Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của thực vật thân gỗ là thức ăn của Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Hiện nay các hoạt động nghiên cứu định lượng ĐDSH còn rất  
hạn chế áp dụng ở Việt Nam, trong khi đó chúng ta lại đang có rất  
nhiều các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững [9]. Việc thực  
hiện bảo tồn ở những nơi có độ ĐDSH cao, phong phú với các qui mô  
phù hợp là điều cần thiết. Và nghiên cứu các chỉ số sinh trưởng và  
phát triển của các loài thực vật thân gỗ thông qua nghiên cứu vật hậu  
học là một hoạt động nghiên cứu thiết thực trong công tác đánh giá  
ĐDSH.  
Khu BTTN Sơn Trà là khu vực có tính ĐDSH cao với số  
lượng động, thực vật phong phú. Là nơi cư trú của quần thể Voọc chà  
vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) loài thuộc danh mục nhóm IB trong  
nghị định 32 NĐ-CP và Sách Đỏ Việt Nam. Nơi sống và nguồn thức  
ăn của chúng chủ yếu là các loài thực vật thân gỗ cao, có nhiều tầng  
tán [1]. Vì vậy nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của các loài  
thực vật này giúp cho công tác bảo tồn loài Voọc càng hiệu quả hơn.  
Gần đây tại khu BTTN Sơn Trà đã có một công trình nghiên  
cứu về các chỉ số ĐDSH. Và đã thu được những kết quả khả quan  
phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH. Tuy nhiên, các  
nghiên cứu về vật hậu học còn rất hạn chế. Xuất phát từ nhận thức và  
thực tiễn đó chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự sinh  
trưởng và phát triển của thực vật thân gỗ là thức ăn của Voọc chà  
vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn  
Trà – thành phố Đà Nẵng”.  
2
2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định thành phần loài thực vật thân gỗ là thức ăn của  
Voọc chà vá chân nâu tại khu vực nghiên cứu.  
- Nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển của thực vật thân gỗ  
thông qua vật hậu học (lá non, hoa, quả) trong sự tương quan với các  
yếu tố môi trường như nhiệt độ, lượng mưa.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: các loài thực vật thân gỗ có đường  
kính thân ≥10 cm là thức ăn của Voọc chà vá chân nâu tại khu vực  
nghiên cứu.  
- Phạm vị nghiên cứu: Bán đảo Sơn Trà – Phường Thọ  
Quang, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng, với tổng diện tích là  
4,370 ha.  
4. Nội dung nghiên cứu  
• Nghiên cứu cấu trúc vật lý sinh cảnh sống của loài Voọc  
chà vá chân nâu.  
• Xác định thành phần loài thực vật thân gỗ có đường kính  
thân ≥10 cm trong vùng sống của Voọc chà vá chân nâu.  
• Nghiên cứu vật hậu học để đánh giá sự sinh trưởng và  
phát triển của thực vật thân gỗ là thức ăn của Vọoc chà vá chân nâu  
(lá non, hoa, quả) tại khu vực nghiên cứu.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài sử dụng phương pháp lập tuyến điều tra khảo sát cấu  
trúc vật lý của sinh cảnh sống của loài chà vá chân nâu. Phương pháp  
tuyến cũng được sử dụng để thu thập mẫu và xác định thành phần các  
loài thực vật tại vùng sống của loài chà vá chân nâu. Để thu thập số  
3
liệu về sinh trưởng và phát triển của của thực vật thân gỗ tại khu vực  
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu hậu vật học đã được áp dụng,  
phương pháp được mô tả bởi Chapman và cộng sự năm 1992. Thống  
kê và xử lý số liệu theo phần mềm Excel 2003, SPSS 11.5; Xây dựng  
bản đồ khu vực nghiên cứu và phân bố của thực vật bằng phần mềm  
Mapinfor 10.5.  
6. Bố cục luận văn  
Gồm có 5 phần chính:  
- Mở đầu  
- Chương 1: Tổng quan tài liệu  
- Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu  
- Chương 3: Kết quả và thảo luận  
- Kết luận và kiến nghị  
4
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ VẬT HẬU HỌC  
Theo Baydoman - 1960 : "Vật hậu học là khoa học nghiên cứu  
về mối quan hệ các hiện tượng mang tính chu kì trong tự nhiên của thế  
giới động vật, thực vật với môi trường (khí hậu, đất, chế độ thủy văn)”.  
