Tóm tắt Luận văn Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong xã hội truyền thống, Nho giáo đã ảnh hưởng rất lớn  
đến tư tưởng của người Việt Nam, nhất là tư tưởng trọng nam khinh  
nữ. Để thực sự giải phóng phụ nữ, cần có sự chuyển biến sâu sắc về  
nhận thức trong xã hội để thay đổi tư tưởng thành kiến đối với phụ  
nữ. Cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ trước hết là cuộc cách mạng  
về tư tưởng, nhận thức, đấu tranh chống lại các quan niệm lạc hậu về  
vai trò của phụ nữ trong xã hội.  
Khi nói đến vai trò, vị trí và đóng góp của nam giới và phụ  
nữ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều  
lần khẳng định nam giới và phụ nữ đều có vai trò, vị trí quan trọng,  
có nhiều đóng góp to lớn góp phần quan trọng vào quá trình xây  
dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng  
định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già,  
ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ”.  
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam cần  
phải được bình đẳng với nam giới trong tất cả các quan hệ xã hội. Sự  
nghiệp đấu tranh để giải phóng phụ nữ Việt Nam gắn liền với sự  
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.  
Phụ nữ Việt Nam chỉ thực sự được giải phóng, được bình đẳng, tự  
do, ấm no, hạnh phúc sau khi tiến hành thành công cuộc cách mạng  
giải phóng dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.  
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới đã được Đảng,  
Nhà nước ta vận dụng một cách toàn diện vào công cuộc đổi mới đất  
nước. Gần 85 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ thị,  
Nghị quyết, đề ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo công tác  
2
vận động phụ nữ, chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều  
thế hệ cán bộ, lãnh đạo nữ.  
Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm 50,8% dân số và 48%  
lực lượng lao động xã hội. Phụ nữ nước ta trước đây đã có những  
đóng góp hết sức to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm  
giành và giữ gìn độc lập, xây dựng Tổ quốc. Trong sự nghiệp đổi mới  
hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn sát cánh cùng nam giới phấn  
đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn  
minh" và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực xóa đói giảm  
nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như những cống hiến  
xuất sắc trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dưỡng các thế hệ  
công dân tương lai của đất nước.  
Tuy nhiên, trong xã hội ta hiện nay, tư tưởng trọng nam  
khinh nữ và những quan niệm, phong tục tập quán lạc hậu gắn với tư  
tưởng đó chưa phải đã bị xóa bỏ. Định kiến về giới còn tồn tại dai  
dẳng trong nhận thức chung của xã hội do ảnh hưởng tư tưởng Nho  
giáo và tập tục phong kiến lạc hậu từ lâu đời. Khoảng cách về sự bất  
bình đẳng giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại khá lớn, nhiều chị em vẫn  
bị đối xử bất công so với nam giới. Vai trò của người phụ nữ trong  
gia đình và ngoài xã hội vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá cao. Bên  
cạnh đó, một bộ phận chị em vẫn còn tư tưởng tự ti, an phận thủ  
thường. Điều này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.  
Trong những năm qua, việc thực hiện bình đẳng giới ở thành  
phố Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thực  
hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.  
Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và xã hội về bình đẳng  
giới ngày càng được nâng lên. Công tác lồng ghép giới vào chương  
trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và nhiệm vụ  
3
chính trị của các cơ quan, đơn vị ngày càng được đẩy mạnh. Công tác  
cán bộ nữ ngày càng được quan tâm để phấn đấu đến năm 2020, cán  
bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu Quốc  
hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt 35-40%, các cơ quan, đơn vị  
có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.  
Tuy nhiên, thực chất việc thực hiện bình đẳng giới, thúc đẩy,  
tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã  
hội đặc biệt là lĩnh vực chính trị để tương xứng với vai trò, vị trí của  
phụ nữ trong thời gian qua ở thành phố Đà Nẵng vẫn chưa đạt được  
so với mục tiêu đề ra, thậm chí có khi còn có xu hướng giảm. Từ thực  
tế trên, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện bình  
đẳng giới nhằm tìm ra những hạn chế, từ đó đề xuất những giải pháp  
để nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ  
nữ có cơ hội phát triển, khẳng định vai trò, vị thế của mình trong xã  
hội, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
đất nước là việc làm rất cần thiết.  
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, bản thân chọn đề tài “Tư  
tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng  
giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu  
Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, luận  
văn phân tích thực trạng thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà  
Nẵng và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả việc thực  
hiện bình đẳng giới ở Đà Nẵng hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ  
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:  
- Thứ nhất, phân tích tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giải  
4
phóng phụ nữ và bình đẳng giới.  
