Tóm tắt Luận văn Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ với việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
NGUYỄN VĂN MỘT  
QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN  
VỀ DÂN CHỦ VỚI VIỆC THỰC HIỆN  
DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60 22 03 01  
Đà Nẵng - Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN MAI ƯỚC  
Phản biện 1: TS. Trần Hồng Lưu  
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa  
Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Triết học họp tại trường Đại học Kinh tế, Đại  
học Đà Nẵng vào ngày 20 tháng 8 năm 2017.  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện, Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Thuật ngữ Dân chủ (Demos Kratos) có nguồn gốc từ chữ Hy  
Lạp. Trong đó Demos (nhân dân), Kratos (chính quyền), có nghĩa là  
chính quyền của nhân dân.  
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư  
sản và đến dân chủ vô sản là những bước tiến của lịch sử. Các ông đã  
đánh giá một cách khách quan nền dân chủ tư sản, mặc dù là bước  
tiến bộ so với chế độ chuyên chế phong kiến nhưng dân chủ tư sản  
còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết.  
Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen  
về dân chủ, V.I.Lênin đã làm sáng tỏ con đường biện chứng của quá  
trình phát triển dân chủ: “Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân  
chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân  
chủ nữa”.  
Trong những năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được rất nhiều  
thành tựu quan trọng về dân chủ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành  
tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện dân chủ nước ta vẫn còn  
nhiều vấn đề bất cập. Bộ máy hành chính ở nước ta vẫn còn rất cồng  
kềnh, chồng chéo không mang lại hiệu quả trong việc quản lý. Luật  
pháp còn nhiều kẽ hở, bất cập, thiếu tính chiến lược và tính khả thi.  
Người dân thiếu cơ sở pháp lý để đấu tranh với các hiện tượng tiêu  
cực, tham nhũng, xâm phạm đến lợi ích của bản thân và xã hội. Tình  
trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ;  
đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa  
vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong  
chỉ đạo, điều hành. Vì vậy, nếu không khắc phục có hiệu quả những  
2
hạn chế này, chúng ta không thể loại trừ tình trạng quan liêu của nhà  
nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền làm chủ của nhân dân.  
Nghiên cứu vấn đề dân chủ trong các tác phẩm của V.I.Lênin  
có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn. Nó vừa cung cấp cho  
chúng ta một thế giới quan, phương pháp luận khoa học, đúng đắn  
nhằm chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về  
vấn đề dân chủ, đồng thời cho ta những nhận thức đúng đắn nội dung  
của vấn đề dân chủ, trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn và sáng tạo  
những quan điểm này vào thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay. Vì  
vậy, người viết chọn đề tài: Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ  
với việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay, làm luận văn Thạc  
sĩ chuyên ngành Triết học.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở hệ thống hóa các nội dung dân chủ của  
V.I.Lênin, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở  
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng: Nghiên cứu những quan điểm của V.I.Lênin  
về dân chủ với việc thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu:  
Tập trung nghiên cứu các quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề  
dân chủ, từ đó tìm hiểu thực trạng và đưa ra các giải pháp để thực  
hiện dân chủ tốt hơn đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận những nguyên  
lý, quan điểm cơ bản của V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các  
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân chủ.  
Phương pháp luận của luận văn: Luận văn được nghiên cứu  
3
trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và  
duy vật lịch sử.  
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:  
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh  
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp logic - lịch sử; phân  
tích, tổng hợp và phương pháp xử lý tư liệu.  
5. Bố cục đề tài  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,  
luận văn gồm có 3 chương, 07 tiết.  