Theo Thuật ngữ lâm nghiệp, vật hậu học là khoa học nghiên  
cứu các giai đoạn sinh trưởng, phát triển, các hiện tượng sống của thực  
vật và động vật trong mối liên quan với diễn biến về khí hậu và thời tiết  
hằng năm [16].  
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẬT HỌC HẬU TRÊN THẾ  
GIỚI  
Ở Châu Âu, nhà thực vật học Thụy Điển Carolus Linnaeus  
(1707-1778) được xem là người có đóng góp đầu tiên cho ngành khoa  
học nghiên cứu vật hậu học bởi những bản ghi chép một cách rất hệ  
thống của ông về thời gian ra hoa và những đặc điểm chi tiết về thời tiết  
tại 18 vùng khác nhau tại Thụy Điển trong nhiều năm [36].  
Nghiên cứu vật hậu hiện đại được cho là đã được khởi xướng  
tại châu Âu vào giữa thế kỷ 18. Bắt đầu năm 1736, Robert Marsham  
đã giữ bản ghi chép một cách chi tiết “những thông số của mùa xuân”  
trong khu vườn của gia đình ông ở phía đông vùng Norfolk, nước  
Anh với mục đích cải thiện sản lượng sản xuất gỗ bằng cách tìm hiểu  
chu kỳ thời gian hoạt động của thực vật và động vật. Ông đã quan sát  
thời điểm xuất hiện đầu tiên của lá, hoa và côn trùng. Bản ghi dữ liệu  
của ông được lưu giữ cho đến năm 1947 và trở thành tài liệu theo dõi  
vật hậu học kéo dài lâu nhất ở Châu Âu [21].  
5
1.3. SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU VẬT HẬU HỌC TẠI VIỆT  
NAM  
Năm 2009, trong nghiên cứu của Hà Thăng Long (2009) tại  
vườn quốc gia Kon Ka Kinh trên 1291 cây thuộc 344 loài, 144 chi, 49  
họ (gồm 3 tuyến thực vật). Kết quả theo dõi các chỉ số sinh trưởng  
của thực vật gồm: lá non, hoa, quả trong 2 mùa khác nhau (mùa khô  
và mùa mưa) cho thấy sự khác biệt rõ ràng về sự biến đổi vật hậu học  
theo mùa.  
Trong nghiên theo dõi sự biến đổi của vật hậu học tương  
quan với tập tính sinh thái dinh dưỡng của loài Voọc mông trắng  
(Trachypithecus delacouri) ở khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long –  
Ninh Bình năm 2010, Workman Catheine và Lê Văn Dũng thấy rằng  
từ 8/2007 – 7/2008 trữ lượng thực vật thay đổi suốt năm, trong đó lá  
non và lá già hầu như có sẵn trong các tháng, không thấy có sự biến  
đổi lớn giữa mùa mưa (5 - 10) và mùa khô (11 - 4) nhưng lại thấy rõ  
sự thay đổi giữa các tháng.  
1.4. TỔNG QUAN KHU HỆ ĐỘNG – THỰC VẬT TẠI KHU  
BTTN SƠN TRÀ  
Khu BTTN Sơn Trà là một phần của vùng sinh thái Trường  
Sơn - một trong 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu, là nơi trú ngụ  
của nhiều loài sinh vật độc đáo nhưng đang đứng trước nguy cơ bị đe  
dọa. Khu BTTN Sơn Trà có khu hệ động, thực vật phong phú, tính đa  
dạng sinh học cao và có giá trị rất lớn về mặt sinh thái.  
1.4.1. Khu hệ thực vật  
Hệ thực vật Sơn Trà thế hiện tính giao lưu của hai luồng thực vật  
phía Bắc xuống và phía Nam lên. Hiện trạng hệ thực vật Sơn Trà xuất  
6
hiện phổ biến nhiều loài thực vật ưa sáng thuộc các họ: Cà phê, Cam,  
Trôm, Mua, Đay,… Là các loài thực vật chỉ thị theo diễn thế đi xuống.  
1.4.2. Khu hệ động vật  
Từ các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay, đã thống kê  
được cấu trúc thành phần loài động vật như sau: khu hệ động vật ở  
Sơn Trà gồm 380 loài thuộc 106 họ với 38 bộ, trong đó có 29 loài  
thuộc nguồn gien quý hiếm.  
