Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ  
UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG  
1
1
2
NGUYỄN NGỌC SƠN , CAO XUÂN THẠNH , NGUYỄN THANH HÙNG  
TÓM TẮT  
Mục tiêu  
Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt dạ dày triệt căn kèm nạo vét hạch trong điều trị ung thư dạ  
dày.  
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu tiến cứu, gồm 40 bệnh nhân trong đó có 32 nam và 13 nữ được chẩn đoán và điều trị  
phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn do ung thư từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2020 tại khoa Ngoại 1, Bệnh  
viện Ung Bướu Đà Nẵng.  
Kết quả: Tuổi trung bình 59,8 ± 11,6, giai đoạn I, II và III lần lượt là 51,2%, 24,4% và 24,4%. Có 44  
trường hợp cắt dạ dày bán phần chiếm 97,8%, 1 trường hợp cắt toàn bộ dạ dày chiếm 2,2%. Thời gian mổ  
trung bình 201,5 ± 41,0 phút, số hạch lấy được 16,7 ± 6,54 hạch.Thời gian hậu phẫu trung bình là  
8,67 ± 2,84 ngày. Có 5 trường hợp có biến chứng sau mổ gồm 04 trường hợp nhiễm trùng vết mổ và 01  
trường hợp tử vong trong vonhf 30 ngày sau mổ.  
sau 5 năm cắt dạ dày tại Nhật Bản là 83,5%[3]. Tại  
Hàn quốc, sau khi thực hiện chương trình sàng lọc  
quốc gia đã cải thiện được chẩn đoán ung thư dạ  
dày sớm tăng từ 24,8% lên 48,9%.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong những  
bệnh ung thư (UT) phổ biến nhất trên thế giới. Năm  
2018, ước tính trên thế giới có 1.033.700 tr฀ờng  
hợp ung thư dạ dày mắc mới và hơn 782.600  
trường hợp tử vong. Tại Việt Nam theo Globocan  
2018, UTDD đứng thứ 3 ở cả hai giới sau ung thư  
gan và ung thư phổi với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là  
11,38/100.000 dân. Trong đó, loại ung thư biểu mô  
tuyến chiếm chủ yếu (90 - 95%)[1].  
Trong khi đó, phần lớn người bệnh ung thư dạ  
dày tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn tiến  
triển. Theo Nguyễn Quang Thái, khoảng 1/3 bệnh  
nhân (31%) ung thư còn khu trú trong thành dạ dày  
(giai đoạn T1, T2), số còn lại ở giai đoạn tiến xa: di  
căn hạch lympho hay di căn xa. Tương tự như vậy,  
theo Nguyễn Minh Hải bệnh nhân ung thư dạ dày  
còn được phẫu thuật triệt căn ở giai đoạn I là 22,5%  
(trong đó giai đoạn IA chỉ chiếm 2,4%), 17,8% ở giai  
đoạn II, 46,4% giai đoạn III và 13,1% ở giai đoạn IV.  
Việc chẩn đoán ung thư dạ dày đã có nhiều tiến  
bộ nhờ sự phát triển của các phương tiện hiện đại  
như nội soi, CTscan… cũng như chuyên ngành giải  
phẫu bệnh. Tiên lượng bệnh ung thư dạ dày sẽ cải  
thiện đáng kể nếu được phát hiện và điều trị sớm[2].  
Tại Nhật Bản Từ năm 1971 đến 2007 nghiên cứu tại  
Bệnh viện Đại học Kitasato cho thấy tỷ lệ phát hiện  
UTDD sớm tăng cao khi áp dụng các xét nghiệm  
sàng lọc, từ đó được chẩn đoán sớm, điều trị kịp  
thời, tỷ lệ sống ngày càng được cải thiện. Theo hiệp  
hội ung thư dạ dày Nhật Bản năm 2008 thì tỷ lệ sống  
Trước đây, mổ mở cắt dạ dày kèm nạo hạch  
lympho là phương pháp điều trị tiêu chuẩn được lựa  
chọn, cải thiện thời gian sống còn cho người bệnh.  
Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày được Kitano thực  
hiện lần đầu vào năm 1994 tại Nhật Bản. Sau đó,  
nhiều tác giả khác đã ứng dụng và báo cáo kết quả  
ban đầu về điều trị ung thư dạ dày[3].  