Chương 1. Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ  
Chương 2. Thực trạng thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay  
Chương 3. Vận dụng quan điểm dân chủ của V.I.Lênin nhằm  
thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay  
6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu  
Vấn đề dân chủ có một vị trí, vai trò quan trọng đối với nước  
ta, bởi tính lý luận và thực tiễn cấp bách của nó, nhất là trong quá  
trình thực thi dân chủ ở nước ta hiện nay. Có thể chia những nghiên  
cứu này theo hai mảng vấn đề chủ yếu sau đây:  
- Về Nghiên cứu tƣ tƣởng của các nhà kinh điển Mác-Lênin  
về dân chủ: Các Quan điểm của V.I.Lênin về sự kết hợp tất yếu hữu  
cơ giữa dân chủ và CNXH của Đặng Hữu Toàn đăng trên Tạp chí  
Triết học số 2, tháng 4 năm 2000, Vấn đề dân chủ trong tác phẩm  
Nhà nước và cách mạng của V.I.Lênin của tác giả Lê Xuân Huy đăng  
trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9 năm 2005, Chủ nghĩa xã hội và  
dân chủ qua việc C.Mác, Ph.Ăngghen phê phán quan điểm chính trị  
của chủ nghĩa cấp tiến tư sản Đức của Trần Băng Thanh đăng trên  
Tạp chí Triết học số 2, tháng 4 năm 1999; Từ quan điểm về dân chủ  
của Ph.Ăngghen của Nguyễn Văn Giang, đăng trên Tạp chí xây dựng  
Đảng số 11, năm 2016.  
4
Ngô Hữu Thảo (1990): Những luận điểm của V.I.Lênin về  
chính trị và vấn đề dân chủ hoá lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay,  
Tạp chí Triết học, số 3. Bài báo trình bày tinh thần cốt yếu từ những  
luận điểm về chính trị của V.I.Lênin, từ đó luận giải, phân tích những  
biểu hiện cần có của quá trình dân chủ hoá về chính trị ở nước ta trên  
các khía cạnh cụ thể.  
Phạm Xuân Mỹ (2000): Từ di sản của V.I.Lênin về dân chủ,  
Nghiên cứu lý luận số 1. Bài báo trình bày, phân tích, bình luận khái  
quát về những luận điểm cơ bản của V.I.Lênin về dân chủ, dân chủ  
tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa .  
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh – ĐHKHXH – NV - Khoa  
Triết học (2004): Tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ, Nxb CTQG,  
Hà Nội. Các tác giả đã phân tích những quan điểm, tư tưởng của  
V.I.Lênin về dân chủ, sự khác nhau giữa dân chủ vô sản và dân chủ  
tư sản, ý nghĩa và những bài học đối với quá trình dân chủ hoá đời  
sống xã hội ở nước ta hiện nay.  
Giáo sư Đỗ Tư (2004): Tư tưởng chính trị của V.I.Lênin từ  
cách mạng Nga đến cách mạng Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà  
Nội. Công trình này phân tích những phạm trù cơ bản trong hệ thống  
lý luận chính trị của V.I.Lênin, từ đó, khẳng định những giá trị  
trường tồn trong tư tưởng chính trị của Người, cũng như giá trị, ý  
nghĩa của di sản này đối với cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời  
kỳ đổi mới.  
- Về nghiên cứu thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: Trần  
Khắc Việt (2004): Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: vấn đề đặt  
ra và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị số 9; TS. Đỗ Trung Hiếu  
(2004): Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện  
nay, Nxb CTQG, Hà Nội; GS.TS Hoàng Chí Bảo (2006): Thành tựu  
hai mươi năm đổi mới - thành tựu của dân chủ, Tạp chí Lịch sử  
5
Đảng, số 9; PGS.TS Vũ Hoàng Công (2009): Xây dựng và phát triển  
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb CT - HC, Hà Nội.  
Trong các công trình khoa học trên, các tác giả đã làm rõ nhiều  
vấn đề lý luận chung về dân chủ. Như: lịch sử hình thành dân chủ,  
khái niệm dân chủ là gì? một số nội dung cốt lõi trong quan điểm về  
dân chủ của các nhà triết học Mác - Lênin, những cơ sở kinh tế - xã  
hội của sự hình thành dân chủ, những nhu cầu và đòi hỏi về dân chủ  
của nhân dân, cũng như bản chất, đặc trưng và những chức năng cơ  
bản của dân chủ trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại.  