1.5. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU HỆ THỰC VẬT TẠI  
KHU BTTN SƠN TRÀ  
Trong tổng số 985 loài thực vật tại khu BTTN Sơn Trà có 22  
loài quý hiếm cần được bảo vệ phục hồi và phát triển, đã được đưa  
vào sách đỏ.  
Năm 2012, Phạm Thị Kim Thoa đã điều tra, khảo sát ở 12 ô  
tiêu chuẩn và ghi nhận được 96 loài thực vật thân gỗ trên 6 sinh cảnh  
khác nhau ở Sơn Trà.  
Trong nghiên cứu Lary Ulibarry (2013) có ghi nhận khá đầy  
đủ về sự thay đổi vật hậu học của các loài thực vật thân gỗ có đường  
kính ≥10cm trong sự tương quan với sinh thái dinh dưỡng và tập tính  
ăn của Voọc chà vá chân nâu, kết quả này chỉ ra được chu kỳ thay đổi  
của vật hậu học theo mùa và các yếu tố môi trường như nhiệt độ,  
lượng mưa.  
1.6. TỔNG QUAN KHU HỆ VỌOC CHÀ VÁ CHÂN NÂU TẠI  
KHU BTTN SƠN TRÀ  
• Phân bố quần thể  
Quần thể Vọoc chà vá chân nâu phân bố ở sinh cảnh rừng lá  
rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới (52,17%) và sinh cảnh rừng  
phục hồi (28,26%).  
7
• Kích thước quần thể: Kích thước quần thể Voọc chà vá  
chân nâu tại Khu BTTN Sơn Trà có 3 dạng kích thước: Kích thước  
nhỏ (4-7 cá thể/đàn); Kích thước trung bình (8-15 cá thể/đàn); Kích  
thước lớn (16-23 cá thể/đàn).  
• Mật độ quần thể: Sinh cảnh rừng lá rộng thường xanh mưa  
mùa nhiệt đới vào mùa mưa có mật độ trung bình (6-7 con/km2); mùa khô  
(6 con/ km2). Và ở sinh cảnh rừng phục hồi vào mùa mưa có mật độ trung  
bình (3-4 con/ km2); mùa khô (5 con/ km2).  
1.7. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI BÁN  
ĐẢO SƠN TRÀ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
1.7.1. Điều kiện tự nhiên  
a. Vị trí địa lý  
Bán đảo Sơn Trà nằm ngang theo hướng Đông Tây, phía Đông Bắc  
thành phố Đà Nẵng, phía Tây Bắc giáp vịnh Đà Nẵng, Đông Bắc và Đông  
Nam giáp biển đông, Tây Nam giáp đất liền và Cảng Sông Hàn.  
b. Khí hậu, thuỷvăn  
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa năm 2012 là 22.368 mm/năm  
1.7.2. Điều kiện kinh tế - xãhội  
Dân số toàn quận Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng gồm có  
7 phường với 132.945 nhân khẩu.  
1.7.4. Hiện trạng tài nguyên hệ sinh thái trên cạn tại bán  
đảo Sơn Trà  
Tài nguyên đất lâm nghiệp ở khu BTTN Sơn Trà chiếm tỷ lệ  
tương đối lớn. Trong đó diện tích đất có rừng là 2.591,1 ha trong đó  
có 2.320 ha diện tích rừng tự nhiên; 192,1 ha rừng trồng, 79 ha là đất  
trống,đồi trọc.  
8
CHƯƠNG 2  
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 6 tháng từ tháng 5  
năm 2015 đến tháng 10 năm 2015. Tổng số ngày thực địa: 120 ngày.  
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU  
Địa điểm nghiên cứu nằm trong khu BTTN Sơn Trà. Khu  
vực nghiên cứu vật hậu học thuộc 3 tiểu khu 61, 62, 63. Các tuyến  
nghiên cứu phân bố ở độ cao từ 100 – 600m.  
Hình 2.1. Sơ đồ các tuyến điều tra  
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết  
Sử dụng các kết quả và dữ liệu có liên quan của các công  
trình nghiên cứu trước để xác định danh mục các loài thực vật thân gỗ  
là thức ăn của VCVCN tại khu BTTN Sơn Trà gồm Vũ Ngọc Thành  
(2008), Larry Ulibary (2013), Jonathan (2014).  