Ngày nhận bài: 09/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Ngọc Sơn  
1 ThS.BS. Khoa Ngoại 1 - Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng  
2 ThS.BSCKII. Phó Giám đốc - Trưởng Khoa Ngoại 1 - Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng  
308  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, PTNS  
phát triển mạnh, được ứng dụng cho nhiều loại phẫu  
thuật. Đối với ung thư dạ dày, đã có nhiều báo cáo  
của các tác giả. Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ  
yếu thực hiện ở các bệnh viện lớn tuyến trung ương.  
Câu hỏi đặt ra là, phương pháp phẫu thuật nội soi  
kèm nạo vét hạch trong điều trị ung thư dạ dày có  
khả thi đối với các bệnh viện tuyến tỉnh hay không?.  
Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng đã thực hiện phẫu  
thuật thuật triệt căn điều trị ung thư dạ dày một cách  
thường quy ngay từ những ngày đầu thành lập bệnh  
viện và đến tháng 1 năm 2015, chúng tôi triển khai  
phẫu thuật nội soi cắt dạ dày kèm nạo hạch. Tuy  
nhiên chưa có một tổng kết đánh giá về kết quả của  
phương pháp điều trị này. Vì vậy, chúng tôi thực  
hiện đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt  
dạ dày kèm nạo hạch lympho trong điều trị ung thư  
dạ dày”  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Bệnh nhân có tiền sử cắt dạ dày bán phần,  
phẫu thuật cắt lại dạ dày do ung thư.  
Những trường hợp không đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu  
Hồi cứu, mô tả có theo dõi dọc.  
Cỡ mẫu  
Chúng tôi chọn mẫu thuận tiện; đưa vào nghiên  
cứu tất cả bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi  
cắt dạ dày triệt căn kèm nạo hạch lympho từ tháng 1  
năm 2015 đến tháng 06 năm 2020.  
Các quy trình kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu  
Chỉ định cắt dạ dày, nạo hạch theo hướng  
dẫn của hội ung thư dạ dày Nhật Bản, phiên bản 4,  
năm 2014 và phiên bản 5 năm 2018. Và theo Hướng  
dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày - Bộ Y tế.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Tất cả bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu  
thuật triệt căn tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng từ  
tháng 1 năm 2015 đến tháng 06 năm 2020.  
KẾT QUẢ  
Đặc điểm bệnh nhân  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có tổng cộng  
45 bệnh nhân. Chúng tôi bắt đầu thực hiện phẫu  
thuật nội soi điều trị UTDD từ tháng 1/2015. Số  
lượng tăng dần qua các năm.  
Tiêu chuẩn lựa chọn  
Được chẩn đoán ung thư dạ dày qua lâm sàng,  
cận lâm sàng với giải phẫu bệnh sau phẫu thuật là  
ung thư.  
Có chỉ định và được phẫu thuật nội soi cắt dạ  
dày kèm nạo vét hạch  
16  
14  
12  
10  
8
14  
11  
8
6
4
2
0
5
4
3
Năm 2015  
Năm 2016  
Năm 2017  
Năm 2018  
Năm 2019  
6 tháng 2020  
Biểu đồ 1. Số lượng bệnh nhân PTNS cắt dạ dày qua các năm  
309  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Bảng 5. Giai đoạn theo T  
Tuổi trung bình là 59,8 ± 11,6, lớn nhất là 79  
tuổi và nhỏ nhất là 33 tuổi.  
T
T1  
N
9
Tỉ lệ %  
Có 32 nam và 13 nữ, tỉ lệ nam/nữ là: 2,5.  
20,0  
42,2  
37,8  
100  
T2  
19  
17  
45  
Bảng 1. Giới tính  
T3  
N
Tỉ lệ %  
71,1  
Tổng  
Nam  
Nữ  
32  
13  
45  
Khối u chủ yếu ở giai đoạn T2 và T3.  