Đồng thời, do nhận thức được tầm quan trọng dân chủ trong việc xây  
dựng Nhà nước pháp quyền, cho nên trong nhiều công trình khoa  
học nói trên, các tác giả cũng đã phân tích rõ vai trò, vị trí, ý nghĩa  
của dân chủ và đưa ra các giải pháp cơ bản cho sự đổi mới hoạt  
động của Nhà nước pháp quyền, từ đó mong muốn xây dựng thành  
công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì  
dân ở nước ta hiện nay.  
- Về nghiên cứu chuyên sâu vấn đề dân chủ  
Luận văn: Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về  
dân chủ và vận dụng quan điểm đó vào thực hiện dân chủ ở nước ta  
hiện nay, của tác giả Phạm Quang Tùng, Hà Nội, Năm 2006.  
Bài viết đã trình bày một cách hệ thống và khái quát những  
quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ  
và sự vận dụng những quan điểm đó vào thực hiện dân chủ ở nước ta  
hiện nay. Phân tích những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen  
và V.I.Lênin về dân chủ và ý nghĩa của những quan điểm này trong  
việc thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu  
thực trạng việc thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay theo tư tưởng  
của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, từ đó đề xuất một số giải pháp  
cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện dân chủ ở nước ta  
trong giai đoạn hiện nay.  
6
Bài viết góp phần chứng minh tính đúng đắn của các quan điểm  
lý luận của các nhà kinh điển Mác - Lênin trong quá trình nhận thức và  
hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan với vấn đề lý luận có  
liên quan mật thiết đến quá trình đổi mới và phát triển đất nước.  
Luận văn: Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ  
nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi  
mớicủa tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Hà Nội, năm 2010. Bài viết đã hệ  
thống hoá, phân tích, đánh giá những quan điểm, cơ bản của  
V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm rõ sự vận dụng những  
quan điểm, tư tưởng ấy của Đảng ta. Phân tích, đánh giá thực trạng  
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần  
của V.I.Lênin trong thời kỳ đổi mới và đề đề dân chủ xã hội chủ  
nghĩa, cả về lý luận và thực tiễn, góp phần cung cấp cơ sở lý luận và  
thực tiễn cho việc tiếp tục xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ  
nghĩa trong điều kiện hiện nay ở nước ta trên các cấp độ khác nhau.  
Tóm lại, các công trình khoa học trên đây đã cho thấy: Quan  
điểm về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa của C.Mác,  
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi  
mới đã được nghiên cứu ở các cấp độ, khía cạnh khác nhau:  
Các công trình nghiên cứu về quá trình dân chủ hoá đời sống  
xã hội trong thời kỳ đổi mới đã có khá nhiều. Tuy nhiên, để đánh giá  
một cách toàn diện, có hệ thống, nhất là phân tích, đánh giá sự vận  
dụng quan điểm dân chủ của V.I.Lênin thì vẫn có giá trị thực tiễn đối  
với các khoa học chính trị.  
Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ  
thống, toàn diện về quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ với việc thực  
hiện dân chủ ở nước ta hiện nay, nhất là ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ  
Triết học dưới góc độ chuyên ngành Triết học.  
7
CHƢƠNG 1  
QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ DÂN CHỦ  
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM DÂN CHỦ CỦA  
V.I.LÊNIN  
1.1.1. Quan điểm về dân chủ thời kỳ trƣớc C.Mác và  
Ph.Ăngghen  
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, con người đã biết “cử ra  
và phế bỏ người đứng đầu” là do quyền và sức lực của người dân,  
nghĩa là dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.Thời kỳ Hy Lạp cổ  
đại, khi bắt đầu có ngôn ngữ, chữ viết, con người đã biết cách diễn  
đạt nội dung dân chủ. Người La Mã cổ đại cũng biết đến dân chủ, khi  
các nhà tư tưởng chính trị La Mã cho rằng quyền lực chính trị xuất  
phát từ sự đồng thuận của dân chúng, con người có những quyền tự  
nhiên mà tất cả chính quyền đều phải tôn trọng. Mãi đến thời kỳ phục  
hưng vào thế kỷ thứ XV, Châu Âu xuất hiện những nhà tư tưởng lớn,  
việc cải cách thể chế lại được thúc đẩy. Đặc biệt, đến thời kỳ khai  
sáng ở Châu Âu, thế kỷ thứ XVIII - XIX, những tư tưởng thực sự dân  
chủ mới lại xuất hiện, nhất là cống hiến của các triết gia người Pháp.  
Bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản, quan niệm về dân chủ với những  
khái niệm “nhân quyền” “dân chủ”, “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”,...  
những nội dung này mới được thể hiện trong đời sống hiện thực; đó  
là nền dân chủ tư sản.  
1.1.2. Quan điểm về dân chủ thời kỳ C.Mác và  
Ph.Ăngghen  
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Ph.Ăngghen hiểu khái  
niệm dân chủ trước hết với tính cách là một khái niệm chính trị,  
dùng để chỉ chế độ nhà nước.  
Ph.Ăngghen không thừa nhận chế độ thị tộc là một thể chế  
8
dân chủ vì đó chưa phải là một chế độ chính trị. Tự do, bình đẳng,  
bác ái, tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là  
những nguyên tắc cơ bản của thị tộc”. Ông gọi đây là nền “Dân  
chủ quân sự”.  
Theo C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ có nền dân chủ mới, dân chủ vô  
sản, mới làm cho nhân dân lao động thực sự làm chủ xã hội và làm  
chủ vận mệnh của mình, kiểu mẫu của dân chủ vô sản chính là Công  
xã Pari, một hình thức tổ chức nhà nước do những người cộng sản  
lãnh đạo - một nhà nước của dân, do dân và vì dân.  
Tuy không phải là những người đầu tiên bàn về dân chủ và  
nêu lên ước vọng về một xã hội dân chủ nhưng C.Mác và Ph.  
Ăngghen, lần đầu tiên chỉ ra bản chất giai cấp của dân chủ, làm rõ  
những đóng góp và hạn chế của dân chủ tư sản, từ đó tìm ra con  
đường để xây dựng một nền dân chủ mới - dân chủ vô sản.  
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN ĐIỂM CỦA  
V.I.LÊNIN VỀ DÂN CHỦ  
1.2.1. Dân chủ và chế độ dân chủ  
Trong Mười đề cương về chính quyền Xôviết, V.I.Lênin coi  
dân chủ là tự do. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Dân chủ là tự do, là bình  
đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì cao hơn tự do, bình đẳng,  
quyết định của đa số nữa”.  
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin nhiều  
lần khẳng định rằng “chế độ dân chủ” là một hình thức nhà nước,  
một trong những hình thái của nhà nước. Chế độ dân chủ cũng là  
nhà nước, do đó nhà nước mà mất đi thì chế độ dân chủ cũng mất  
theo.  
Những giá trị dân chủ, theo V.I. Lênin, cần được giai cấp công  
nhân vận dụng để thực hiện sứ mệnh của mình, mà trước hết là để  
xây dựng một chính đảng của giai cấp công nhân.  
9
1.2.2. Bản chất giai cấp của vấn đề dân chủ  
Dân chủ là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp khi xã hội  
xuất hiện giai cấp và quan hệ giai cấp. Dân chủ luôn mang tính giai  
cấp và chịu sự chi phối của giai cấp cầm quyền. Về thực chất, dân  
chủ với tư cách là quyền lực của nhân dân thì các thành quả của dân  
chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn trong quá trình giải phóng  
con người. Theo V.I.Lênin, chế độ dân chủ được coi như là một hình  
thức nhà nước đã mang bản chất giai cấp, vì thế không thể tách rời  
vấn đề nhà nước với vấn đề giai cấp. Dân chủ với tư cách là chế độ  
nhà nước gắn trực tiếp với một giai cấp cầm quyền nhất định dựa  
trên một quan hệ sản xuất thống trị thì dân chủ bao giờ cũng mang  
tính giai cấp, không bao giờ có thứ dân chủ thuần túy cho mọi giai  
cấp. Tính giai cấp của dân chủ được phản ánh trong các quan hệ giai  
cấp và đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề đặt ra là dân chủ  
cho giai cấp nào, tầng lớp nào, hạn chế dân chủ và chuyên chính với  
ai. Mỗi giai cấp giải thích về dân chủ, cả về phương diện lý thuyết và  
thực tế với các cách thức và mức độ khác nhau, tuỳ lập trường, quan  
điểm và lợi ích của giai cấp mình.  
