Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ
UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG
1
1
2
NGUYỄN NGỌC SƠN , CAO XUÂN THẠNH , NGUYỄN THANH HÙNG
TÓM TẮT
Mục tiêu
Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt dạ dày triệt căn kèm nạo vét hạch trong điều trị ung thư dạ
dày.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, gồm 40 bệnh nhân trong đó có 32 nam và 13 nữ được chẩn đoán và điều trị
phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn do ung thư từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2020 tại khoa Ngoại 1, Bệnh
viện Ung Bướu Đà Nẵng.
Kết quả: Tuổi trung bình 59,8 ± 11,6, giai đoạn I, II và III lần lượt là 51,2%, 24,4% và 24,4%. Có 44
trường hợp cắt dạ dày bán phần chiếm 97,8%, 1 trường hợp cắt toàn bộ dạ dày chiếm 2,2%. Thời gian mổ
trung bình 201,5 ± 41,0 phút, số hạch lấy được 16,7 ± 6,54 hạch.Thời gian hậu phẫu trung bình là
8,67 ± 2,84 ngày. Có 5 trường hợp có biến chứng sau mổ gồm 04 trường hợp nhiễm trùng vết mổ và 01
trường hợp tử vong trong vonhf 30 ngày sau mổ.
sau 5 năm cắt dạ dày tại Nhật Bản là 83,5%[3]. Tại
Hàn quốc, sau khi thực hiện chương trình sàng lọc
quốc gia đã cải thiện được chẩn đoán ung thư dạ
dày sớm tăng từ 24,8% lên 48,9%.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong những
bệnh ung thư (UT) phổ biến nhất trên thế giới. Năm
2018, ước tính trên thế giới có 1.033.700 trờng
hợp ung thư dạ dày mắc mới và hơn 782.600
trường hợp tử vong. Tại Việt Nam theo Globocan
2018, UTDD đứng thứ 3 ở cả hai giới sau ung thư
gan và ung thư phổi với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là
11,38/100.000 dân. Trong đó, loại ung thư biểu mô
tuyến chiếm chủ yếu (90 - 95%)[1].
Trong khi đó, phần lớn người bệnh ung thư dạ
dày tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn tiến
triển. Theo Nguyễn Quang Thái, khoảng 1/3 bệnh
nhân (31%) ung thư còn khu trú trong thành dạ dày
(giai đoạn T1, T2), số còn lại ở giai đoạn tiến xa: di
căn hạch lympho hay di căn xa. Tương tự như vậy,
theo Nguyễn Minh Hải bệnh nhân ung thư dạ dày
còn được phẫu thuật triệt căn ở giai đoạn I là 22,5%
(trong đó giai đoạn IA chỉ chiếm 2,4%), 17,8% ở giai
đoạn II, 46,4% giai đoạn III và 13,1% ở giai đoạn IV.
Việc chẩn đoán ung thư dạ dày đã có nhiều tiến
bộ nhờ sự phát triển của các phương tiện hiện đại
như nội soi, CTscan… cũng như chuyên ngành giải
phẫu bệnh. Tiên lượng bệnh ung thư dạ dày sẽ cải
thiện đáng kể nếu được phát hiện và điều trị sớm[2].
Tại Nhật Bản Từ năm 1971 đến 2007 nghiên cứu tại
Bệnh viện Đại học Kitasato cho thấy tỷ lệ phát hiện
UTDD sớm tăng cao khi áp dụng các xét nghiệm
sàng lọc, từ đó được chẩn đoán sớm, điều trị kịp
thời, tỷ lệ sống ngày càng được cải thiện. Theo hiệp
hội ung thư dạ dày Nhật Bản năm 2008 thì tỷ lệ sống
Trước đây, mổ mở cắt dạ dày kèm nạo hạch
lympho là phương pháp điều trị tiêu chuẩn được lựa
chọn, cải thiện thời gian sống còn cho người bệnh.
Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày được Kitano thực
hiện lần đầu vào năm 1994 tại Nhật Bản. Sau đó,
nhiều tác giả khác đã ứng dụng và báo cáo kết quả
ban đầu về điều trị ung thư dạ dày[3].
Ngày nhận bài: 09/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Ngọc Sơn
Email: sonnguyendr@gmai.com
1 ThS.BS. Khoa Ngoại 1 - Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
2 ThS.BSCKII. Phó Giám đốc - Trưởng Khoa Ngoại 1 - Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
308
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, PTNS
phát triển mạnh, được ứng dụng cho nhiều loại phẫu
thuật. Đối với ung thư dạ dày, đã có nhiều báo cáo
của các tác giả. Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ
yếu thực hiện ở các bệnh viện lớn tuyến trung ương.
Câu hỏi đặt ra là, phương pháp phẫu thuật nội soi
kèm nạo vét hạch trong điều trị ung thư dạ dày có
khả thi đối với các bệnh viện tuyến tỉnh hay không?.
Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng đã thực hiện phẫu
thuật thuật triệt căn điều trị ung thư dạ dày một cách
thường quy ngay từ những ngày đầu thành lập bệnh
viện và đến tháng 1 năm 2015, chúng tôi triển khai
phẫu thuật nội soi cắt dạ dày kèm nạo hạch. Tuy
nhiên chưa có một tổng kết đánh giá về kết quả của
phương pháp điều trị này. Vì vậy, chúng tôi thực
hiện đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt
dạ dày kèm nạo hạch lympho trong điều trị ung thư
dạ dày”
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có tiền sử cắt dạ dày bán phần,
phẫu thuật cắt lại dạ dày do ung thư.
Những trường hợp không đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu, mô tả có theo dõi dọc.
Cỡ mẫu
Chúng tôi chọn mẫu thuận tiện; đưa vào nghiên
cứu tất cả bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi
cắt dạ dày triệt căn kèm nạo hạch lympho từ tháng 1
năm 2015 đến tháng 06 năm 2020.
Các quy trình kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
Chỉ định cắt dạ dày, nạo hạch theo hướng
dẫn của hội ung thư dạ dày Nhật Bản, phiên bản 4,
năm 2014 và phiên bản 5 năm 2018. Và theo Hướng
dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày - Bộ Y tế.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu
thuật triệt căn tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng từ
tháng 1 năm 2015 đến tháng 06 năm 2020.
KẾT QUẢ
Đặc điểm bệnh nhân
Trong nghiên cứu của chúng tôi có tổng cộng
45 bệnh nhân. Chúng tôi bắt đầu thực hiện phẫu
thuật nội soi điều trị UTDD từ tháng 1/2015. Số
lượng tăng dần qua các năm.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Được chẩn đoán ung thư dạ dày qua lâm sàng,
cận lâm sàng với giải phẫu bệnh sau phẫu thuật là
ung thư.
Có chỉ định và được phẫu thuật nội soi cắt dạ
dày kèm nạo vét hạch
16
14
12
10
8
14
11
8
6
4
2
0
5
4
3
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
Năm 2019
6 tháng 2020
Biểu đồ 1. Số lượng bệnh nhân PTNS cắt dạ dày qua các năm
309
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Bảng 5. Giai đoạn theo T
Tuổi trung bình là 59,8 ± 11,6, lớn nhất là 79
tuổi và nhỏ nhất là 33 tuổi.
T
T1
N
9
Tỉ lệ %
Có 32 nam và 13 nữ, tỉ lệ nam/nữ là: 2,5.
20,0
42,2
37,8
100
T2
19
17
45
Bảng 1. Giới tính
T3
N
Tỉ lệ %
71,1
Tổng
Nam
Nữ
32
13
45
Khối u chủ yếu ở giai đoạn T2 và T3.
