Luận văn Đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo đạo đức công vụ cho cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------  
TRỊNH HOÀNG YẾN  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO  
ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC  
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XUYÊN MỘC  
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------  
TRỊNH HOÀNG YẾN  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO  
ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC  
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XUYÊN MỘC  
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. NGUYỄN HỮU DŨNG  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG  
TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC  
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA- VŨNG  
TÀU” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của  
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng. Các nội dung và kết quả trong luận văn là trung thực  
và chưa từng được công bố trong bất lỳ công trình nghiên cứu nào. Tất cả các tài  
liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng.  
TP.HCM, tháng 12 năm 2017  
Tác giả luận văn  
Trịnh Hoàng Yến  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
BR-VT  
CBCC  
Diễn giải  
Bà Rịa- Vũng Tàu  
Cán bộ công chức  
Xã Hội Chủ Nghĩa  
Chương trình đào tạo  
Ủy ban nhân dân  
XHCN  
CTĐT  
UBND  
ĐTBD  
Đào tạo, bồi dưỡng  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
Xã, phường, thị trấn ( gọi chung là cấp xã ) là đơn vị hành chính cơ sở, cấp gần dân  
nhất và là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tầng lớp  
nhân dân. Cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong hệ  
thống hành chính nhà nước ta. Cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống hành  
chính 4 cấp của nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cơ sở  
thực tiển của việc hình thành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà  
nước. Cấp cơ sở giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi thực hiện nhiệm vụ  
của cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống nhân dân,  
thông qua hoạt động của Nhà nước, xuất phát từ vấn đề tổng kết kinh nghiệm thực  
tiễn phong phú nhằm bổ sung hoàn chỉnh lý luận, đường lối, chính sách, pháp luật  
nói chung và cải cách nền hành chính nói riêng. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là  
nhân tố quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Sinh thời, Chủ tịch  
Hồ Chí Minh đã từng khẳng định : “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công  
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Chính quyền cấp xã mạnh  
hay yếu phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt của cấp xã. Chủ trương ,  
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không,  
có đi vào thực tế cuộc sống hay không là tùy thuộc vào năng lực cán bộ chủ chốt  
cấp xã.  
Tuy nhiên, do huyện Xuyên Mộc đặc thù là vùng sâu vùng xa của tỉnh nên điều kiện  
kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, năng lực hoạt động  
của đội ngũ CBCC cấp cơ sở chưa đạt chuẩn theo quy định. Bên cạnh đó công tác  
đào tạo vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn; chương trình, phương pháp  
đào tạo chậm đổi mới ít đề cập tới bồi dưỡng về kỹ năng, thiếu lồng ghép đào tạo  
văn hóa với chuyên môn nghiệp vụ. Hiện nay, trong các cơ quan hành chính nhà  
nước vẫn còn một số lượng không nhỏ CBCC với cách làm việc thiếu tích cực, bảo  
thủ, quan liêu, thiếu sự năng động sáng tạo, tác phong thì chậm chạp, thái độ thờ ơ,  
 
2
thiếu trách nhiệm…khiến cho lợi ích của người dân bị tổn hại một cách nghiêm  
trọng, và đồng thời dẫn tới sự sự trì trệ của các cơ quan hành chính nhà nước. Điều  
này sẽ càng ngày càng khiến cán bộ xa rời quần chúng và chính quyền sẽ không  
được lòng dân hoàn toàn sẽ đi ngược lại với phương châm xây dựng một nền hành  
chính phát triển, hiện đại của một Nhà nước pháp quyền XHCN "của dân, do dân, vì  
dân".  
Như vậy, việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ chủ  
chốt cấp xã luôn là một yêu cầu, đồng thời là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục,  
mang tính lịch sử kế thừa xuất phát từ thực tiễn. Chính vì thế, trong giai đoạn hiện  
nay, hơn bao giờ hết, đội ngũ cán bộ, công chức cần phải được đào tạo, bồi dưỡng  
toàn diện để trở thành những chủ thể quản lý nhà nước, có nhân cách, có năng lực  
nghề nghiệp. Đây là nguồn nhân lực mà sự nghiệp cách mạng nước ta đòi hỏi cấp  
thiết. Chính vì vậy việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, của đội  
ngũ CBCC trong các cơ quan hành chính Nhà nước hiện nay là vấn đề hoàn toàn  
cấp thiết. Đòi hỏi đội ngũ CBCC cấp xã trên toàn huyện phải được nâng cao hơn  
nữa năng lực và đạo đức công vụ. Việc đánh giá hiệu quả CTĐT sẽ tạo điều kiện  
tiên quyết cho các cấp lãnh đạo hoàn thiện mô hình quản lý, đồng thời tổ chức hiệu  
quả hơn các CTĐT hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo.  
Hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển đất nước với mục  
tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” , đòi hỏi đội ngũ  
cán bộ chủ chốt phải có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực để thực thi công vụ, đáp  
ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới. Xác định tầm quan trọng vấn đề này Đảng  
đã đưa nhiệm vụ “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,  
phường, thị trấn” tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương  
Đảng khóa IX nhằm từng bước củng cố, xây dựng ngày càng hoàn thiện toàn hệ  
thống chính trị cơ sở các địa phương trong cả nước. Nghị quyết Ban chấp hành  
Trung ương lần thứ 5 (khóa X) và Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 ( Khóa X) đã  
phân tích chỉ ra những mặt mạnh và những mặt yếu của hệ thống chính trị cơ sở và  
3
đề ra những nhiệm vụ cần phải thực hiện. Chương trình tổng thể cải cách hành  
chính của ta trong giai đoạn 2001-2010 đã đề ra nhiều nội dung cần phải cải cách,  
trong đó nhấn mạnh “ Quy định các tiêu chí cụ thể đối với từng loại đơn vị hành  
chính ở nước ta đã đi đến ổn định, chấm dứt tình trạng chia tách như thời gian qua;  
xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng chính quyền, của  
từng địa phương trên cơ sở phân cấp rõ ràng và hợp lý giữa trung ương và địa  
phương; phân biệt chức năng nhiệm vụ của chính quyền đô thị và chính quyền nông  
thôn.. “Có thể thấy, cải cách hành chính ở nước ta chỉ đem lại kết quả khi nó được  
tiến hành một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, trong đó cải cách hành  
chính ở địa phương có vai trò, vị trí quan trọng đặc biệt”. Mặc dù huyện có những  
chính sách và cơ chế hợp lý theo chủ trương của tỉnh nhằm đào tạo bồi dưỡng năng  
lực cán bộ nhưng kết quả thu được chưa nhiều, kinh phí đào tạo lớn. Vì thế có thể  
đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đạt hiệu quả cao, mà đặc biệt là đối với  
cấp xã, còn lãng phí tiền của nhà nước và nhân dân. Trong khi đó cán bộ, công chức  
cấp xã chính là người mang chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước giải thích  
cho nhân dân hiểu và thi hành, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã. Đồng  
thời, lắng nghe ý chí và nguyện vọng và thu thập thông tin về tình hình thực tế có  
liên quan tới mọi hoạt động của nhân dân để báo cáo cho Đảng và Chính Phủ hiểu  
rõ, nhằm xây dựng và điều chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của  
Nhà nước cho phù hợp với thực tế. Hay nói đúng hơn, đội ngũ cán bộ cấp xã là cầu  
nối giữa Đảng, Chính Phủ với nhân dân. Chiến lược phát triển kinh tế huyện Xuyên  
Mộc phấn đấu năm 2020 là một huyện vững mạnh với cơ cấu kinh tế: dịch vụ -  
công nghiệp – nông nghiệp. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên toàn  
huyện phải được nâng cao hơn nữa năng lực và đạo đức công vụ. Chính vì vậy, dựa  
trên vai trò và nhu cầu cấp bách của việc nâng cao hiệu quả CTĐT, em mạnh dạn  
chọn đề tài:  
“Đánh giá hiệu quả CTĐT đạo đức công vụ cho CBCC cấp xã trên địa bàn huyện  
Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ” làm luận văn của mình.  
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM  
1.1. Các khái niệm  
1.1.1. Đào tạo  
Nhìn chung, khái niệm đào tạo thường được sử dụng theo nghĩa rộng gắn với kinh  
nghiệm nghề nghiệp và quá trình đào tạo. Một số định nghĩa về đào tạo cho rằng  
đào tạo bồi dưỡng là hoạt động có mục đích rõ ràng, có tính hệ thống nhằm giúp  
cho mỗi cá nhân cải thiện việc thực hiện công việc của mình. Quan điểm của các  
nhà nghiên cứu đầu những năm 1990 cho rằng: “Đào tạo là một quá trình có hệ  
thống nhằm gia tăng sự tích lũy về kỹ năng, các quy tắc, các khái niệm và thái độ  
mà đưa đến kết quả là thu hẹp và cải thiện về khoảng cách giữa những đặc tính  
hiện có của người lao động so với yêu cầu của tổ chức sử dụng người lao động”  
(Mikovich và Boudreau, 1994. tr.190). “Nhưng việc cải thiện công việc này chỉ  
đem lại lợi ích khi nó xuất phát từ yêu cầu của sản xuất và nó đáp ứng được yêu  
cầu về đào tạo đặt ra” (Amoo, Elezabeth . N.A., 1994, tr.132).  