- Thứ hai, phân tích thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới  
ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua.  
- Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp để góp  
phần giải quyết có hiệu quả công tác thực hiện bình đẳng giới ở thành  
phố Đà Nẵng hiện nay.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu  
Tập trung vào đối tượng phụ nữ là cán bộ, công chức, viên  
chức trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp thành phố ở  
thành phố Đà Nẵng.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải  
phóng phụ nữ và vận dụng tư tưởng đó vào việc thực hiện bình đẳng  
giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
4.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu  
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm tư tưởng Hồ  
Chí Minh về phụ nữ và giải phóng phụ nữ.  
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống hóa, phân  
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh.  
- Nguồn số liệu thống kê cập nhật đến năm 2014.  
5. Bố cục đề tài  
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham  
khảo, Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.  
Chương 1: Bình đẳng giới – một bộ phận hợp thành trong tư  
tưởng của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ  
5
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới ở thành  
phố Đà Nẵng  
Chương 3: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng  
phụ nữ vào việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết  
các quốc gia trên thế giới trong những thập kỷ qua, là chủ đề thu hút sự  
quan tâm của nhiều tầng lớp, nhiều giới và nhà nghiên cứu ở Việt Nam  
cũng như trên thế giới. Trong đó, phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý là  
một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và đo lường về sự  
tiến bộ xã hội và bình đẳng giới. Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn  
trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và sự tham gia của cán  
bộ nữ vào công tác lãnh đạo, quản lý ở các cấp nói riêng. Luật Bình  
đẳng giới năm 2006 đã quy định các biện pháp cụ thể để thúc đẩy  
bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Điều 5).  
Từ góc độ lãnh đạo của Đảng, chỉ tính từ thời kỳ đổi mới đến  
nay, đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về công tác cán bộ nữ được ban  
hành như Chỉ thị số 44-CT/TW năm 1984; Chỉ thị số 37-CT/TW năm  
1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Nghị  
quyết số 11-NQ/TW của BCT ngày 27/4/2007 về công tác PN thời  
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chính phủ đã ban hành Chương  
trình hành động giai đoạn đến 2020 nhằm thực hiện Nghị quyết số  
11/NQ-TW của BCT; Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 của  
BBT về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của  
BCT khóa X.  
Dưới góc độ của các công trình nghiên cứu, trong thời gian  
qua đã có những nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ tiếp  
cận khác nhau:  
6
+ Nghiên cứu của GS Lê Thi “Vài nét bàn về việc thực thi  
công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay”, đề  
tài nghiên cứu Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng  
chứng của TS Võ Thị Mai đã hệ thống hóa, phân tích những vấn đề  
lý luận, cách tiếp cận nghiên cứu chính sách về bình đẳng giới, đánh  
giá về việc thực thi công bằng, dân chủ gắn với vấn đề bình đẳng  
nam nữ ở nước ta hiện nay, qua đó nâng cao vai trò trách nhiệm của  
cá nhân, trách nhiệm của Nhà nước.  
+ Bài viết Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng  
nam nữ ở nước ta của tác giả Võ Thị Hồng Loan, Đặng Ánh Tuyết;  
bài viết Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam tích cực tham  
gia xây dựng, phát triển đất nước của tác giả Nguyễn Thị Thanh  
Hòa; bài viết Bình đẳng giới và công tác phụ nữ ở Việt Nam hiện nay  
của tác giả Nguyễn Kim Quý đã phân tích, đánh giá nguyên nhân dẫn  
đến bất bình đẳng nam nữ, đánh giá những thành tựu đạt được về  
bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trong thời gian qua, đồng thời  
đưa ra những giải pháp kiến nghị với Đảng, Nhà nước tăng cường  
lãnh đạo để thực hiện hiệu quả công tác phụ nữ.  
Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Bích Tuyền với đề tài “Sự tham  
gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay”  
đã chỉ ra được 3 yếu tố cản trở phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý. Đó  
là việc thực thi chính sách về bình đẳng giới còn hạn chế, vẫn còn  
định kiến khắt khe đối với phụ nữ và bản thân nữ cán bộ vẫn còn  
chưa tự tin khi tham gia lãnh đạo, quản lý. Trên cơ sở phân tích các  
yếu tố cản trở, tác giả đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm làm  
hạn chế những yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo,  
quản lý ở tỉnh Đồng Tháp.  