28,9
Tổng
100
Bảng 6. Phân loại theo N
N
N
28
8
Tỉ lệ %
62,2
17,8
15,6
2,2
N0
Bảng 2. Lý do nhập viện
N1
Triệu chứng
N
35
15
9
Tỉ lệ %
77,8
N2
7
Đau thượng vị
N3a
N3b
1
Buồn nôn - nôn
33,3
1
2,2
Đi cầu phân đen
Chướng bụng,khó tiêu
Không triệu chứng
20,0
Tổng
45
100
19
7
42,2
Bảng phân loại giai đoạn cho thấy phần lớn
bệnh nhân chưa có di căn hạch (62,2%), tỉ lệ di căn
hạch chỉ khoảng 37,8%.
15,6
Phần lớn bệnh nhân có triệu chứng đau tức
thượng vị (chiếm 77,8%), kế đến là chướng bụng,
khó tiêu, chiếm 42,2%, triệu chứng xuất huyết tiêu
hóa với biểu hiện đi cầu phân đen chiếm 15,6%. Có
15,6% bệnh nhân không có triệu chứng, phát hiện
bệnh tình cờ khi đi nội soi dạ dày kiểm tra sức khỏe.
Bảng 7. Giai đoạn bệnh theo UICC 7th
Giai đoạn
N
23
7
Tỉ lệ %
51,2
15,6
35,6
24,4
8,9
I
IA
IB
Bảng 3. Bệnh kèm
16
11
4
N
Tỉ lệ %
42,2
II
Có bệnh kèm
Không có bệnh kèm
Tổng
19
26
45
IIA
IIB
57,8
7
15,6
24,4
8,9
100
III
11
4
IIIA
IIIB
IIIC
Bệnh nhân có các bệnh lý nội khoa đi kèm
chiếm 42,2%. Các bệnh lý chủ yếu như cao huyết
áp, tim mạch và đái tháo đường.
5
11,1
4,4
2
Bảng 4. Vị trí khối u
Đa số bệnh nhân ở giai đoạn I, chiếm 51,2%.
N
3
Tỉ lệ %
6,7
Bảng 8. Giải phẫu bệnh lý
Thân vị
Loại tế bào
Ung thư biểu mô tuyến
Biệt hóa tốt
N
43
6
%
Hang vị
25
4
55,6
8,9
95,6
13,3
42,3
40,0
4,4
Môn vị
Góc bờ cong nhỏ
Tổng
13
45
28,9
100
Biệt hóa vừa
Biệt hóa kém
Tế bào nhẫn
19
18
2
Khối u ở vị trí hang vị chiếm phần lớn (55,6%),
tiếp đến là khối u ở vị trí góc bờ cong nhỏ (28,9%).
Tổng
45
100
310
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Ung thư biểu mô tuyến chiếm đa số (95,6%),
trong đó loại biệt hóa vừa chiếm tỉ lệ cao nhất
(42,3%).
dày ở hậu phẫu ngày thứ 5 với biểu hiện buồn nôn
và nôn ói. Bệnh nhân được đắt ống thông mũi - dạ
dày. Bệnh nhân được chuyển lên tuyến trên và tử
vong sau đó 3 tuần.
Tai biến và biến chứng
Kết quả phẫu thuật
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có các
biến chứng xảy ra trong và sau mổ như chảy máu, xì
rò mỏm tá tràng hoặc miệng nối.
Bảng 9. Kết quả phẫu thuật
BÀN LUẬN
Đặc điểm
N
Tỉ lệ %
Về đặc điểm bệnh nhân
Mức độ cắt dạ dày
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình
là 59,8 ± 11,6, lớn nhất là 79 tuổi và nhỏ nhất là 33
tuổi. Có 32 nam và 13 nữ, tỉ lệ nam/nữ là: 2,5. Kết
quả này tương tự với một số tác giả khác. Nghiên
cứu cả tác giả Võ Duy Long (2017), có độ tuổi trung
bình là 55,3 ± 11.3, trong đó lớn tuổi nhất là 79 tuổi
và nhỏ nhất là 29 tuổi[4]. Nghiên cứu của Hồ Chí
Thanh và cộng sự (2019) tại bệnh viện Quân Y 103
cho thấy tuổi trung bình là 56,1 ± 11,38, lớn nhất 81
tuổi và nhỏ nhất là 26 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 2,17[5].