Tại Việt Nam, khái niệm, thuật ngữ chỉ chung cho việc đào tạo cán bộ, công chức,  
viên chức đã được chính thức hóa và đã tương đối thống nhất trong những năm gần  
đây. Theo quy định về công tác đào tạo đối với công chức Việt Nam (Điều 5, Nghị  
định 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010), một số từ ngữ về ĐTBD công chức được  
hiểu như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri  
thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”.  
1.1.2. Chương trình đào tạo  
Chương trình: Theo Guiding Principles for Program Evaluation in Ontario Health  
Units, 1997 là một loạt các hoạt động được sự hỗ trợ của một nhóm nguồn lực  
nhằm đạt được những kết quả cụ thể cho các mục tiêu đã được định sẵn.  
Chương trình đào tạo: bao gồm nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và  
các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo (thường là cấp khoa học bộ  
môn tùy theo cơ cấu tổ chức của từng đơn vị) đang triển khai để đào tạo một  
ngành học trong một bậc học nhất định (thường được ký hiệu bằng mã ngành).  
       
5
CTĐT là một văn bản pháp quy về kế hoạch tổ chức đào tạo một văn bằng, bao  
gồm: mục tiêu đào tạo; nội dung và yêu cầu bắt buộc, tự chọn hay tùy ý, phân bố  
thời lượng các môn học; kế hoạch thực hiện chương trình và điều kiện xét cấp văn  
bằng ( Lê Đức Ngọc 2005).  
Tóm lại CTĐT bao gồm các yếu tố như sau: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, kế  
hoạch tổ chức thực hiện CTĐT và hệ thống các yêu cầu về thi, kiểm tra, xét tốt  
nghiệp cho người học.  
1.1.3. Đánh giá CTĐT  
Theo Guiding Principles for Program Evaluation in Ontario Health Units, 1997  
CTĐT là những hoạt động có tính hệ thống, nằm trong một tiến trình; các hoạt  
động này nhằm kiểm tra toàn bộ các khía cạnh hay một khía cạnh của chương  
trình: đầu vào của chương trình, các hoạt động thực hiện chương trình, các  
nhóm khách hàng sử dụng chương trình, các kết quả (các đầu ra) và làm thế nào để  
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Đánh giá CTĐT là sự thu thập cẩn thận các  
thông tin về một chương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra  
các quyết định cần thiết đối với việc quản lý, tổ chức chương trình.  
1.1.4. Đánh giá hiệu quả CTĐT  
Hiệu quả là mức độ hài lòng của học viên, lượng kiến thức và kỹ năng họ có được  
và khả năng ứng dụng những gì họ được đào tạo vào công việc hàng ngày, cũng như  
sự ảnh hưởng của các CTĐT đối với sự thành công của cơ quan cử đi đào tạo. Từ  
đó giúp cho các nhà quản lý tổ chức hiệu quả hơn các CTĐT và có biện pháp tốt  
hơn để nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo. Hiệu quả CTĐT bao gồm hiệu quả  
trong (trong quá trình đào tạo) – những kết quả học tập, rèn luyện của CBCC tại  
trường đào tạo và hiệu quả ngoài (kết quả sau khi đào tạo) – khả năng đóng góp của  
người học vào thực tiễn, phát huy và phát triển được trong công tác chuyên môn  
bản thân.  
   
6
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục  
tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là : nâng cao trình độ và đời  
sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người  
lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các  
quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi  
trường;... Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan giữa các  
kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao  
đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm...) và chi phí bỏ ra để đạt  
được kết quả đó. Thông thường các mục tiêu kinh tế - xã hội phải được chú ý giải  
quyết trên giác độ vĩ mô nên hiệu quả xã hội cũng thường được quan tâm nghiên  
cứu ở phạm vi quản lý vĩ mô.  