1.2.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ  
V.I. Lênin trình đã trình bày nội dung của nguyên tắc tập trung  
dân chủ như sau:  
Tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân tổ chức cơ bản của  
Đảng, Tất cả các cơ quan cấp trên đều thực sự được bầu ra, có trách  
nhiệm báo cáo công tác và có thể bị bãi miễn. Tổ chức đảng là tổ  
chức của những công nhân dân chủ - xã hội giác ngộ và sinh hoạt độc  
lập. Phải thực hiện bằng được chế độ tự trị của mọi tổ chức đảng;  
Cần xóa bỏ và xóa bỏ bằng được sự tranh giành địa bàn, sự lo sợ  
“phái” khác; Thống nhất về tổ chức, đồng thời có sự đấu tranh thuần  
túy về tư tưởng giữa các trào lưu tư tưởng dân chủ - xã hội khác nhau  
trong nội bộ các tổ chức đảng; Xác định rõ rệt nguyên nhân tranh  
10  
luận giữa các trào lưu tư tưởng trong đảng là điều kiện cần thiết để  
phát triển đảng một cách lành mạnh, để giáo dục giai cấp công nhân  
và tránh được sự sai lầm về đường lối. …Thực hiện nguyên tắc tập  
trung dân chủ, theo V.I.Lênin, trong Đảng cần phải thực hiện kỷ luật  
chặt chẽ, thống nhất; thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số,  
cấp dưới phục tùng cấp trên; tổ chức các cấp và toàn thể đảng viên  
của Đảng phải chấp hành nghị quyết đại hội đại biểu của Đảng, phục  
tùng sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương.  
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của V.I.Lênin, nguyên  
tắc tập trung dân chủ không chỉ là phương pháp và tác phong công  
tác của chính đảng vô sản cầm quyền, mà trước hết và trên hết, nó  
chính là chế độ tổ chức và nguyên tắc tổ chức của đảng.  
1.2.4. Sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và chủ nghĩa  
xã hội  
V.I.Lênin đã phân tích, làm rõ quan điểm về sự thống nhất  
biện chứng giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nói: “Không  
có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo  
hai nghĩa sau đây:  
Thứ nhất: giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc  
cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc  
cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ.  
Thứ hai: chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng  
lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà  
nước, nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ.”  
V.I.Lênin đòi hỏi những người cộng sản phải phân biệt sự khác  
nhau về nguyên tắc giữa hai giai đoạn đấu tranh vì dân chủ và chủ  
nghĩa xã hội, mặc dù giữa chúng có sự giao kết với nhau. Theo  
Lênin, giai cấp vô sản không thể đạt tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội  
nếu không thực hiện hoàn toàn và triệt để chế độ dân chủ, nếu không  
đem những yêu sách dân chủ được đề ra một cách kiên quyết nhất  
gắn liền với từng giai đoạn đấu tranh cách mạng.  
11  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1  
Tư tưởng về dân chủ của V.I.Lênin là di sản vô giá cho các  
Đảng Cộng sản trong quá trình xây dựng tổ chức Đảng, xây dựng  
nền dân chủ vô sản và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các chỉ dẫn của  
V.I.Lênin về vấn đề dân chủ là thế giới quan và phương pháp luận  
chỉ đạo hoạt động thực tiễn xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  
và dân chủ cơ sở ở nước ta hiện nay. Từ sự phân tích các quan điểm  
của V.I.Lênin về dân chủ nêu trên, chúng ta thấy rằng dân chủ xã hội  
chủ nghĩa là bước phát triển cao nhất trong sự phát triển của dân chủ,  
là thành quả của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng  
xã hội chủ nghĩa, ở đó có sự kết tinh toàn bộ những giá trị dân chủ đã  
đạt được trong lịch sử làm cho dân chủ trở thành một giá trị phổ biến  
thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.  