Nghiên cứ của Huawen Wu có tuổi trung bình là 62,
lớn nhất 76 tuổi và nhỏ nhất là 38 tuổi, tỉ lệ nam/nữ
là 2,5[6].
Bán phần xa
44
1
97,8
2,2
Toàn bộ
Phương pháp nạo hạch
D1
18
25
2
40,0
55,6
4,4
D2
D1+
Rìa diện cắt
R0
45
0
100
0
R1
R2
0
0
Thời gian phẫu thuật (phút)
Số lượng hạch nạo được (hạch)
Thời gian hậu phẫu(ngày)
201,5 ± 41,0
16,7 ± 6,54
8,67 ± 2,84
Bảng 2 cho thấy các triệu chứng thường gặp
của ung thư dạ dày. Phần lớn bệnh nhân có triệu
chứng đau tức thượng vị (chiếm 77,8%), kế đến là
chướng bụng, khó tiêu, chiếm 42,2%, triệu chứng
xuất huyết tiêu hóa với biểu hiện đi cầu phân đen
chiếm 15,6%. Có 15,6% bệnh nhân không có triệu
chứng, phát hiện bệnh tình cờ khi đi nội soi dạ dày
kiểm tra sức khỏe. Kết quả này tương tự với nghiên
cứu của tác giả Võ Duy Long[4].
Chúng tôi chỉ định phẫu thuật nội trong trường
hợp cắt bán phần xa dạ dày là chủ yếu, chỉ có 1
trường hợp thực hiện cắt toàn bộ dạ dày. Mức độ
nạo hạch tuân thủ theo khuyến cáo của Hiệp Hội
ung thư dạ dày Nhật Bản và hướng dẫn của Bộ Y tế
Việt Nam. Tất cả các trường hợp đều có kết quả rìa
diện cắt âm tính.
Bảng 4 cho thấy phần lớn khối u nằm ở 1/3
dưới của dạ dày, trong đó khối u ở vị trí hang vị
chiếm (55,6%), tiếp đến là khối u ở vị trí góc bờ cong
nhỏ (28,9%). Trong nghiên cứu của Hồ Chí Thanh,
có 86,7% khối u nằm ở 1/3 dưới của dạ dày[5],
nghiên cứu của Võ Duy Long có 66,1%[4].
Bảng 10. Tai biến, biến chứng trong và sau mổ
Tai biến,biến chứng
Chảy máu phải truyền máu
Viêm phổi
N
0
0
4
0
1
5
%
0
Đặc điểm mô bệnh học cho thấy, phần lớn khối
u là dạng ung thư biểu mô tuyến (95,6%), trong đó
dạng biệt hóa vừa và biệt hóa kém chiếm lần lượt là
42,3% và 40%. Kết quả này tương tự với các tác giả
Triệu Triều Dương[7] và Hồ Chí Thanh[5].
0,0
8,9
0
Nhiễm trùng vết mổ
Xì rò mỏm tá tràng, miệng nối
Tử vong 30 ngày sau mổ
Tổng
2,2
11,1
Về giai đoạn bệnh, nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy, u chủ yếu ở giai đoạn T2, T3 và 62,2%
chưa có di căn hạch. Có 51,2% bệnh nhân ở giai
đoạn I. Chúng tôi thường chỉ định phẫu thuật nội soi
cắt dạ dày cho những bệnh nhân có khối u ở giai
đoạn sớm, u nhỏ và chưa có dấu hiệu xâm lấn trên
hình ảnh CT trước mổ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường
hợp có biến chứng sau mổ. Trong đó có 4 trường
hợp nhiễm trùng vết mổ. Các trường hợp này đều
được cấy dịch vết mổ và điều trị theo kháng sinh đồ,
vết mổ ổn định và lành trước khi xuất viện.