Hiệu quả kinh tế như đã được khái niệm ở phần trên; với bản chất của nó, hiệu quả  
kinh tế là phạm trù phải được quan tâm nghiên cứu ở các hai giác độ vĩ mô và vi  
mô. Cũng vì vậy, nếu xét ở phạm vi nghiên cứu, chúng ta có hiệu quả kinh tế của  
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành, hiệu quả kinh tế vùng lãnh  
thổ và hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Muốn đạt được hiệu quả  
kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành cũng như hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ  
cao, vai trò điều tiết vĩ mô là cực kỳ quan trọng. Trong phạm vi nghiên cứu ở  
chương này, chúng ta chỉ quan tâm tới hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh  
doanh  
Hiệu quả kinh tế như đã được khái niệm ở phần trên; với bản chất của nó, hiệu quả  
kinh tế là phạm trù phải được quan tâm. Xét về phương diện hiệu quả kinh tế phải  
xét mức tương quan giữa lợi ích kinh tế mà đơn vị hay chương trình đào tạo đạt  
được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó.  
Đánh giá hiệu quả CTĐT là đánh giá để xem chương trình có đạt được mục tiêu đề  
ra hay không, đạt được ở mức độ nào, làm được gì và những gì chưa làm được từ đó  
đưa ra những giải pháp để khắc phục và hoàn thiện chương trình. Việc đánh giá  
hiệu quả giúp xác định lượng kiến thức, kỹ năng, khả năng ứng dụng kiến thức vào  
7
công tác chuyên môn, đồng thời giúp cho các nhà lãnh đạo tìm ra những điểm cần  
điều chỉnh để ngày một cải thiện và hoàn chỉnh chương trình đào tạo.  
Xác định được tổng chi phí đào tạo và lợi ích tăng thêm do kết quả đào tạo hàng  
năm sẽ đánh giá được hiệu quả CTĐT. Trong đó chi phí đào tạo chính là chi phí cơ  
sở vật chất bao gồm trang bị kỹ thuật, nguyên vật liệu sử dụng trong giảng dậy, chi  
phí đội ngũ cán bộ quản lý của trường, cán bộ giảng dạy…  
Hiệu quả CTĐT được tính:  
Nguồn kinh phí cấp về cho đào tạo  
Hiệu quả =  
( Chi phí cơ sở vật chất + Chi phí quản lý + Giảng viên)  
Trong đó:  
Nguồn kinh phí : chính là nguồn được Sở Nội Vụ cấp về dành riêng cho đào tạo dựa  
trên đăng ký nhu cầu đào tạo bồi dưỡng hàng năm của phòng Nội Vụ huyện.  
Chi phí: chính là tổng chi phí cho đào tạo như chi phí cơ sở vật chất, chi phí đội  
ngũ quản lý, giảng dạy…  
1.1.5. Đạo đức công vụ  
Đạo đức:  
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề đạo đức đã được nhiều học  
giả quan tâm, nhìn nhận, đánh giá dưới các góc độ khác nhau.  
Theo Trần Hậu Kiểm (1997): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao  
gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực  
xã hội” .  
Theo Phạm Viết Vượng (2007), Giáo dục học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội:  
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái  
ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Đạo đức về bản chất là  
 
8
những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát  
triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện”.  
Theo Phạm Minh Hạc (2005): “Đạo đức theo nghĩa hẹp là tâm lý, là những quy  
định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người. Nhưng trong điều  
kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm  
những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công  
việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường”.  
Theo Lê Sĩ Dược (2000): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những  
quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự điều chỉnh hành vi của  
mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong  
quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”.  
Đạo đức có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng dưới góc độ của xã hội thì nó là một  
hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu,  
chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người  
với tự nhiên, giữa con người với xã hội, giữa con người với nhau và với chính bản  
thân mình. Còn dưới góc độ của cá nhân thì nó chính là mặt cơ bản trong nhân cách,  
nó phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí hành vi, thói quen và cách ứng xử của cá nhân  
trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, với người khác và  
với chính bản thân mình.  
Công vụ:  
Có thể hiểu công vụ vừa theo nghĩa rộng vừa theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, công  
vụ là công việc do người của nhà nước đảm nhận; nhưng cũng có thể hiểu theo  
nghĩa hẹp hơn công vụ là công việc do công chức đảm nhận. Cách hiểu thứ hai này  
đúng với nhiều nước. Hoạt động công vụ nhà nước là hoạt động quyền lực, tác động  
đến ý chí của con người đưa đến cho họ những hành vi có ý thức nhằm đáp ứng  
những nhu cầu chung của mọi người trong xã hội, do các CBCC nhà nước đảm  
nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.  
