Luận văn Dao động Madden – Julian và mối liên hệ với mưa lớn ở Việt Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
---------------------  
ĐỖ THÙY TRANG  
DAO ĐỘNG MADDEN – JULIAN VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI  
MƯA LỚN Ở VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Hà Nội – Năm 2017  
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
---------------------  
ĐỖ THÙY TRANG  
DAO ĐỘNG MADDEN – JULIAN VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI  
MƯA LỚN Ở VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Khí tượng và khí hậu học  
Mã số: 60440222  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. Ngô Đức Thành  
Hà Nội – Năm 2017  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ .................................................................................3  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ............................................................................6  
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT................................................................7  
MỞ ĐẦU ................................................................................................................8  
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ DAO ĐỘNG MADDEN – JULIAN................. 10  
1.1 Dao động Madden – Julian ......................................................................... 10  
1.1.1 Sự phát hiện và nghiên cứu ban đầu về MJO ...................................... 10  
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của MJO ........................................................... 12  
1.2 Chỉ số đa biến thời gian thực RMM (Real-time Multivariate MJO) ............ 16  
1.3 Một số nghiên cứu về MJO và về ảnh hưởng của MJO đến lượng mưa....... 22  
CHƯƠNG 2 – SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH........................................... 27  
2.1. Nguồn số liệu.............................................................................................. 27  
2.1.1. Số liệu tái phân tích NCEP/NCAR 1................................................... 27  
2.1.2. Số liệu quan trắc phát xạ sóng dài đỉnh tầng khí quyển (OLR)............ 27  
2.1.3. Các đợt mưa lớn diện rộng ở Việt Nam............................................... 28  
2.1.4. Bộ chỉ số RMM của Cơ quan Khí tượng Úc ....................................... 30  
2.2. Xác định hoạt động của MJO...................................................................... 31  
2.3. Thống kê các đợt mưa lớn diện rộng ở Việt Nam trong thời gian có MJO... 32  
2.3.1. Sự xuất hiện trong các pha hoạt động của MJO .................................. 35  
2.3.2. Sự xuất hiện trong các pha theo từng khu vực trên cả nước................. 36  
2.3.3. Sự xuất hiện trong các pha theo từng hình thế thời tiết gây mưa ......... 38  
1
CHƯƠNG 3 – MỐI LIÊN HỆ CỦA MJO VỚI MƯA LỚN Ở KHU VỰC VIỆT  
NAM..................................................................................................................... 43  
3.1. Kết quả trong việc xác định hoạt động của MJO......................................... 43  
3.2. Hoạt động của MJO trên khu vực Việt Nam ............................................... 47  
3.3. Xem xét mối liên hệ của MJO với mưa lớn diện rộng ở Việt Nam.............. 53  
3.3.1. Phân bố các đợt mưa lớn trong từng pha MJO .................................... 53  
3.3.2. Phân bố các đợt mưa lớn ở từng khu vực trên cả nước........................ 55  
3.3.3. Phân bố các đợt mưa lớn theo nguyên nhân gây mưa.......................... 58  
KẾT LUẬN........................................................................................................... 67  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 69  
PHỤ LỤC.............................................................................................................. 73  
2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
Hình 1: Giản đồ cấu trúc cơ bản của MJO trong chu trình. Theo Madden và Julian  
(1972)....................................................................................................................11  
Hình 2: Biểu đồ theo thời gian–kinh tuyến trường chuẩn sai OLR [W/m2](số liệu từ  
Cơ quan quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (National Oceanic and  
Atmospheric Administration – NOAA)) cho thời đoạn từ tháng 07 năm 2009 đến  
tháng 06 năm 2010, lấy trung bình trên khu vực 10OS – 10ON...............................13  