7
Đối với thành phố Đà Nẵng, từ trước đến nay, thành phố  
cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lao  
động, việc làm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, gia đình như: “Một số  
giải pháp ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình đối với người phụ  
nữ ở thành phố Đà Nẵng”; “Định hướng nghề nghiệp cho phụ nữ  
trong độ tuổi từ 18- 35 ở vùng di dời giải tỏa”, “Khảo sát thực trạng  
Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn thành  
phố”, “Khảo sát nhận thức của xã hội về Bình đẳng giới trong đội  
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã, phường”; “Khảo sát thực trạng  
bình đẳng giới trong gia đình”.  
Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã có những liên  
quan nhất định đến đề tài luận văn, nhưng đều chưa nghiên cứu một  
cách hệ thống cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để đề ra các giải pháp  
khả thi thực hiện bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy phụ  
nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở thành phố Đà Nẵng.  
Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc  
thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” là công  
trình khoa học độc lập, có tham khảo nhưng không tr ng lắp với các  
công trình nghiên cứu trên, đề tài nghiên cứu tương đối có hệ thống  
cơ sở lý luận về bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực hiện bình  
đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp nhằm giải  
quyết có hiệu quả hoạt động bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng  
hiện nay.  
8
CHƢƠNG 1  
BÌNH ĐẲNG GIỚI – MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH TRONG  
TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ  
1.1. TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ  
NỮ - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CẤU TRÚC  
1.1.1. Các khái niệm, công cụ liên quan đến giải phóng  
phụ nữ và bình đẳng giới  
a. Khái niệm về giải phóng phụ nữ  
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, giải phóng phụ nữ là  
làm cho người phụ nữ được tự do, được thoát khỏi địa vị nô lệ, thoát  
khỏi tình trạng bị áp bức và tình trạng bất bình đẳng với nam giới về  
mặt kinh tế - xã hội.  
b. Bình đẳng giới  
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,  
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát  
triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành  
quả của sự phát triển đó.  
c. Định kiến giới, phân biệt đối xử về giới  
- Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch,  
tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.  
- Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không  
công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ.  
d. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới  
Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và  
gia đình. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới. Chính sách bảo  
vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Bảo  
9
đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp  
luật. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,  
gia đình, cá nhân.  
e. Mục tiêu bình đẳng giới  
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới,  
tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội  
và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa  
nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác.  
1.1.2. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải  
phóng phụ nữ  
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những  
quan điểm về đường lối cách mạng và sự chuẩn mực về tính cách  
Việt Nam trong thời đại mới: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,  
giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ  
nhiều nguồn gốc, trong đó có truyền thống văn hóa phương Đông và  
văn hóa Việt Nam. Một trong những tư tưởng đó là tư tưởng về giải  
phóng phụ nữ và bình đẳng nam - nữ.  
Từ tìm hiểu cuộc sống phụ nữ khắp năm châu Chủ tịch Hồ  
Chí Minh rút ra kết luận: Không chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi  
những hành động bạo ngược của thực dân. Nhận thức đúng nguyên  
nhân dẫn đến tình trạng áp bức, bóc lột, bất công mà những người  
phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu, với sự xót xa, đồng cảm, tình yêu  
thương, quý trọng con người, trong hành trình tìm đường cứu nước  
của mình, Người cũng đã nghiên cứu tìm ra con đường giải phóng  
phụ nữ Việt Nam.  
Hồ Chí Minh cho rằng: chỉ có con đường duy nhất là làm  
cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này muốn giành thắng lợi phải  
có phụ nữ tham gia, cách mạng mới thành công. Người luôn xác  
10  
định, để giải phóng con người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói  
riêng, trước tiên phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, lật đổ  
chế độ thuộc địa nửa phong kiến và thiết lập chế độ dân chủ nhân  
dân. Sau đó, là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây  
dựng chủ nghĩa xã hội.  
1.2. NỘI DUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TƢ TƢỞNG  
GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ CỦA HỒ CHÍ MINH  
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ  
a. Giải phóng về chính trị  
Giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng về chính trị. Giải  
phóng phụ nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Bởi vì nước  
mất, nhà tan, phụ nữ là người bị đọa đày đau khổ nhất. Nước có độc  
lập thì dân mới có tự do.  
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn liền với sự nghiệp giải  
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Dân tộc không được giải phóng,  
giai cấp không được giải phóng thì phụ nữ không thể được giải phóng.  
