% [3], [19], thường là
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
121
Tạo hình khuyết hổng trong phBẫệunhthvuiậệnt uTnrugntghưươânmg hHộu..ế.
do nhiều yếu tố, như căng do nhiễm trùng hay ảnh giả [13], [16], chúng tôi vẫn ưu chuộng vạt DIEP
hưởng của việc xạ trị trước đó. Ghép da có thể cho theo chiều ngang. Da và mô vùng bụng thường cách
kết quả không tốt do sẹo co rút, đặc biệt nếu có xạ xa vùng bị ảnh hưởng của xạ trị trước đó và thường
trị trước đó, dẫn đến biến dạng cấu trúc giải phẫu tại có sẵn do nhiều phụ nữ có mô thừa và lỏng lẻo theo
chổ với sự xáo trộn chức năng, thẩm mỹ và tâm lý chiều ngang sau khi thay đổi cân nặng thường là do
nghiêm trọng. Những vạt tại chổ như vạt hình thoi, mang thai. Kết quả đồng thời thu nhỏ vòng bụng có
vạt trượt V-Y, hay vạt có cuống/ vạt đảo thường thể được coi là lợi ích thứ 2 của phương pháp này
được sử dụng dựa trên nguồn máu nuôi phong phú đối với vùng cho vạt. Vết sẹo có thể được che dấu
ở vùng này, bao gồm những lựa chọn truyền thống dễ dàng và kết quả là cải thiện vòng bụng trong khi
như vạt Singapore, vạt da cơ thon, vạt cơ mông, vạt tránh được các biến chứng liên quan đến vạt VRAM
cơ thẳng bụng và ngay cả vạt đùi trước ngoài (ALT) truyền thống. Một số bài báo cáo việc sử dụng vạt
[8], [9]. Tuy nhiên, cần chọn lựa và lên kế hoạch tạo DIEP để tái tạo âm đạo cho những trường hợp bất
vạt cẩn thận vì tỷ lệ tái phát trong ung thư âm hộ sản bẩm sinh và tái tạo trong ung thư với đường mổ
vẫn còn cao: lên đến 50% phụ nữ cần can thiệp lần 2 dọc [1], [2], [18]. Trong một báo cáo sau đó, Ang đã
trong vòng 14 tháng đầu sau khi chẩn đoán [10], và mô tả thêm nhiều kỹ thuật mổ cải tiến để làm mỏng
tỷ lệ tái phát trong vòng 5 năm là từ 21 đến 33% [7], vạt DIEP một cách an toàn cho nhiều loại tạo hình
[15]. Tạo hình lần 2 thường khó khăn hơn vì hạn chế tầng sinh môn, bao gồm bất sản âm đạo bẩm sinh,
trong việc lấy vạt (do vạt đã lấy trước đó hay xạ trị) cắt bỏ u âm hộ và bệnh Paget ở gốc bìu dương vật
và thường đây là những khuyết hổng lớn hơn nên có [1]. Các tác giả đã rất cẩn thận làm mỏng vạt theo
thể phải cần những vạt tại chổ tại vùng ở 2 bên với mặt phẳng bên dưới hệ thống tĩnh mạch thượng vị
những biến chứng nhiều hơn. Việc tái tạo lý tưởng nông (SIEV) và đám rối dưới da dựa trên kết quả
là có thể cung cấp được một vùng mô có kích thước chụp CT mạch máu trước mổ và thành công làm
lớn được cấp máu tốt mà độ dày tương tự, khôi phục mỏng vạt từ 28-38mm xuống còn 6-11mm [5]. Kỹ
được cả chức năng và sự nhạy cảm, khôi phục được thuật này đòi hỏi việc phẫu thuật tỉ mỉ và có kinh
vẻ ngoài bình thường, có thể che được sẹo và giảm nghiệm để bảo tồn những cấu trúc mạch máu quan
thiểu tối đa biến chứng ở vùng cho vạt. Vạt da cơ trọng để có được những vạt mỏng đáng kể. Mặc dù
thon vẫn là lựa chọn phổ biến, nhưng vạt da ở xa có một vạt mỏng như vậy có thể cần cho tái tạo âm đạo
thể không đáng tin cậy hay không thích hợp về kích và gốc bìu, cấu trúc lồi lõm của xương mu và vùng
thước hay tầm với. Những khuyết hổng lớn như cắt âm hộ có thể tái tạo phù hợp một cách đơn giản và
âm hộ toàn bộ và lấy vạt cơ thon 2 bên cũng có thể an toàn hơn bằng cách làm mỏng mô mỡ dưới mạc
hạn chế di động của bệnh nhân sau mổ do đau và có Scarpa khi cần thu nhỏ lại. Vùng này có một lượng
thể thấy sẹo. Vạt đùi trước ngoài (ALT) cũng có thể tương đối nhỏ các mạch máu liên kết nhau, và lấy
để lại sẹo thấy được ở vùng cho vạt, và vạt cơ mông đi lớp mô này ít có khả năng làm ảnh hưởng nguồn
làm hạn chế cử động ngồi sau mổ. Vạt da cơ thẳng cấp máu cho vạt (20). Hiểu được vùng cấp máu của
bụng theo chiều dọc (VRAM) vẫn thường được sử nhánh xuyên vạt DIEP cho phép thu nhỏ vạt tức thì
dụng cho những khuyết hổng lớn sau khi đoạn chậu và tách 1 phần vạt để có được phần còn lại tối ưu
hay cắt cụt trực tràng qua đường bụng – tầng sinh mà không làm ảnh hưởng khả năng sống của vạt.