28,9  
Tổng  
100  
Bảng 6. Phân loại theo N  
N
N
28  
8
Tỉ lệ %  
62,2  
17,8  
15,6  
2,2  
N0  
Bảng 2. Lý do nhập viện  
N1  
Triệu chứng  
N
35  
15  
9
Tỉ lệ %  
77,8  
N2  
7
Đau thượng vị  
N3a  
N3b  
1
Buồn nôn - nôn  
33,3  
1
2,2  
Đi cầu phân đen  
Chướng bụng,khó tiêu  
Không triệu chứng  
20,0  
Tổng  
45  
100  
19  
7
42,2  
Bảng phân loại giai đoạn cho thấy phần lớn  
bệnh nhân chưa có di căn hạch (62,2%), tỉ lệ di căn  
hạch chỉ khoảng 37,8%.  
15,6  
Phần lớn bệnh nhân có triệu chứng đau tức  
thượng vị (chiếm 77,8%), kế đến là chướng bụng,  
khó tiêu, chiếm 42,2%, triệu chứng xuất huyết tiêu  
hóa với biểu hiện đi cầu phân đen chiếm 15,6%. Có  
15,6% bệnh nhân không có triệu chứng, phát hiện  
bệnh tình cờ khi đi nội soi dạ dày kiểm tra sức khỏe.  
Bảng 7. Giai đoạn bệnh theo UICC 7th  
Giai đoạn  
N
23  
7
Tỉ lệ %  
51,2  
15,6  
35,6  
24,4  
8,9  
I
IA  
IB  
Bảng 3. Bệnh kèm  
16  
11  
4
N
Tỉ lệ %  
42,2  
II  
Có bệnh kèm  
Không có bệnh kèm  
Tổng  
19  
26  
45  
IIA  
IIB  
57,8  
7
15,6  
24,4  
8,9  
100  
III  
11  
4
IIIA  
IIIB  
IIIC  
Bệnh nhân có các bệnh lý nội khoa đi kèm  
chiếm 42,2%. Các bệnh lý chủ yếu như cao huyết  
áp, tim mạch và đái tháo đường.  
5
11,1  
4,4  
2
Bảng 4. Vị trí khối u  
Đa số bệnh nhân ở giai đoạn I, chiếm 51,2%.  
N
3
Tỉ lệ %  
6,7  
Bảng 8. Giải phẫu bệnh lý  
Thân vị  
Loại tế bào  
Ung thư biểu mô tuyến  
Biệt hóa tốt  
N
43  
6
%
Hang vị  
25  
4
55,6  
8,9  
95,6  
13,3  
42,3  
40,0  
4,4  
Môn vị  
Góc bờ cong nhỏ  
Tổng  
13  
45  
28,9  
100  
Biệt hóa vừa  
Biệt hóa kém  
Tế bào nhẫn  
19  
18  
2
Khối u ở vị trí hang vị chiếm phần lớn (55,6%),  
tiếp đến là khối u ở vị trí góc bờ cong nhỏ (28,9%).  
Tổng  
45  
100  
310  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Ung thư biểu mô tuyến chiếm đa số (95,6%),  
trong đó loại biệt hóa vừa chiếm tỉ lệ cao nhất  
(42,3%).  
dày ở hậu phẫu ngày thứ 5 với biểu hiện buồn nôn  
và nôn ói. Bệnh nhân được đắt ống thông mũi - dạ  
dày. Bệnh nhân được chuyển lên tuyến trên và tử  
vong sau đó 3 tuần.  
Tai biến và biến chứng  
Kết quả phẫu thuật  
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có các  
biến chứng xảy ra trong và sau mổ như chảy máu, xì  
rò mỏm tá tràng hoặc miệng nối.  
Bảng 9. Kết quả phẫu thuật  
BÀN LUẬN  
Đặc điểm  
N
Tỉ lệ %  
Về đặc điểm bệnh nhân  
Mức độ cắt dạ dày  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình  
là 59,8 ± 11,6, lớn nhất là 79 tuổi và nhỏ nhất là 33  
tuổi. Có 32 nam và 13 nữ, tỉ lệ nam/nữ là: 2,5. Kết  
quả này tương tự với một số tác giả khác. Nghiên  
cứu cả tác giả Võ Duy Long (2017), có độ tuổi trung  
bình là 55,3 ± 11.3, trong đó lớn tuổi nhất là 79 tuổi  
và nhỏ nhất là 29 tuổi[4]. Nghiên cứu của Hồ Chí  
Thanh và cộng sự (2019) tại bệnh viện Quân Y 103  
cho thấy tuổi trung bình là 56,1 ± 11,38, lớn nhất 81  
tuổi và nhỏ nhất là 26 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 2,17[5].  