Hình 3: Biểu đồ theo thời gian – kinh tuyến trường chuẩn sai gió vĩ hướng mực  
850hPa (số liệu tái phân tích JRA-55 của Cơ quan khí tượng Nhật Bản) cho thời  
đoạn từ tháng 07 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010, lấy trung bình trên khu vực  
10OS – 10ON..........................................................................................................14  
Hình 4: Biểu đồ không gian trạng thái của MJO biểu diễn các chỉ số RMM (từ  
BoM) dựa trên phương pháp của Wheeler và Hendon (2004). ...............................18  
Hình 5: Tổ hợp của các trường chuẩn sai gió mực 850hPa (số liệu tái phân tích từ  
NCEP/NCAR) và OLR (số liệu từ NOAA) khu vực từ 25OS – 25ON toàn cầu trong  
8 pha của MJO (số liệu của BoM) ở các tháng mùa hè Bắc Bán Cầu, thời đoạn từ  
năm 1981 – 2013. Số lượng ngày trong từng pha được ghi ở góc dưới bên phải mỗi  
biểu đồ...................................................................................................................20  
Hình 6: Tương tự hình 5 nhưng cho thời đoạn mùa đông.......................................21  
Hình 7: Bản đồ phân chia các khu vực trên cả nước (TTKTTVQG) ......................37  
Hình 8: Cấu trúc không gian của hai thành phần trực giao đầu tiên được tính từ số  
liệu đã được tiến hành lọc với dải chu kỳ 20 – 100 ngày. Các giá trị OLR, U850,  
U200 được chuẩn hóa dựa trên phương sai toàn cầu. Tỷ lệ đóng góp của từng biến  
trong hai thành phần trực giao được biểu thị ở góc phải.........................................43  
Hình 9: Chuỗi chỉ số PC1 (đường liền) và PC2 (đường đứt) tái tạo cho năm 2009.44  
3
Hình 10: Hoạt động của MJO năm 2009 xác định dựa trên chỉ số RMM của BoM  
(đường liền) và chuỗi chỉ số ReCal (đường đứt). ...................................................44  
Hình 11: Các điểm trong không gian trạng thái hai chiều (PC1, PC2) cho thời đoạn  
từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2009 (ReCal)..........................................................45  
Hình 12: Phân bố số lượng ngày có MJO hoạt động mạnh trong từng pha dựa trên  
chỉ số RMM (1974 – 2016). Số lượng ngày MJO trong pha được ghi trên các cột  
tương ứng..............................................................................................................47  
Hình 13: Số lượng ngày MJO hoạt động mạnh trong từng pha dựa trên chỉ số RMM  
và xác định theo ReCal (1981 – 2013)...................................................................48  
Hình 14: Phân bố số lượng ngày MJO hoạt động mạnh ở từng tháng trong năm  
(BoM, 1974 – 2016). .............................................................................................49  
Hình 15: Số lượng ngày MJO hoạt động mạnh ở từng tháng trong năm, dựa trên chỉ  
số RMM và ReCal (1981 – 2013)..........................................................................50  
Hình 16: Sự phân bố số lượng ngày MJO mạnh trong các tháng của năm ở 8 pha  
MJO, xác định dựa trên bộ chỉ số RMM (BoM, 1974 – 2016). ..............................51  
Hình 17: Phân bố số lượng ngày MJO ở pha 4 và pha 5 theo các tháng dựa trên chỉ  
số RMM và chỉ số từ ReCal (1981 – 2013)............................................................52  
Hình 18: Số lượng các đợt mưa lớn diện rộng diễn ra khi có MJO mạnh ở 8 pha, xác  
định theo RMM và ReCal (2000- 2013).................................................................54  
Hình 19: Số lượng các đợt mưa lớn diện rộng diễn ra trên từng khu vực khi có MJO  
hoạt động mạnh, xác định dựa trên RMM và ReCal (2000 – 2013)........................55  
Hình 20: Số lượng các đợt mưa lớn diện rộng phân bố trong 8 pha MJO trên từng  
khu vực (MJO mạnh được xác định theo RMM, 2000 – 2013). .............................56  
Hình 21: Tương tự hình 20, cho 8 pha MJO xác định theo ReCal (2000 – 2013). ..57  
Hình 22: Số lượng các đợt mưa lớn ở 8 pha hoạt động của MJO theo từng hình thế  
synop tác động (RMM, 2000 – 2013). ...................................................................60  
4
Hình 23: Trường chuẩn sai trung bình của khí áp bề mặt biển (các đường đẳng trị  
cách nhau 20hPa, màu đỏ biểu thị vùng giá trị âm, màu xanh biểu thị vùng giá trị  
dương) và gió mực 850hPa những ngày xảy ra mưa lớn ở Việt Nam có MJO mạnh  
(2000 – 2013). Các pha MJO xác định theo chỉ số trong RMM. Khu vực hiển thị từ  
10OS – 40ON, 80OE – 140OE trong thời đoạn mùa hè BBC. ...................................61  
Hình 24: Tương tự hình 23 nhưng cho thời đoạn mùa đông BBC. .........................61  
Hình 25: Tương tự hình 22, thống kê dựa trên bộ chỉ số ReCal, 2000 – 2013. .......63  