12  
CHƢƠNG 2  
THỰCTRẠNGTHỰCHIỆNDÂNCHỦ ỞVIỆTNAMHIỆNNAY  
2.1. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG XÂY DỰNG NỀN DÂN  
CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
2.1.1. Nhân tố chủ quan  
Truyền thống đặt “tình cao hơn lý” là một nhân tố ảnh hưởng  
đến quá trình dân chủ ở nước ta hiện nay. Với tư cách là những người  
lao động, dân ta chưa quen sống trong những thiết chế dân chủ, nơi  
quan hệ họ hàng - làng xóm, nơi các tập tục cũ vẫn chi phối cuộc  
sống. Một thời kỳ dài xã hội nước ta nằm trong trong cơ chế tập trung  
quan liêu bao cấp, điều đó làm cho dân chủ xã hội chủ nghĩa lại biến  
dạng, không được quan tâm. Khi chúng ta bước vào xây dựng, phát  
triển nền kinh tế thì định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội  
nhiều hiện tượng tiêu cực, tệ nạn và tội phạm phát triển. Tất cả  
tình hình đó trở thành vật cản lớn cho quá trình dân chủ hóa đời  
sống xã hội nước ta, đòi hỏi chúng ta phải khắc phục, đấu tranh để  
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.  
2.1.2. Nhân tố khách quan  
Sự phân hóa xã hội diễn ra khá nhanh chóng, phổ biến và sâu  
sắc. Trình độ dân trí cũng có sự phân hóa, có nhiều người học cao,  
nhưng lại rất thiếu văn hóa, có người bằng cấp cao nhưng lại thiếu tri  
thức. Cơ chế thị trường đề cao giá trị của đồng tiền. Các tệ nạn xã hội  
gia tăng. Sự tác động, ảnh hưởng của các trào lưu dân chủ khác nhau.  
Dân chủ cực đoan đề cao quá mức tự do cá nhân, dẫn tới tự do vô  
chính phủ, vượt ra ngoài khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.  
13  
2.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NƢỚC TA HIỆN  
NAY  
2.2.1. Thành tựu  
- Dân chủ trong Chính trị  
Hệ thống chính trị được đổi mới theo hướng dân chủ, pháp  
quyền của dân, do dân và vì dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì  
nhân dân. Công tác lập pháp của Quốc hội đã đi vào nề nếp, chức  
năng của Quốc Hội ngày càng được đổi mới phù hợp hơn. Đã cải  
cách một bước nền hành chính quốc gia trên cả bốn phương diện: thể  
chế hành chính, tổ chức bộ máy, cán bộ công chức và tài chính công.  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã từng  
bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Các hình thức  
thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện) từng bước  
được hoàn thiện. Quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân  
chủ ở xã, phường, thị trấn đã thâm nhập sâu rộng vào mọi tầng lớp  
nhân dân.  
- Dân chủ trong kinh tế  
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày  
càng đầy đủ, tạo ra môi trường kinh tế, pháp lý thuận lợi. Nhà nước  
đã ban hành Hiến pháp và nhiều đạo luật về kinh tế để tạo hành lang  
pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế và cho hoạt động sản xuất,  
kinh doanh. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thừa  
nhận, tôn trọng nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu,  
nhiều hình thức phân phối. Người dân cũng có quyền tham gia các  
chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà  
nước. Người lao động có quyền được hưởng thụ một cách bình đẳng  
những thành quả kinh tế của đất nước. Quá trình dân chủ hóa đời  
14  
sống kinh tế đã nhanh chóng đưa nền kinh tế của đất nước thoát khỏi  
tình trạng trì trệ, khủng hoảng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt;  
sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng lên, tạo ra thế và lực mới cho  
đất nước tiếp tục phát triển.  