môn, nhưng nó làm tăng biến chứng phình/thoát vị Chúng tôi tin rằng vạt DIEP được tách ra và làm
tại chổ cho vạt, có thể quá cồng kềnh và có thể cần mỏng, theo chiều ngang có thể được cân nhắc là lựa
có một cuộc mổ thứ 2 thu nhỏ lại (9). Mặc dù vạt chọn chính cho những khuyết hổng lớn, cả trong tái
DIEP theo chiều dọc đã được mô tả bởi một số tác
tạo lần đầu hay kỳ sau. Kỹ thuật này giảm thiểu biến
122
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
chứng ở vùng cho vạt và cung cấp một lượng lớn da bình thường cho cơ thể, đảm bảo chức năng sinh dục
và bài tiết. Tùy theo sự lan rộng tại chổ, vị trí và kích
thước sang thương âm hộ mà lựa chọn kỹ thuật tạo hình
phù hợp. Bác sĩ ung thư phụ khoa nên có khả năng thực
hiện những vạt đơn giản cho phép đóng vết thương mà
không bị căng, nhưng cũng cần có kiến thức và sự trợ
giúp của bác sĩ phẫu thuật tạo hình khi cần cho những
vạt có cuống phức tạp hơn hay vạt da cơ. Vạt da cơ
thon và vạt DIEP nên được cân nhắc cho những khuyết
hổng lớn, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã xạ trị.
có sẵn cách xa chổ bị ảnh hưởng bởi tia xạ, dấu sẹo
tốt, cuống dài với mô có mạch máu nuôi mạnh mẽ,
và khả năng làm mỏng mô an toàn để có được hiệu
quả thẩm mỹ tối ưu chỉ với một cuộc mổ.
IV. KẾT LUẬN
Mục đích của việc tạo hình âm hộ vẫn là phục hồi
giải phẫu học cơ quan sinh dục ngoài, bảo tồn vẻ ngoài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ang Z, Qun Q, Peirong Y, et al. Refined DIEP 8. Hage JJ, Beurden Mv. Reconstruction of ac-
flap technique for vaginal reconstruction. Urol-
ogy 2009;74:197-201.
quired perineovulvar defects: a proposal of se-
quence. Semin Plast Surg 2011;25: 148-154.
2. Binder JP, Méria P, Desgrandchamps F, Revol 9. Hollenbeck ST, Toranto JD, Taylor BJ, et al. Per-
M, Servant JM. [Vaginal reconstruction after
anterior pelvectomy by deep inferior epigas-
ineal and lower extremity reconstruction. Plast
Reconstr Surg 2011;128: 551e-563e.
tric perforator flap (DIEP)]. Ann Urol (Paris) 10.Jones RW, Rowan DM, Stewart AW. Vulvar in-
2006;40: 192-202.
traepithelial neopla-sia: aspects of the natural
history and outcome in 405 women. Obstet Gy-
necol 2005;106:1319-1326.