• Phương pháp lập tuyến thực vật  
Để tiến hành thu thập các số liệu về thành phần loài của thực  
vật thân gỗ chúng tôi sử dụng phương pháp lập tuyến thẳng theo cùng 1  
hướng từ sườn Nam sang sườn Bắc và qua các đai độ cao khác nhau  
9
(từ100-600m độ cao so với mực nước biển), mỗi tuyến dài trung bình  
2,5 km trên bản đồ số hóa.  
• Phương pháp định danh loài  
Danh mục thành phần loài thực vật trong nghiên cứu này  
được kỹ sư Trần Ngọc Toàn giám định tại thực địa và mẫu thu thập từ  
khu vực nghiên cứu.  
• Phương pháp nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển  
của các thành phần thực vật thân gỗ (lá non, hoa, quả) tại khu  
vực nghiên cứu  
Theo dõi tỷ lệ phần trăm lá non, hoa, quả các tất cả các loài  
thực vật thân gỗ có đường kính thân ≥ 10cm trong các tuyến đã được  
lập ở trên. Tỷ lệ phần trăm lá non, hoa, quả được ước tính dựa theo  
phương pháp quan sát của Chapman và cộng sự năm 1992.  
• Phương pháp phân tích số liệu  
- Từ những số liệu đã thu thập được từ công tác nghiên cứu,  
khảo sát thực địa sẽ tiến hành thống kê, phân tích và xử lý để đưa ra  
được những kết quả cụ thể. Dựa trên kết quả thống kê tính toán các  
chỉ số sinh học gồm: Chỉ số đa dạng loài Shannon- Wiener (H’); Chỉ  
số đa dạng Simpson (D); Chỉ số phong phú Margalef (d):  
- Các số liệu hậu vật học thu thập ngoài thực địa được nhập  
hàng tháng vào phần mềm Excel 2010. Sau đó các dữ liệu từ Excel  
được chuyển sang phần mềm SPSS 11.5 để xử lý.  
- Hệ số tương quan hạng spearman (  ) được tính toán để xác  
 
định: mối tương quan giữa yếu tố thời tiết (lượng mưa, nhiệt độ) và  
sinh khối lá non, hoa, quả (chỉ số lá non, hoa, quả) trong các tháng.  
10  
CHƯƠNG 3  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. ĐẶC ĐIỂM THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI KHU VỰC  
NGHIÊN CỨU VẬT HẬU HỌC  
Loài VCVCN tại Sơn Trà là một loài linh trưởng đặc hữu tại  
bán đảo Sơn Trà, nơi sống và nguồn thức ăn của chúng chủ yếu là  
các loài thực vật thân gỗ cao, có nhiều tầng tán [1]. Do đó việc  
nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật rừng giúp hiểu rõ vùng sống, sự  
phân bố thành phần thành phần thức ăn của VCVCN và sự tương tác  
của chúng đối với môi trường sống tại bán đảo Sơn Trà.  
3.1.1. Cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu vật hậu học  
a. Mật độ cây  
Tổng cộng, có 811 cây được khảo sát trên diện tích 1,8 ha,  
với trung bình 445 cây/ha. Mật độ cây đạt giá trị cao nhất tại tuyến 1  
với 498 cây/ ha và thấp nhất ở tuyến 3 với 416 cây/ha. Có 402 cây là  
thức ăn của VCVCN trên khu vực nghiên cứu, với trung bình 223  
cây/ha. Mật độ cao nhất tại tuyến 1 với 498 cây/ha và thấp nhất ở  
tuyến 3 với 202 cây/ha.  
b. Đường kính cây  
Đường kính cây được phân thành 7 mức với khoảng cách là  
10 cm. Trong đó cây có đường kính < 20cm chiếm tỷ lệ rất lớn đến  
68,2%, gần bằng 3/4 tổng số cây trong khu vực nghiên cứu. Cây có  
dbh 20-29.9 cm chiếm 18,2% tổng số. Cây có đường kính 30-39.9cm  
chỉ chiếm 7% tổng số. Chiếm tỷ lệ thấp nhất là cây có đường kính  
50-59.9 cm, chỉ chiếm 0,8%.  