Có 01 trường hợp bị tử vong sau mổ 30 ngày.
Trường hợp này xuất hiện biến chứng chậm vơi dạ
311
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Về đặc điểm phẫu thuật
Huawen Wu là 230 phút[6], của tác giả Võ Duy Long
là 195,7 ± 31,1 phút[4].
Phần lớn ung thư dạ dày nằm ở vị trí 1/3 dưới
nên có 44/45 trường hợp chúng tôi chỉ định cắt bán
phần dưới dạ dày. Điều này cũng tương tự với các
nghiên cứu khác.
Về thời gian nằm viện sau mổ, trong nghiên cứu
của chúng tôi, trung bình là 8,76 ngày. Dài nhất là 20
ngày và ngắn nhất là 7 ngày. Nghiên cứu của
Huawen Wu là 7 ngày[6].
Chúng tôi tiến hành nạo hạch D1 đối với 18/45
trường hợp, chiếm 40%, nạo hạch D2 là 25/45
trường hợp chiếm 55,6% và nạo hạch D1+ đối với
2/45 trường hợp, chiếm 4,4%. Mức độ nạo hạch
thực hiện theo hướng dẫn của Hiệp hội ung thư dạ
Về tai biến, biến chứng tromng và sau mổ
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường
hợp có biến chứng sau mổ. Trong đó có 4 trường
hợp nhiễm trùng vết mổ. Các trường hợp này đều
được cấy dịch vết mổ và điều trị theo kháng sinh đồ,
vết mổ ổn định và lành trước khi xuất viện.
dày Nhật Bản và Bộ Y tế Việt Nam như sau[1],[3]
:
Theo nguyên tắc chung là D1 hoặc D1+ chỉ định cho
các khối u cT1N0; D2 cho các khối u cT2-4 hoặc cN+.
Vì khả năng đánh giá di căn hạch trước và trong mổ
vẫn còn chưa đáng tin cậy nên thực hiện nạo hạch
D2 khi nghi ngờ di căn hạch.
Có 01 trường hợp bị tử vong sau mổ 30 ngày.
Trường hợp này xuất hiện biến chứng chậm với dạ
dày ở hậu phẫu ngày thứ 5 với biểu hiện buồn nôn
và nôn ói. Bệnh nhân được đắt ống thông mũi - dạ
dày. Bệnh nhân được chuyển lên tuyến trên và tử
vong sau đó 3 tuần.
Nạo hạch D1: Được chỉ định cho khối u T1a
không thõa mãn tiêu chuẩn cắt niêm mạc qua nội soi
dạ dày(EMR)/ cắt dưới niêm mạc qua nội soi dạ
dày(ESD), cho các khối u cT1bN0 loại có độ biệt hóa
cao về mô học và u có đường kính ≤ 1.5cm.
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có các
biến chứng xảy ra trong và sau mổ như chảy máu, xì
rò mỏm tá tràng hoặc miệng nối. Chúng tôi sử dụng
Stapler để cắt ngang tá tràng dưới môn vị 1cm, có
hoặc không khâu vùi mỏm tá tràng. Chúng tôi
thường kiểm tra nếu thấy mỏm cắt không chảy máu
thì không cần khâu, nếu có chảy máu thì khâu tăng
cường tại vị trí chảy máu.
Nạo hạch D1+: Chỉ định cho các khối u cT1N0
khác với mục trên đây.