Song, phụ nữ không được giải phóng, không được tham gia làm chủ xã  
hội thì dân tộc cũng như giai cấp chưa thực sự được giải phóng.  
b. Giải phóng về xã hội  
Vấn đề phụ nữ và bình đẳng nam - nữ được Chủ tịch Hồ Chí  
Minh quan tâm từ rất sớm. Ngay từ năm 1923 khi bàn về vấn đề phụ  
nữ Hồ Chí Minh cho rằng: Vấn đề phụ nữ thực chất là đảm bảo và  
thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội cho phụ nữ.  
Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công  
việc xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ là vấn đề  
cơ bản nhất trong các vấn đề của phụ nữ và quyền bình đẳng giữa nam  
và nữ là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này.  
11  
c. Giải phóng tâm lý con người  
Giải phóng tâm lý tự ti, đầu óc phụ thuộc bởi thân phận  
người phụ nữ trong chế độ cũ, phát huy phẩm chất truyền thống tốt  
đẹp của phụ nữ Việt Nam trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải  
phóng tư tưởng, giải phóng năng lực của phân nửa xã hội để người  
phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm  
chủ xã hội.  
1.2.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới  
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, vấn  
đề giải phóng con người khỏi sự áp bức bất công, bảo đảm cho phụ  
nữ được quyền bình đẳng với nam giới là vấn đề được Hồ Chí Minh  
đặc biệt quan tâm.  
Khi nói đến vai trò, vị trí và đóng góp của nam giới và phụ  
nữ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng  
định nam giới và phụ nữ đều có vai trò, vị trí quan trọng; nam giới và  
nữ giới đều có sự đóng góp quan trọng trong việc duy trì, xây dựng  
đời sống gia đình, tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần quan  
trọng vào quá trình xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước. Theo quan  
điểm của Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam phải được bình đẳng với  
nam giới trong tất cả các quan hệ xã hội.  
12  
CHƢƠNG 2  
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN  
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ  
NẴNG  
2.1.1. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện bình  
đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng  
a. Về đặc điểm dân cư  
Thành phố Đà Nẵng có diện tích 1.285,43 km2 với 6 quận có  
45 phường và 2 huyện có 11 xã với 992.849 nhân khẩu cư trú. Mật  
độ dân số Đà Nẵng là 772 người/km2.  
b. Về kinh tế - xã hội  
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Đà Nẵng từ 1997  
- 2011 đạt 10,62%, nhất là giai đoạn 2001-2010 đạt gần  
11,96%/năm (bình quân cả nước là 7,07%/năm).  
2.1.2. Đặc điểm tình hình phụ nữ thành phố Đà Nẵng  
a. Tình hình phụ nữ thành phố Đà Nẵng  
Ở thành phố Đà Nẵng, phụ nữ chiếm khoảng 51% dân số  
toàn thành phố, trong đó có 66% trong độ tuổi lao động. Các tầng lớp  
phụ nữ thành phố đã mạnh dạn tìm tòi, sáng tạo, ứng dụng khoa học  
công nghệ, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc, tạo ra những sản  
phẩm có giá trị kinh tế cao, vừa tăng thu nhập cho gia đình, vừa tiết  
kiệm chi phí cho nhà nước.  
Dù ở lĩnh vực nào – chị em cũng có nhiều cố gắngvà khẳng  
định vai trò, vị thế bằng chính trình độ chuyên môn, năng lực thực  
tiễn của mình. Không những thế, chị em còn tham gia có hiệu quả  
vào giải quyết việc làm cho lao động của thành phố, nhất là lao động  
13  
nữ, góp phần tích cực đưa mức tăng trưởng GDP của thành phố hàng  
năm tăng bình quân 11%.  
* Những hạn chế  
Trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của một bộ phận  
phụ nữ còn thấp; một số phụ nữ vẫn còn tư tưởng tự ti, an phận.  
Tỉ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý chưa tương xứng  
với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ thành phố.  
Một bộ phận phụ nữ có xu hướng lối sống thực dụng; xem  
nhẹ phẩm chất đạo đức và giá trị truyền thống tốt đẹp của người phụ  
nữ Việt Nam.  
b. Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế  
* Nguyên nhân kết quả  
Bản thân chị em phụ nữ đã có nhiều cố gắng để nâng cao  
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, biết sắp xếp công việc một cách  
khoa học.  