11  
c. Chiều cao cây  
Chiều cao trung bình của cây cho cả khu vực nghiên cứu là  
10,2m. Chiều cao tối đa là 19m và tối thiểu là 2m. Trong cả 3 tuyến  
cây có chiều cao trên 12 m là không phổ biến, chiếm khoảng 10%  
tổng số cây.  
d. Trắc đồ cây tại khu vực nghiên cứu  
Tuyến 1  
Hình 3.1. Phẫu diện đồ OTC của tuyến 1  
Tuyến 2  
Hình 3.2. Phẫu diện đồ OTC của tuyến 2  
12  
Tuyến 3  
Hình 3.1. Phẫu diện đồ OTC của tuyến 3  
Kết quả về phẫu diện đồ của 3 tuyến cho thấy ở tuyến 1 có  
cấu trúc rừng nhiều tầng tán, mật độ cây cao và mật độ che phủ của  
rừng cũng cao hơn so với 2 tuyến còn lại. Tuyến 3 có mật độ cây  
thấp, độ che phủ cũng như cấu trúc tầng tán rừng cũng không cao so  
với 2 tuyến trên. Tuy nhiên mật độ các cây là thức ăn của VCVCN tại  
ô tiêu chuẩn của tuyến 1 thấp hơn trên tuyến 2 và 3. Ở ô tiêu chuẩn  
của tuyến 2 mật độ cây là rất cao.  
3.1.2. Sự đa dạng về họ và loài thực vật tại khu vực  
nghiên cứu vật hậu học  
a. Đa dạng các họ thực vật  
Kết quả cho thấy các họ chiếm ưu thế về mặt số lượng cá thể  
lần lượt là họ Thầu dầu (13,13%), họ Long Não (8,08%), họ Cà phê  
(7,7%) và họ Na (6,06%).  
b. Đa dạng về loài  
Trên toàn bộ 3 tuyến khảo sát đo đếm được có tất cả 811 cá  
thể trong tổng số 98 loài thực vật thân gỗ có đường kính thân ≥ 10 cm  
thuộc 35 họ. Số lượng cá thể của mỗi loài biến động từ 1 đến 49 cá  
13  
thể. Tỷ lệ của các loài này dao động từ 2,84% đến 5,55% và phân bố  
không đồng đều trên toàn bộ khu vực nghiên cứu.  
3.1.3. Sự đang dạng về họ và loài thực vật thân gỗ là thức  
ăn của Vooc chà vá chân nâu  
a. Thành phần thực vật  
Trong tổng số 98 loài, 35 họ trên các tuyến khảo sát đã xác  
định được 37 loài và 22 họ thực vật là thức ăn của VCVCN.  
Hình 3.4.Tỷ lệ thành phần loài thực vật là thức ăn VCVCN trong  
khu vực nghiên cứu  
b. Đa dạng họ  
Trong 18 ô của 3 tuyến đo đếm được có 37 loài thực vật thân  
gỗ thuộc 22 họ là thức ăn của VCVCN tại bán đảo Sơn Trà.  
c. Đa dạng loài  
Trên toàn bộ khu vực nghiên cứu có 37 loài , 22 họ thực vật là  
thức ăn của VCVCN tại bán đảo Sơn Trà. 5 loài có tần suất bắt gặp  
cao là thức ăn của VCVCN tại bán đảo Sơn Trà đều là những loài ưu  
thế trên toàn khu vực nghiên cứu.  
14  
d. So sánh sự phong phú và đa dạng thành phần loài thực vật  
là thức ăn của VCVCN trên các tuyến nghiên cứu thông qua các  
chỉ số ĐDSH  
Kết quả tính toán các chỉ số ĐDSH được thể hiện trong bảng  
3.1.  
Bảng 3.1. Các chỉ số ĐDSH trên các tuyến nghiên cứu  
Tuyến  
S
N
H
D
d
1
2
3
27  
24  
16  
170  
131  
101  
1.921  
1.827  
1.668  
0.133  
0.170  
0.181  
2.645  
2.553  
1.928  
- Chỉ số Margalef (d) đạt giá trị cao nhất ở tuyến 1 và thấp  
nhất ở tuyến 3, chứng tỏ: tuyến 1 có tính đa dạng về loài cao hơn so  
với các tuyến khác trong khu vực nghiên cứu.  