Nạo hạch D2: Chỉ định cho các khối u T2-4 có
khả năng cắt triệt để hoặc có cN+. Vai trò của cắt
lách để nạo toàn bộ hạch số 10 và 11 hiện vẫn còn
tranh cãi. Tuy nhiên, với các khối u xâm lấn phần
trên bờ cong lớn nên cắt lách để lấy trọn hạch số 10.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y Tế, 2020, "Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị ung thư dạ dày"
Số lượng hạch nạo được trung bình trong
nghiên cứu của chúng tôi là 16,7 ± 6,54 hạch. Kết
quả tương tự với nghiên cứu của Triệu Triều
Dương[7] nhưng thấp hơn nghiên cứu của Hồ Chí
Thanh[5], với số hạch nạo trung bình là 21,5 ± 6,09
hạch. Điều này có thể giải thích là do trong nghiên
cứu chúng tôi lựa bệnh nhân có khối u nhỏ và giai
đoạn sớm. Theo tác giả Triệu Triều Dương, số
lượng hạch lấy được không chỉ phụ thuộc vào kỹ
thuật nạo hạch trong mổ mà còn phụ thuộc vào
người phẫu tích bệnh phẩm để lấy hạch.Người phụ
trách lấy hạch càng kiên trì và có kỹ năng thì số
lượng hạch lấy được sẽ cao.
2. Mickael Chevally. e. al, 2019 "Laparoscopic
surgery for Gastric cancer: The European Point
of view," Journal of oncology.
3. "Japanese gastric cancer treatment guideline
2018," Gastric cancer.
4. Võ Duy Long, 2017 "Đánh giá kết quả phẫu
thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai
đoạn I,II,III," Luận án Tiến Sĩ Y học, Đại Học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Hồ Chí Thanh và cộng sự,2019 "Kết quả xa
phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt dạ dày vét hạch D2
điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh Viện Quân Y
103," Tạp chí Ung thư học Việt Nam, số 4, pp.
124-129.
Thời gian phẫu thuật trung bình trong nghiên
cứu của chúng tôi là 201,5 ± 41,0 phút, cao nhất là
300 phút và thấp nhất là 150 phút. Trong giai đoạn
đầu tiến hành PTNS cắt dạ dày, thời gian phẫu thuật
của chúng tôi thường dài hơn so với giai đoạn sau
này, khi kỹ thuật càng ngày càng được triển khai
thường quy hơn. Thời gian phẫu thuật của chúng tôi
cao hơn so với tác giả Triệu Triều Dương là
162,0 ± 2,8 phút[7] ]và tương đương với nghiên cứu
của tác giả Hồ Chí Thanh 205,7 ± 51,8 phút[5], của
6. Huawan Wu,2016 "Outcome of laparoscopic
total gastrectomy for gastric carcinoma," JBUON
, vol. 21, no. 3, p. 604.
7. Triệu Triều Dương và cộng sự, 2013,"Kết quả
điều trị nội soi cắt đoạn dạ dày vét hạch D2 điều
trị ung thư 1/3 dưới dạ dày, " Hội nghị Khoa học
312
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
phẫu thuật nội soi-nội soi và Hội nghị ngoại khoa
toàn quốc, vol. 1, pp. 2-25,.
8. Pavlidis et. al,2012 "The role of laparoscopic
surgery in gastric cancer", Journal of Minimal
Access Surgery , vol. 8, no. 2, pp. 35-42.
313
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ABSTRACT
Outcome of the laparoscopy gastrectomy for gastric cancer at Danang Oncology Hospital
Objectives: To evaluate the outcome of curative laparoscopy gastrectomy with lymphadenectomy for
gastric cancer.
Subjects and method: A prospective study, from 01/2015 to 06/2020, we performed curative laparoscopy
gastrectomy with lymphadenectomy for 45 gastric cancer patients (32 male and 13 female) at the Department 1
Surgery, Da Nang Oncology Hospital.
Results:
Mean age was 59,8 ± 11,6, stage I, II, III was 51,2%, 24,4% and 24,4% respectively distal gastrectomy
performed in 44 cases (97,8%) and total gastrectomy were 01 cases (2,2%).
The mean operating time was 201,5 ± 41,0 minutes. The mean number of dissected lymph nodes were
16,7 ± 6,54. The mean hospital stay was 8,67 ± 2,84. Five cases with postoperative complication were
recognized.
Conclusion: Laparoscopic Gastrectomy with lymphadenectomy is safe and unsignificant complications.
314
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_phau_thuat_noi_soi_dieu_tri_ung_thu_da_day.pdf