Sự chủ động, quan tâm, tin tưởng của các cấp ủy Đảng trong  
tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ được học tập, phát triển về mọi mặt.  
Có sự ủng hộ, hỗ trợ tích cực từ gia đình.  
* Nguyên nhân hạn chế  
Do ảnh hưởng của quan niệm phong kiến, lạc hậu; tư tưởng  
“trọng nam, khinh nữ”. Các cấp ủy Đảng chưa quan tâm đúng mức  
trong lãnh đạo, chỉ đạo; mặt khác, do rào cản tâm lý, văn hóa truyền  
thống. Trong quá trình đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng  
giao lưu, bị tác động bởi nhiều nền văn hóa khác nhau.  
2.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở  
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
2.2.1. Khái quát về bình đẳng giới ở Việt Nam  
a. Thành tựu đạt được  
14  
Thành tựu nổi bật mà Việt Nam đã đạt được đó là việc hoàn  
thiện khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới. Đảng và Nhà  
nước cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết có liên quan đến giới và  
chính sách về bình đẳng giới.  
Trong các văn kiện chính trị của Đảng cũng thể hiện rõ các  
vấn đề giới và chính sách về bình đẳng giới, như: Văn kiện Đại hội  
đại biểu toàn quốc lần thứ X, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần  
thứ XI của Đảng.  
Cùng song hành với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về  
bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước cũng đã tăng cường bộ máy quản  
lý và hoạt động về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ.  
Sự tham gia tích cực của các bộ, ban, ngành trong triển khai  
đồng bộ các giải pháp,đã góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu  
nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới, nâng cao vị thế của  
phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.  
Phụ nữ được tiếp cận, thụ hưởng bình đẳng với nam giới  
trong các dịch vụ công về y tế, văn hóa, xã hội.  
b. Những thách thức  
Định kiến giới còn tồn tại trong các tầng lớp xã hội và nhóm  
dân cư, vẫn còn quan niệm “trọng nam khinh nữ”.  
Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý lãnh đạo còn thấp, không đồng đều  
ở các lĩnh vực và chưa tương xứng với lực lượng phụ nữ trong xã hội.  
Những khác biệt về giới tính và giới do lịch sử để lại đã hạn  
chế năng lực và sự tham gia chính trị của phụ nữ.  
Phụ nữ luôn bị ảnh hưởng bởi gánh nặng gia đình.  
2.2.2. Bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng  
a. Kết quả đạt được  
* Về công tác tuyên truyền, giáo dục và lãnh đạo, chỉ đạo của  
15  
các cấp ủy Đảng, chính quyền  
Công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục, vận động thực  
hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới được chú trọng,huy  
động được cả hệ thống chính trị của thành phố vào cuộc, nhằm tạo  
bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của toàn xã hội đối với vấn  
đề bình đẳng giới, từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế  
của người phụ nữ trong mỗi gia đình cũng như ở ngoài xã hội.  
* Kết quả đạt được về hoạt động bình đẳng giới trên các lĩnh  
vực  
+ Trong lĩnh vực chính trị: Hằng năm, nhất là trước khi chuẩn  
bị nhân sự bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đại hội  
Đảng các cấp, Ban Thường vụ Thành uỷ đã có chỉ đạo tổ chức đánh  
giá cán bộ, rà soát và bổ sung quy hoạch cán bộ, xem xét cơ cấu, bố trí  
cán bộ nữ ở các ngành và các lĩnh vực, đảm bảo tỷ lệ và chất lượng.  
Nhờ đó, số lượng cán bộ nữ lãnh đạo các cấp đều tăng lên rõ rệt.  
+ Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Đảm bảo bình đẳng  
giới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo được thành phố quan tâm trên  
cả hai phương diện: giáo dục toàn dân và đào tạo nâng cao kiến thức,  
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ nữ.  
+ Trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm: Thực hiện chủ  
trương đa dạng hoá ngành nghề ở cả 03 khu vực: nông - lâm - ngư  
nghiệp, công nghiệp - xây dựng, nhất là khu vực thương mại - dịch  
vụ; ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới về khuyến khích đầu tư,  
phát triển sản xuất, .... Chú trọng việc thực hiện các chính sách an  
sinh xã hội một cách bền vững.  