Một số nét đặc trưng của hoạt động mang tính công vụ:  
-
Phục vụ lợi ích của nhà nước, nhân dân và xã hội  
9
-
Thực hiện các chức năng và nhiệm vụ gắn với từng loại tổ chức do pháp luật  
nhà nước quy định.  
-
Chủ thể thực thi công vụ người của nhà nước hoặc làm việc thường xuyên,  
hoặc mang tính tạm thời.  
-
-
-
Hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật  
Không vì mục tiêu lợi nhuận  
Sử dụng nguồn ngân sách của nhà nước.  
Đạo đức công vụ:  
Đạo đức công vụ là những chuẩn mực nghề công vụ khi thực thi công chức phải  
tuyệt đối chấp hành, nó là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho  
CBCC trong lĩnh vực hoạt động cụ thể, là hệ thống các chuẩn mực quy định nhận  
thức và hành động được xem là tốt hay xấu, nên hay không nên làm trong hoạt động  
công vụ của người CBCC. Đây cũng là một dạng đạo đức nghề nghiệp do pháp luật  
nhà nước quy định và công chức có nghĩa vụ bắt buộc phải chấp hành. Xây dựng  
lên một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm.  
Theo Diệp Tổ Diểu (2003): “Đạo đức công vụ của CBCC được thể hiện trong quá  
trình thực thi quyền lực công và trong mối quan hệ với công dân và với đồng  
nghiệp”.  
Theo Nguyễn Đăng Thành (2012): “Đạo đức công vụ bao gồm hai yếu tố: Đạo đức  
cá nhân từng công chức trong đời sống xã hội; đạo đức khi thực thi công việc của  
nhà nước do chính công chức thực hiện”.  
Gắn liền với đạo đức xã hội, những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị, bên cạnh  
đó nó còn là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - thực thi công vụ của CBCC, chính vì  
thế nó gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm những điều CBCC không được  
làm, cách ứng xử của CBCC khi thi hành công vụ do pháp luật quy định. Phản ánh  
được những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý qua lương tâm và trách nhiệm vì  
lợi ích chung, ý thức rõ được những việc gì cần phải làm và mong muốn được làm  
vì những lợi ích đó. Trong hoạt động công vụ thì đạo đức của CBCC luôn đi liền  
với mục tiêu xã hội, lợi ích toàn dân và tính nhân văn. Trên nền tảng triết lý Nhà  
10  
nước là của nhân dân thì đạo đức công vụ , do nhân dân và vì nhân dân; nhân dân  
làm chủ; CBCC là công bộc của dân. Vì vậy giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là  
phục vụ nhân dân. Điều này sẽ góp phần quan trọng để nền hành chính tránh được  
căn bệnh trầm kha đó là bệnh quan liêu và tham nhũng.  
Tóm lại đạo đức công vụ chính là những quy tắc, những quy định nhận thức, thái độ  
hay hành vi ứng xử của CBCC trong thi hành nhiệm vụ nhằm xây dựng một nền  
hành chính chính quy, hiện đại; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,  
dân chủ, văn minh.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Phân tích và đánh giá thực trạng và hiệu quả trong công tác đào tạo đội ngũ CBCC  
cấp xã huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.  
Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá CTĐT đạo đức công  
vụ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.  
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: trung chủ yếu vào CBCC đang học, CBCC đã hoàn thành  
xong khóa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các điểm nghiên cứu.  
Nội dung nghiên cứu: Phân tích các các khái niệm cơ bản; phân tích mô hình  
Kirkpatrick và mô hình năm mức độ Jack Phillips với phương pháp đánh giá và kỹ  
thuật đánh giá cụ thể theo từng bước; đề xuất các hoạt động và lên kế hoạch đánh  
giá hiệu quả CTĐT thiết thực và rõ ràng, đưa ra các chính sách tác động để cải thiện  
kết quả học tập góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả CTĐT.  
Không gian nghiên cứu: nghiên cứu dự định được thực hiện tại các xã trên địa bàn  
huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.  
1.4. Câu hỏi nghiên cứu  
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả CTĐT CBCC công chức?  
- Hiệu quả của các chương trình đội ngũ công chức cấp xã hiện nay trên địa bàn như  
thế nào?  
     
11  
- Giải pháp nào có thể áp dụng để hoàn thiện hệ thống đánh giá của đội ngũ công  
chức cấp xã trên địa bàn?  