- Chỉ số Shannon - Weiner (H): Theo kết quả tính toán ta có:  
H1> H2> H3. Ở tuyến có số lượng loài phân bố đồng đều nhất (S1  
=27), số cá thể xuất hiện nhiều (N1=170), như vậy xác xuất để bắt gặp  
hai cá thể khác loài ở ô 7 cao hơn lần so với các ô khác trong tuyến.  
- Chỉ số Simpson : Kết quả tính toán cho thấy tuyến 1 có chỉ  
số D thấp nhất và tuyến 3 có chỉ số D cao nhất, chứng tó khu hệ thực  
vật ở tuyến 1 là đa dạng nhất.  
3.2. THÀNH PHẦN THỰC VẬT LÀ THỨC ĂN CỦA VCVCN  
TẠI KHU BTTN SƠN TRÀ  
3.2.1. Đặc điểm về các loài thực vật được VCVCN sử  
dụng làm thức ăn  
Kết quả hồi cứu số liệu cho thấy có tổng cộng 156 loài thực  
vật là thức ăn của VCVCN với hai dạng sống chính là thân gỗ và dây  
leo thuộc 44 họ. Qua quan sát Larry Ulibary cũng đã xác định được  
15  
những loài thực vật thân gỗ quan trọng được VCVCN sử dụng làm  
thức ăn thường xuyên tại bán đảo Sơn Trà. Trong đó 5 loài quan  
trọng, có tỷ lệ lá, hoa, quả được VCVCN sử dụng với tần suất cao  
được thể hiện trong bảng 3.2.  
Bảng 3.2. Các loài thức ăn có tần suất sử dụng cao tại bán  
đảo Sơn Trà  
STT  
Loài  
Lá (%) Hoa (%) Quả (%)  
1
2
3
4
5
Parashorea stellata  
Ficus subcordata  
Dehaasia caesia  
Ficus variegata  
36.3  
4.8  
0
82.1  
0
0
2.8  
2.1  
16  
7.7  
0
0
Lithocarpius fenestratus  
0
0
12.8  
(Nguồn : Larry Ulibarry, 2013 )  
Thực hiện nghiên cứu trên các loài thực vật thân gỗ có đường  
kính thân ≥10 cm tại bán đảo Sơn Trà chúng tôi đã xác định được 37  
loài thuộc 22 họ là thức ăn của VCVCN. Trong những loài thực vật là  
thức ăn đã xác định được những loài chiếm ưu thế có tỷ lệ cao nhất tại  
khu vực nghiên cứu bao gồm Trường duyên hải (Arytera littoralis)  
(11,19%), Sơn quả (Gluta wrayi) (10,2%), Chò chỉ (Parashorea  
stellata) (9,7%), Dẻ Thomson (Lithocarpus thomsonii) (8,71%), Bù  
lốt (Grewia bulot) (7,21%). 5 loài này chiếm 47,01% thành phần loài  
thực vật thức ăn trên khu vực nghiên cứu.  
3.2.2. Đặc điểm về các bộ phận cây làm thức ăn của  
VCVCN tại Sơn Trà  
a. Đặc điểm chung  
Kết quả nghiên cứu của Larry về sự lựa chọn thức ăn của  
VCVCN tại Sơn Trà cho thấy lá là sự lựa chọn thức ăn thường xuyên  
16  
với (87,8), tiếp theo là quả và hạt (10,2%), hoa (1,6%), và vỏ cây  
(0,4%).  
b. Sự lựa chọn các bộ phận cây làm thức ăn của VCVCN  
theo mùa  
Kết quả cho thấy đối với các cá thể VCVCN, lá luôn là thành  
phần chính trong việc lựa chọn thức ăn trong cả 2 mùa. Vào mùa khô  
(từ tháng 2 đến tháng 5) lá non chiếm 75,2% khẩu phần thức ăn trong  
khi đó vào mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 1) là 66,3% còn lại là lá  
già.  
c. Sự lựa chọn các bộ phận cây làm thức ăn của VCVCN  
theo tháng  
Dựa trên kết quả nghiên cứu của Larry về tập tính ăn của loài  
Chà vá chân nâu, chúng tôi đã so sánh nhằm tìm mối quan hệ thay  
đổi theo thời gian của 2 bộ phận hoa và quả là thức ăn của VCVCN  
với mức độ phong phú của hoa và quả trong các tháng nghiên cứu.  