- Dân chủ trong Văn hóa - xã hội  
Nhà nước bảo đảm cho nhân dân các quyền cơ bản, như quyền  
được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự  
do sáng tạo... Hệ thống chính sách pháp luật ngày càng được hoàn  
thiện. Công tác giảm nghèo ngày càng được quan tâm, chú trọng.  
Nhân dân có quyền thảo luận và giám sát các dự án về an sinh xã hội,  
về xóa đói, giảm nghèo, về hỗ trợ do thiên tai. Quyền tự do sáng tạo,  
truyền bá, văn hóa, văn học, nghệ thuật được tôn trọng. Quyền tự do  
tín ngương, tôn giáo và sinh hoạt tâm linh của người dân được pháp  
luật bảo vệ và được tôn trọng.  
2.2.2. Hạn chế  
- Dân chủ về chính trị  
Vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, chưa thực sự trở thành  
biểu tượng và động lực mạnh mẽ định hướng và thúc đẩy phát triển  
dân chủ trong xã hội. Còn mất dân chủ trong Đảng. Dân chủ không đi  
đôi với kỷ luật, kỷ cương, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít;  
chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước không nghiêm.  
Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và tổ chức đảng, chính  
quyền chưa được quy định rõ, thực hiện chưa nghiêm, dẫn đến tình  
trạng “tranh công đổ lỗi”, thành tích thì cá nhân nhận, khuyết điểm  
thì do tập thể. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền còn những bất  
cập, chưa đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc cơ bản. Cải cách hành  
chính chưa đạt yêu cầu đề ra, thủ tục hành chính còn gây phiền hà  
cho xã hội và công dân. Tình trạng quan liêu, tiêu cực của bộ máy  
hành chính làm cho việc dân chủ hóa quản lý các quá trình kinh tế -  
15  
xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa nhanh, nhạy,  
hiệu quả không cao. Quyền làm chủ nhân dân ở một số nơi, một số  
lĩnh vực vẫn còn bị vi phạm. Nguyên tắc “Đảng lãnh đạo – Nhà nước  
quản lý – nhân dân làm chủ” chưa được thể chế hóa cụ thể và rành  
mạch thành cơ chế đồng bộ để nhân dân thực sự là chủ và làm chủ.  
- Dân chủ về kinh tế  
Còn bất bình đẳng trong đối xử với các chủ thể kinh tế, các  
thành phần kinh tế về thuế, vay vốn, lãi suất cho vay, về thủ tục xuất  
nhập khẩu.Thể chế kinh tế thị trường gồm cả hệ thống pháp luật và  
các chính sách của Nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhất quán. Việc  
triển khai, thực thi đường lối, chính sách kinh tế có biểu hiện thiếu  
dân chủ. Việc đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà  
nước và kinh tế tập thể còn nhiều hạn chế. Tình trạng quan liêu, quản  
lý lỏng lẻo, gây thất thoát, lãng phí chưa được xử lý nghiêm. Trong  
xã hội xuất hiện không ít người giàu lên bằng con đường làm ăn phi  
pháp. Hiện tượng lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, lãng phí  
vẫn là vấn đề nhức nhối.  
- Dân chủ về văn hoá - xã hội  
Những vấn đề bức xúc về văn hóa – xã hội vẫn chưa được giải  
quyết triệt để, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội còn nhiều hạn chế;  
tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội, tai nạn xã hội, tội phạm xã hội có chiều  
hướng gia tăng. Công tác giảm nghèo còn thiếu bền vững. Một số  
bức xúc xã hội chậm được giải quyết. Một số vấn đề mới nảy sinh  
liên quan đến giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đất đai,...chưa có giải pháp  
khắc phục hiệu quả. Xuất hiện nhiều điểm nóng, tình trạng khiếu kiện  
đông người vẫn thường xuyên xảy ra.  
Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi con nghèo nàn, đơn  
điệu; sự chênh lệch về hạ tầng văn hóa, thiết chế văn hóa giữa miền  
núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với đô thị chậm được rút ngắn. Điều  
kiện sáng tạo, hoạt động và thụ hửng văn hóa của đồng bào dân tộc  
16  
thiểu số, của nông dân, công nhân...còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.  
Công tác quản lý báo chí, xuất bản còn nhiều bất cập. Giáo dục - đào  
tạo, khoa học – công nghệ đổi mới còn chậm; các biểu hiện “bệnh  
thành tích”, hình thức... chưa được khắc phục.  
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
Thứ nhất, việc thực hiện dân chủ về kinh tế phải được bảo đảm  
về thực chất để các thành phần kinh tế và được bình đẳng trước pháp  
luật.  
Thứ hai, làm thế nào để trong tiến trình phát triển, quyền làm  
chủ về kinh tế của người lao động được bảo đảm trên thực tế? là một  
thách thức  
Thứ ba, tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa về thu  
nhập... cũng là một thách thức lớn.  
Thứ tư, tình trạng quan liêu, xa dân, tham ô, tham nhũng, lãng  
phí vẫn còn là vấn nạn và ngày càng nghiêm trọng.  
Thứ năm, làm thế nào để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức  
chính trị - xã hội của nhân dân có vị trí độc lập, tự chủ nhất định, có  
cơ chế để giám sát, phản biện tất cả các vấn đề đối với Đảng, Nhà  
nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.  
Thứ sáu, kịp thời phê phán, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại  
những âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đây  
cũng là thách thức lâu dài không thể xem thường trong tiến trình xây  
dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.  
Thứ bảy, thực hiện và phát huy dân chủ trong tổ chức, sinh  
hoạt Đảng, để Đảng thực sự trở thành đầu tàu của dân chủ chính là  
nhiệm vụ, thử thách lớn hiện nay.  
17  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2  
Tóm lại, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân. Đây là một  
dạng quyền lực đặc biệt trong một xã hội dân chủ, là sự khẳng định  
nhân dân là chủ thể của quyền lực và tất cả quyền lực trong xã hội  
đều thuộc về nhân dân.  
Xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là sự nghiệp to lớn, lâu dài.  
Hơn 30 năm qua, mặc dù còn không ít hạn chế, khuyết điểm nhưng  
những thành tựu của việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ  
nghĩa là to lớn, quan trọng. Điều đó khẳng định giá trị và sức sống  
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và di  
sản lý luận dân chủ của V.I.Lênin nói riêng.  
18  
CHƢƠNG 3  
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DÂN CHỦ CỦA V.I.LÊNIN  
NHẰM THỰCHIỆNDÂNCHỦỞ NƢỚC TAHIỆN NAY  
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG  
3.1.1.Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm  
tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân  
Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các  
lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả  
các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích,  
cuộc sống của nhân dân”.  
Để phát huy dân chủ trong Đảng, một nhiệm vụ quan trọng là  
thực hiện việc giám sát trong Đảng, nhất là giám sát đảng viên giữ  
các chức trách quan trọng trong Đảng và Nhà nước.  
3.1.2 Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vận  
động nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nƣớc  
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”  
Không ngừng mở rộng các hình thức dân chủ đại diện, dân chủ  
trực tiếp; thực hiện tốt pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở trên tất cả  
các lĩnh vực đời sống xã hội. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân  
dân và các hội quần chúng không ngừng đổi mới nội dung, phương  
thức và nâng cao chất lượng hoạt động. Coi trọng công tác dân vận  
gắn chặt với công tác xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền nhà  
nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân.  
3.1.3. Nâng cao đời sống mọi mặt, đảm bảo ngày một tốt  
hơn quyền làm chủ của nhân dân lao động  
Khuyến khích quần chúng nhân dân ý thức được trách nhiệm  
của mình, tự chủ, tự do sáng tạo tìm kiếm lợi ích, nhằm nâng cao đời  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 15580 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ với việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_diem_cua_v_i_lenin_ve_dan_chu_voi_viec.pdf