1.5. Phương pháp nghiên cứu  
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu  
Phương pháp thu thập nguồn số liệu :  
+ Thu thập số liệu thứ cấp:  
Lấy số liệu từ website của huyện Xuyên Mộc để đánh giá tình hình chung của  
huyện với tư cách là địa bàn nghiên cứu, Số liệu thống kê của phòng Nội vụ huyện  
Xuyên Mộc; sử dụng các thông tin về kế hoạch các khóa học, các chương trình đào  
tạo của Sở Nội Vụ đối với CBCC được thu thập qua cổng thông tin, báo cáo tóm tắt  
của Tỉnh và địa phương, đồng thời cũng có tham khảo từ một số nghiên cứu trước.  
+ Thu thập số liệu sơ cấp:  
Phương pháp điều tra sử dụng phiếu điều tra là công cụ chính để tác giả thu thập dữ  
liệu sơ cấp về những nội dung nghiên cứu của đề tài tại các xã, thị trấn được lựa  
chọn. Thu thập thông qua thời gian nghiên cứu thực tế tại điểm nghiên cứu bằng  
phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, phát phiếu khảo sát. Phỏng vấn bán cấu trúc:  
Phỏng vấn các lãnh đạo các Phòng Ban xã để hỏi về hiệu quả của CBCC sau khi  
được tham dự các lớp đào tạo .  
Khảo sát: Cuộc khảo sát được sử dụng để suy ra một nhóm lớn từ những thông tin  
có được từ nhóm nhỏ (Marshall & Rossman, 1999). Trong nghiên cứu này diễn ra ở  
các phòng, ban được chọn ngẫu nhiên trong 13 xã để điều tra. Bảng hỏi được thiết  
kế sau khi có sự tiếp xúc với địa phương và xã nghiên cứu. Tiêu chí để chọn người  
phỏng vấn là CBCC UBND các xã trên địa bàn huyện đã tham dự lớp đào tạo đạo  
đức công vụ.  
Chọn ngẫu nhiên trong danh sách CBCC đã và đang tham dự lớp đào tạo đạo đức  
công vụ do Phòng Nội Vụ huyện Xuyên Mộc cung cấp năm 2016 và 6 tháng đầu  
năm 2017.  
 
12  
Đánh giá bằng cách tiếp cận khung phân tích của Kirkpatrick, sử dụng phương pháp  
định tính và định lượng trong phân tích.  
Dùng Microsoft Excel để tổng hợp dữ liệu. Áp dụng thống kê mô tả và thống kê so  
sánh để đưa ra bằng chứng cùng với dữ liệu định tính cho nghiên cứu, phân tích tình  
hình và các chiến lược cũng như kết quả của các nghiên cứu.  
1.6. Kết cấu của luận văn  
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh  
mục các chữ viết tắt và các phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương :  
Phần Mở Đầu  
Chương 1. Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực nghiệm: giúp phân biệt rõ các khái  
niệm cơ bản.  
Chương 2. Thực trạng nghiên cứu trên địa bàn: từ thực trạng công tác đào tạo trên  
địa bàn đưa ra các phương pháp đánh giá được áp dụng hiện nay và lựa chọn mô  
hình Kirkpatrick với phương pháp đánh giá và kỹ thuật đánh giá cụ thể theo từng  
bước nhằm giúp có được một mô hình, kế hoạch đánh giá hiệu quả CTĐT thiết thực  
hơn và rõ ràng hơn căn cứ vào đó xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp.  
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện đánh giá hiệu quả CTĐT đạo đức công vụ đối với  
CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu: Nâng cao  
chất lượng đội ngũ Cán bộ công chức là yêu cầu rất cần thiết đối với đất nước ta  
trong giai đoạn công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước. Trong những năm qua Đảng  
bộ & Chính quyền huyện Xuyên Mộc chủ trương tăng cường công tác hiệu quả  
công tác đào tạo CBCC để nâng cao năng lực phẩm chất của đội ngũ CBCC nhằm  
tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, làm thay đổi vượt bậc trong tư duy và  
thể chế hành chính, qua thực tiễn thực hiện huyện đã gặt hái được nhiều kết quả tốt,  
tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác đào tạo, nâng cao năng lực CBCC  
trên địa bàn. Tuy nhiên bên cạnh những thành công đã đạt được thì công tác đào  
tạo, bồi dưỡng CBCC trên địa bàn huyện vẫn còn một số tồn tại, Do đó để góp phần  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 94 trang yennguyen 16760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo đạo đức công vụ cho cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_hieu_qua_chuong_trinh_dao_tao_dao_duc_cong.pdf