Nghiên cứ của Huawen Wu có tuổi trung bình là 62,  
lớn nhất 76 tuổi và nhỏ nhất là 38 tuổi, tỉ lệ nam/nữ  
là 2,5[6].  
Bán phần xa  
44  
1
97,8  
2,2  
Toàn bộ  
Phương pháp nạo hạch  
D1  
18  
25  
2
40,0  
55,6  
4,4  
D2  
D1+  
Rìa diện cắt  
R0  
45  
0
100  
0
R1  
R2  
0
0
Thời gian phẫu thuật (phút)  
Số lượng hạch nạo được (hạch)  
Thời gian hậu phẫu(ngày)  
201,5 ± 41,0  
16,7 ± 6,54  
8,67 ± 2,84  
Bảng 2 cho thấy các triệu chứng thường gặp  
của ung thư dạ dày. Phần lớn bệnh nhân có triệu  
chứng đau tức thượng vị (chiếm 77,8%), kế đến là  
chướng bụng, khó tiêu, chiếm 42,2%, triệu chứng  
xuất huyết tiêu hóa với biểu hiện đi cầu phân đen  
chiếm 15,6%. Có 15,6% bệnh nhân không có triệu  
chứng, phát hiện bệnh tình cờ khi đi nội soi dạ dày  
kiểm tra sức khỏe. Kết quả này tương tự với nghiên  
cứu của tác giả Võ Duy Long[4].  
Chúng tôi chỉ định phẫu thuật nội trong trường  
hợp cắt bán phần xa dạ dày là chủ yếu, chỉ có 1  
trường hợp thực hiện cắt toàn bộ dạ dày. Mức độ  
nạo hạch tuân thủ theo khuyến cáo của Hiệp Hội  
ung thư dạ dày Nhật Bản và hướng dẫn của Bộ Y tế  
Việt Nam. Tất cả các trường hợp đều có kết quả rìa  
diện cắt âm tính.  
Bảng 4 cho thấy phần lớn khối u nằm ở 1/3  
dưới của dạ dày, trong đó khối u ở vị trí hang vị  
chiếm (55,6%), tiếp đến là khối u ở vị trí góc bờ cong  
nhỏ (28,9%). Trong nghiên cứu của Hồ Chí Thanh,  
có 86,7% khối u nằm ở 1/3 dưới của dạ dày[5],  
nghiên cứu của Võ Duy Long có 66,1%[4].  
Bảng 10. Tai biến, biến chứng trong và sau mổ  
Tai biến,biến chứng  
Chảy máu phải truyền máu  
Viêm phổi  
N
0
0
4
0
1
5
%
0
Đặc điểm mô bệnh học cho thấy, phần lớn khối  
u là dạng ung thư biểu mô tuyến (95,6%), trong đó  
dạng biệt hóa vừa và biệt hóa kém chiếm lần lượt là  
42,3% và 40%. Kết quả này tương tự với các tác giả  
Triệu Triều Dương[7] và Hồ Chí Thanh[5].  
0,0  
8,9  
0
Nhiễm trùng vết mổ  
Xì rò mỏm tá tràng, miệng nối  
Tử vong 30 ngày sau mổ  
Tổng  
2,2  
11,1  
Về giai đoạn bệnh, nghiên cứu của chúng tôi  
cho thấy, u chủ yếu ở giai đoạn T2, T3 và 62,2%  
chưa có di căn hạch. Có 51,2% bệnh nhân ở giai  
đoạn I. Chúng tôi thường chỉ định phẫu thuật nội soi  
cắt dạ dày cho những bệnh nhân có khối u ở giai  
đoạn sớm, u nhỏ và chưa có dấu hiệu xâm lấn trên  
hình ảnh CT trước mổ.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường  
hợp có biến chứng sau mổ. Trong đó có 4 trường  
hợp nhiễm trùng vết mổ. Các trường hợp này đều  
được cấy dịch vết mổ và điều trị theo kháng sinh đồ,  
vết mổ ổn định và lành trước khi xuất viện.  