Kết quả so sánh cho thấy sự xuất hiện của thành phần hoa trong khẩu  
phần ăn của VCVCN khá tương đồng với sự phong phú của hoa tại  
khu vực nghiên cứu. Điển hình như khi hoa đạt đỉnh về sự phong phú  
vào tháng 7 thì VCVCN cũng lựa chọn hoa làm thức ăn trong tháng  
này.  
3.3. SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BỘ  
PHẬN CÂY THÂN GỖ LÀ THỨC ĂN CỦA VCVCN TRONG  
MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC YẾU TỐ THỜI TIẾT  
3.3.1. Đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu  
Số liệu về lượng mưa, nhiệt độ tại bán đảo Sơn Trà trong thời  
gian nghiên cứu được thu thập từ trung tâm khí tượng thủy văn khu  
vực Trung Trung bộ. Thành phố Đà Nẵng là một thành phố có khí  
17  
hậu nhiệt đới nóng ẩm với hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài từ tháng 4  
đến tháng 7, và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau  
[15]. Sự khác biệt về các yếu tố thời tiết giữa bán đảo Sơn Trà và  
thành phố Đà Nẵng được trình bày trong hình 3.5.  
Biểu đồ về lượng mưa  
Biểu đồ về nhiệt độ  
(Nguồn: Trung tâm KTTV khu vực Trung Trung bộ,2012)  
Hình 3.5. Biểu đồ về lượng mưa và nhiệt độ tại bán đảo  
Sơn Trà và thành phố Đà Nẵng  
Kết quả biểu đồ hình 3.5 cho thấy nhiệt độ giữa hai khu vực  
chênh lệch nhau không đáng kể. Lượng mưa ở bán đảo Sơn Trà nhìn  
chung cao hơn so với thành phố Đà Nẵng. Lượng mưa tập trung cao  
vào tháng 9, 10, 11.  
Thành phần thức ăn của VCVCN chịu ảnh hưởng của nguồn  
thức ăn sẵn có trong môi trường sống. Nguồn thức ăn chủ yếu của  
VCVCN tại bán đảo Sơn Trà chủ yếu là các thành phần chính của  
thực vật như lá, hoa, quả. Chính vì vậy để biết được sự biến động của  
nguồn thức ăn và dự báo được tập tính của chúng đề tài tiến hành theo  
dõi sự sinh trưởng và phát triển của 402 cây có đường kính thân trên  
10cm thuộc 22 họ, 37 loài thực vật là thức ăn của VCVCN trong 18  
18  
OTC lập trong khu vực nghiên cứu trong 6 tháng (từ 5 -10/2015), sau  
đó xem xét sự sinh trưởng, phát triển của chúng dựa trên việc tính  
toán các chỉ số sinh trưởng.  
3.3.2. Sự sinh trưởng, phát triển của các loài thực vật là  
thức ăn của VCVCN trên toàn khu hệ nghiên cứu  
a. Thành phần lá non  
Chỉ số lá non tương quan tỷ lệ nghịch và chặt với lượng mưa  
(  = -0,771; p=0,036). Điều này có nghĩa rằng cây ra ít lá non trong 2  
 
tháng mùa mưa là tháng 9, tháng 10 và ra nhiều lá non trong các  
tháng mùa khô từ tháng 5 đến tháng 7. Chỉ số lá non tương quan  
thuận và chặt với nhiệt độ (  = 0,771; p= 0,003). Vào tháng 6 và  
 
tháng 7 khi nhiệt độ của trung bình của 2 tháng là cao nhất trong các  
tháng nghiên cứu thì sinh khối lá non đạt đỉnh cao nhất. Ngược lại khi  
nhiệt độ đạt giá trị thấp nhất vào tháng 10 (26°C) thì sinh khối lá non  
cũng đạt giá trị thấp nhất (hình 3.6).  
Hình 3.6. Biểu đồ chỉ số lá non và phần trăm cây có lá non ở  
các mức khác nhau  
b. Thành phần hoa  
Chỉ số hoa tương quan tỷ lệ nghịch và chặt với lượng mưa  
(  = -0,943; p=0,002), điều này cho thấy trong các tháng mùa khô  
 
(tháng 5, 6,7) cây ra hoa nhiều hơn với chỉ số hoa trung bình 1,9.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 15000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của thực vật thân gỗ là thức ăn của Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_su_sinh_truong_va_phat_trien_cua.pdf