3. Carramaschi F, Ramos ML, Nisida AC, Ferreira
MC, Pinotti JA. V-Y flap for perineal reconstruc-
tion following modified approach to vulvectomy 11.Kaartinen IS, Vuento MH, Hyoty MK, Kallio
in vulvar cancer. Int J Gynaecol Obstet 1999;65:
157-163.
J, Kuokkanen HO. Reconstruction of the pel-
vic floor and the vagina after total pelvic exen-
teration using the transverse musculocutaneous
gracilis flap. J Plast ReconstrAesthet Surg. 2015;
68(1): 93-7. DOI: 10.1016/j.bjps.2014.08.059.
12.McCraw JB, Massey FM, Shanklin KD, Horton
CE. Vaginal reconstruction with gracilis myocu-
taneous flaps. Plast Reconstr Surg. 1976; 58(2):
176-83.
4. Deutinger M, Kuzbari R, Paternostro-Sluga T,
Quittan M, Zauner-Dungl A, Worseg A, Todoroff
B, Holle J. Donor-site morbidity of the gracilis
flap. Plast Reconstr Surg. 1995; 95(7): 1240-4.
5. Fang BR, Ameet H, Li XF, et al. Pedicled thinned
deep inferior epigastric artery perforator flap for
perineal reconstruction: a preliminary report. J
Plast Reconstr Aesthet Surg 2011;64: 1627-1634. 13.Muneuchi G, Ohno M, Shiota A, Hata T, Igawa
6. Friedman J, Dinh T, Potochny J. Reconstruction
of the perineum. Semin Surg Oncol. 2000; 19(3):
282-93.
HH. Deep inferior epigastric perforator (DIEP)
flap for vulvar reconstruction after radical vul-
vectomy: a less invasive and simple procedure
utilizing an abdominal incision wound. Ann
Plast Surg 2005;55: 427-429.
7. Gonzalez Bosquet J, Magrina JF, Gaffey TA, et
al. Long-term survival and disease recurrence in
patients with primary squa-mous cell carcinoma 14.Ouar N, Mazouz-Dorval S, Revol M, Sorin T.
of the vulva. Gynecol Oncol 2005;97: 828-833.
Perineal reconstruction: The use of a gracilis
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
123
Tạo hình khuyết hổng trong pBhẫệnuhthvuiệậnt Turnugntghưươânmg Hhộu.ế..
muscle flap for urethral fistula coverage, our
ated pelvis using a gracilis muscle flap transpo-
sition. Eur J Surg Oncol. 2005; 31(9): 1000-5.
DOI: 10.1016/j.ejso.2005.02.004.
point of view.Ann Chir Plast Esthet. 2017; 62(2):
163-6. DOI: 10.1016/j.anplas.2016.10.004.
15.Rouzier R, Haddad B, Plantier F, Dubois P,
Pelisse M, Paniel BJ. Local relapse in patients
treated for squamous cell vulvar carcinoma: in-
cidence and prognostic value. Obstet Gynecol
2002;100: 1159-1167.
18.Wang X, Qiao Q, Burd A, et al. A new technique
of vaginal reconstruction with the deep inferior
epigastric perforator flap: a preliminary report.
Plast Reconstr Surg 2007;119:1785-1790, dis-
cussion 1791.
19.Weikel W, Hofmann M, Steiner E, Knapstein
PG, Koelbl H. Reconstructive surgery following
resection of primary vulvar cancers. Gynecol
Oncol 2005;99:92-100.
16.Santanelli F, Paolini G, Renzi L, Persechino S.
Preliminary experi-ence in reconstruction of the
vulva using the pedicled vertical deep inferior
epigastric perforator flap. Plast Reconstr Surg
2007;120:182-186.
20.Wong C, Saint-Cyr M, Arbique G, et al. Three-
and four-dimensional computed tomography an-
giographic studies of commonly used abdomi-
nal flaps in breast reconstruction. Plast Reconstr
Surg 2009;124:18-27.
17.Vermaas M, Ferenschild FT, Hofer SO, Verhoef
C, Eggermont AM, de Wilt JH. Primary and sec-
ondary reconstruction after surgery of the irradi-
124
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bạn đang xem tài liệu "Tạo hình khuyết hổng trong phẫu thuật ung thư âm hộ: Báo cáo 2 trường hợp tạo hình phức tạp và tổng quan y văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tao_hinh_khuyet_hong_trong_phau_thuat_ung_thu_am_ho_bao_cao.pdf