Có 01 trường hợp bị tử vong sau mổ 30 ngày.  
Trường hợp này xuất hiện biến chứng chậm vơi dạ  
311  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Về đặc điểm phẫu thuật  
Huawen Wu là 230 phút[6], của tác giả Võ Duy Long  
là 195,7 ± 31,1 phút[4].  
Phần lớn ung thư dạ dày nằm ở vị trí 1/3 dưới  
nên có 44/45 trường hợp chúng tôi chỉ định cắt bán  
phần dưới dạ dày. Điều này cũng tương tự với các  
nghiên cứu khác.  
Về thời gian nằm viện sau mổ, trong nghiên cứu  
của chúng tôi, trung bình là 8,76 ngày. Dài nhất là 20  
ngày và ngắn nhất là 7 ngày. Nghiên cứu của  
Huawen Wu là 7 ngày[6].  
Chúng tôi tiến hành nạo hạch D1 đối với 18/45  
trường hợp, chiếm 40%, nạo hạch D2 là 25/45  
trường hợp chiếm 55,6% và nạo hạch D1+ đối với  
2/45 trường hợp, chiếm 4,4%. Mức độ nạo hạch  
thực hiện theo hướng dẫn của Hiệp hội ung thư dạ  
Về tai biến, biến chứng tromng và sau mổ  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường  
hợp có biến chứng sau mổ. Trong đó có 4 trường  
hợp nhiễm trùng vết mổ. Các trường hợp này đều  
được cấy dịch vết mổ và điều trị theo kháng sinh đồ,  
vết mổ ổn định và lành trước khi xuất viện.  
dày Nhật Bản và Bộ Y tế Việt Nam như sau[1],[3]  
:
Theo nguyên tắc chung là D1 hoặc D1+ chỉ định cho  
các khối u cT1N0; D2 cho các khối u cT2-4 hoặc cN+.  
Vì khả năng đánh giá di căn hạch trước và trong mổ  
vẫn còn chưa đáng tin cậy nên thực hiện nạo hạch  
D2 khi nghi ngờ di căn hạch.  
Có 01 trường hợp bị tử vong sau mổ 30 ngày.  
Trường hợp này xuất hiện biến chứng chậm với dạ  
dày ở hậu phẫu ngày thứ 5 với biểu hiện buồn nôn  
và nôn ói. Bệnh nhân được đắt ống thông mũi - dạ  
dày. Bệnh nhân được chuyển lên tuyến trên và tử  
vong sau đó 3 tuần.  
Nạo hạch D1: Được chỉ định cho khối u T1a  
không thõa mãn tiêu chuẩn cắt niêm mạc qua nội soi  
dạ dày(EMR)/ cắt dưới niêm mạc qua nội soi dạ  
dày(ESD), cho các khối u cT1bN0 loại có độ biệt hóa  
cao về mô học và u có đường kính ≤ 1.5cm.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có các  
biến chứng xảy ra trong và sau mổ như chảy máu, xì  
rò mỏm tá tràng hoặc miệng nối. Chúng tôi sử dụng  
Stapler để cắt ngang tá tràng dưới môn vị 1cm, có  
hoặc không khâu vùi mỏm tá tràng. Chúng tôi  
thường kiểm tra nếu thấy mỏm cắt không chảy máu  
thì không cần khâu, nếu có chảy máu thì khâu tăng  
cường tại vị trí chảy máu.  
Nạo hạch D1+: Chỉ định cho các khối u cT1N0  
khác với mục trên đây.  