+ Trong lĩnh vực y tế và gia đình: Quyền bình đẳng của phụ  
nữ trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ có nhiều chuyển biến  
tích cực, nhận thức về chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ được nâng cao,  
16  
số lượng và chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ngày càng  
được cải thiện, có nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.  
b. Những hạn chế  
Công tác tuyên truyền về bình đẳng giới chưa được thực hiện  
thường xuyên, sát với đối tượng. Một số cấp uỷ, ban, ngành, địa  
phương, đơn vị chưa thực sự đầu tư cho công tác tuyên truyền thực  
hiện Luật Bình đẳng giới.  
Nhận thức về vấn đề giới và bình đẳng giới trong hệ thống  
chính trị chưa đầy đủ và sâu sắc.Việc lồng ghép giới trong hoạch  
định chính sách vẫn còn nhiều bất cập, không triệt để.Khoảng cách  
giới trong giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng vẫn còn hiện hữu.  
c. Nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế  
* Nguyên nhân kết quả đạt được  
Thứ nhất, các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố đã quan  
tâm lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên  
truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong cán bộ,  
đảng viên, nhân dân.  
Thứ hai, các Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ  
từ cấp thành phố đến cơ sở đã tham mưu các chính sách có liên quan  
đến sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ.  
Thứ ba, hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách về bình  
đẳng giới được chỉ đạo thực hiện từ trung ương đến địa phương.  
Thứ tư, bản thân người phụ nữ đã có nhiều cố gắng để nâng  
cao năng lực, trình độ chuyên môn; biết sắp xếp hài hòa công việc gia  
đình và xã hội.  
* Nguyên nhân của hạn chế  
Cấp ủy đảng chưa quan tâm chỉ đạo quy hoạch, đào tạo, bồi  
dưỡng tạo nguồn cán bộ, chưa sâu sát trong việc kiểm tra, đôn đốc,  
17  
bố trí cán bộ nữ tham gia lãnh đạo quản lý.  
Cơ chế chính sách tạo nguồn cán bộ chưa nhất quán, chưa có  
hệ thống chính sách cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đề bạt  
tương xứng.  
Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu các chiến lược  
về giới và công tác cán bộ nữ.  
Cơ hội tiếp cận giáo dục của em gái và phụ nữ còn nhiều khó  
khăn và trở ngại so với các em trai và nam giới.  
Sức khỏe của nhiều phụ nữ giảm sút, tỉ lệ trẻ em suy dinh  
dưỡng vẫn còn cao. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, tình  
trạng ngược đãi phụ nữ, bạo lực gia đình vẫn tồn tại.  
Chất lượng lao động nữ còn thấp, vị trí công việc của lao  
động nữ còn khiêm tốn. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt đối  
xử vẫn diễn ra ở nhiều nơi.  
d. Bài học kinh nghiệm  
Thứ nhất, sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền đối  
với vấn đề bình đẳng giới được xem là nhân tố quyết định.  
Thứ hai, cần phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể  
của hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện bình đẳng giới.  
Thứ ba, trong quá trình lãnh đạo, các cấp uỷ đảng, chính  
quyền, ban, ngành, đoàn thể của thành phố đã chọn một số nội dung  
trọng tâm để tập trung triển khai thực hiện, tạo chuyển biến rõ nét  
trong nhận thức và hành động bình đẳng giới.  
Thứ tư, cần lồng ghép vấn đề giới trong hoạch định chính sách,  
nhất là trong mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của  
phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội.  
Thứ năm, các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ đổi mới nội dung,  
phương thức hoạt động phải cụ thể, phù hợp, bám sát với điều kiện  
của từng địa phương, đơn vị.  
18  
CHƢƠNG 3  
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG  
PHỤ NỮ VÀO VIỆC THỰC HIỆNBÌNH ĐẲNG GIỚI  
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
3.1. QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG TRONG VIỆC THỰC  
HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI HIỆN NAY  
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta  
- Thứ nhất, thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự tiến  
bộ của phụ nữ.  
- Thứ hai, phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong  
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh  
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ  
và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.  
- Thứ ba, đảm bảo mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân  
biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát  
triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực.  
- Thứ tư, bảo đảm việc bình đẳng giới toàn diện trên các  
phương diện của đời sống xã hội.  
- Thứ năm, thực hiện tốt chính sách của Nhà nước về bình  
đẳng giới.  
3.1.2. Quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền và Hội Liên  
hiệp phụ nữ thành phố Đà Nẵng  
Thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.  
Triển khai kế hoạch hành động quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ  
của phụ nữ.  
Trang bị kiến thức về pháp luật và các chủ trương, chính sách  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 17260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_giai_phong_phu_nu_v.pdf