Nạo hạch D2: Chỉ định cho các khối u T2-4 có  
khả năng cắt triệt để hoặc có cN+. Vai trò của cắt  
lách để nạo toàn bộ hạch số 10 và 11 hiện vẫn còn  
tranh cãi. Tuy nhiên, với các khối u xâm lấn phần  
trên bờ cong lớn nên cắt lách để lấy trọn hạch số 10.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Y Tế, 2020, "Hướng dẫn chẩn đoán và điều  
trị ung thư dạ dày"  
Số lượng hạch nạo được trung bình trong  
nghiên cứu của chúng tôi là 16,7 ± 6,54 hạch. Kết  
quả tương tự với nghiên cứu của Triệu Triều  
Dương[7] nhưng thấp hơn nghiên cứu của Hồ Chí  
Thanh[5], với số hạch nạo trung bình là 21,5 ± 6,09  
hạch. Điều này có thể giải thích là do trong nghiên  
cứu chúng tôi lựa bệnh nhân có khối u nhỏ và giai  
đoạn sớm. Theo tác giả Triệu Triều Dương, số  
lượng hạch lấy được không chỉ phụ thuộc vào kỹ  
thuật nạo hạch trong mổ mà còn phụ thuộc vào  
người phẫu tích bệnh phẩm để lấy hạch.Người phụ  
trách lấy hạch càng kiên trì và có kỹ năng thì số  
lượng hạch lấy được sẽ cao.  
2. Mickael Chevally. e. al, 2019 "Laparoscopic  
surgery for Gastric cancer: The European Point  
of view," Journal of oncology.  
3. "Japanese gastric cancer treatment guideline  
2018," Gastric cancer.  
4. Võ Duy Long, 2017 "Đánh giá kết quả phẫu  
thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai  
đoạn I,II,III," Luận án Tiến Sĩ Y học, Đại Học Y  
Dược Thành phố Hồ Chí Minh.  
5. Hồ Chí Thanh và cộng sự,2019 "Kết quả xa  
phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt dạ dày vét hạch D2  
điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh Viện Quân Y  
103," Tạp chí Ung thư học Việt Nam, số 4, pp.  
124-129.  
Thời gian phẫu thuật trung bình trong nghiên  
cứu của chúng tôi là 201,5 ± 41,0 phút, cao nhất là  
300 phút và thấp nhất là 150 phút. Trong giai đoạn  
đầu tiến hành PTNS cắt dạ dày, thời gian phẫu thuật  
của chúng tôi thường dài hơn so với giai đoạn sau  
này, khi kỹ thuật càng ngày càng được triển khai  
thường quy hơn. Thời gian phẫu thuật của chúng tôi  
cao hơn so với tác giả Triệu Triều Dương là  
162,0 ± 2,8 phút[7] ]và tương đương với nghiên cứu  
của tác giả Hồ Chí Thanh 205,7 ± 51,8 phút[5], của  
6. Huawan Wu,2016 "Outcome of laparoscopic  
total gastrectomy for gastric carcinoma," JBUON  
, vol. 21, no. 3, p. 604.  
7. Triệu Triều Dương và cộng sự, 2013,"Kết quả  
điều trị nội soi cắt đoạn dạ dày vét hạch D2 điều  
trị ung thư 1/3 dưới dạ dày, " Hội nghị Khoa học  
312  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
phẫu thuật nội soi-nội soi và Hội nghị ngoại khoa  
toàn quốc, vol. 1, pp. 2-25,.  
8. Pavlidis et. al,2012 "The role of laparoscopic  
surgery in gastric cancer", Journal of Minimal  
Access Surgery , vol. 8, no. 2, pp. 35-42.  
313  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ABSTRACT  
Outcome of the laparoscopy gastrectomy for gastric cancer at Danang Oncology Hospital  
Objectives: To evaluate the outcome of curative laparoscopy gastrectomy with lymphadenectomy for  
gastric cancer.  
Subjects and method: A prospective study, from 01/2015 to 06/2020, we performed curative laparoscopy  
gastrectomy with lymphadenectomy for 45 gastric cancer patients (32 male and 13 female) at the Department 1  
Surgery, Da Nang Oncology Hospital.  
Results:  
Mean age was 59,8 ± 11,6, stage I, II, III was 51,2%, 24,4% and 24,4% respectively distal gastrectomy  
performed in 44 cases (97,8%) and total gastrectomy were 01 cases (2,2%).  
The mean operating time was 201,5 ± 41,0 minutes. The mean number of dissected lymph nodes were  
16,7 ± 6,54. The mean hospital stay was 8,67 ± 2,84. Five cases with postoperative complication were  
recognized.  
Conclusion: Laparoscopic Gastrectomy with lymphadenectomy is safe and unsignificant complications.  
314  
pdf 7 trang yennguyen 20820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_noi_soi_dieu_tri_ung_thu_da_day.pdf