Hình 26: Trường chuẩn sai trung bình của khí áp bề mặt biển (các đường đẳng trị  
cách nhau 20hPa, màu đỏ biểu thị vùng giá trị âm, màu xanh biểu thị vùng giá trị  
dương) và gió mực 850hPa những ngày xảy ra mưa lớn ở Việt Nam có MJO mạnh  
(2000 – 2013). Các pha MJO xác định theo chỉ số trong ReCal. Khu vực hiển thị từ  
10OS – 40ON, 80OE – 140OE trong thời đoạn mùa hè BBC. ...................................65  
Hình 27: Tương tự hình 26 nhưng cho thời đoạn mùa đông BBC. .........................65  
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 1: Tóm tắt diễn biến một số đợt mưa lớn diện rộng trong năm 2013.............29  
Bảng 2: Các đợt mưa lớn diện rộng diễn ra trong thời đoạn MJO hoạt động mạnh  
năm 2010 dựa trên bộ chỉ số RMM của BoM. .......................................................33  
Bảng 3: Bảng hệ số tương quan giữa hai bộ chỉ số xác định MJO của BoM và  
ReCal. ...................................................................................................................46  
Bảng 4: Phân loại các dạng hình thế synop gây mưa..............................................58  
6
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
BBC  
BoM  
ENSO  
EOF  
Bắc Bán Cầu  
Cơ quan Khí tượng Úc (Bureau of Meteorology)  
El Niño – Dao động nam (El Niño Southern Oscillation)  
Hàm trực giao tự nhiên (Empirical Orthogonal Function)  
Dải hội tụ nhiệt đới (Inter Tropical Convergence Zone)  
Không Khí Lạnh  
ITCZ  
KKL  
MJO  
NBC  
NCEP  
Dao động Madden – Julian (Madden – Julian Oscillation)  
Nam Bán Cầu  
Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia Mỹ (National Centers for  
Environmental Prediction)  
NOAA  
Cơ quan quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (National  
Oceanic and Atmospheric Administration)  
OLR  
PC  
Phát xạ sóng dài (Outgoing Longwave Radiation)  
Thành phần chính (Principal Component)  
Chỉ số MJO đa biến thời gian thực (Real-time Multivariate MJO)  
Thái Bình Dương  
RMM  
TBD  
XTNĐ  
Xoáy Thuận Nhiệt Đới  
7
MỞ ĐẦU  
Dao động Madden – Julian là một dao động nội mùa trong khu vực nhiệt đới,  
ảnh hưởng đến nhiều yếu tố thời tiết như lượng mây bao phủ, lượng mưa, tốc độ và  
hướng gió, nhiệt độ mặt nước biển. Các nghiên cứu cho thấy dao động không chỉ  
hoạt động và ảnh hưởng đối với riêng khu vực nhiệt đới mà còn cả ở khu vực ngoại  
nhiệt đới. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự tác động của dao động  
Madden – Julian đến trường giáng thủy và cho thấy các khu vực khác nhau thì sự  
ảnh hưởng từ dao động Madden – Julian cũng có sự thay đổi.  
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với đa dạng các hình thế thời  
tiết gây mưa tác động. Các đợt mưa lớn diện rộng nếu kéo dài thường kéo theo hệ  
quả như ngập lụt ở vùng trũng, lũ quét hay sạt lở đất ở vùng núi, gây thiệt hại lớn về  
người và tài sản. Các đợt mưa lớn diện rộng không chỉ do một nguyên nhân đơn  
thuần mà thường do sự kết hợp của nhiều hình thế synop gây mưa. Các hoàn lưu tác  
động này không chỉ từ phía đông vào mà còn từ phía bắc tác động xuống hay từ  
phía nam di chuyển lên. Sự phức tạp về địa hình cũng như nguyên nhân gây mưa  
khiến cho các đợt mưa lớn diện rộng ở Việt Nam thường gặp khó khăn trong việc  
nhận định chính xác về cường độ mưa và mức độ ảnh hưởng. Nằm trong khu vực  
nhiệt đới nên hoạt động đối lưu trên khu vực Việt Nam ít nhiều cũng chịu ảnh  
hưởng từ hoạt động của dao động Madden – Julian. Ngoài những tìm hiểu chung,  
luận văn hướng đến tìm hiểu hoạt động của dao động Madden – Julian trên khu vực  
Việt Nam cùng với đó xem xét mối liên hệ giữa hoạt động của dao động với mưa  
lớn diện rộng trên khu vực cả nước. Do vậy, nội dung chính của luận văn bao gồm:  
Chương 1 tổng quan về dao động Madden – Julian, Chương 2 số liệu và phương  
pháp tính, Chương 3 mối liên hệ của dao động Madden – Julian với mưa lớn ở khu  
vực Việt Nam.  
Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Ngô Đức Thành,  
sự hỗ trợ và tạo điều kiện của các thầy cô khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương  
học thuộc trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, sự hỗ trợ  
8
và động viên của các đồng nghiệp phòng Dự báo số trị và viễn thám – Trung tâm  
Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương. Qua đây, học viên xin được gửi lời cảm ơn  
chân thành nhất đến các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ học viên hoàn  
thành luận văn này.  
9
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ DAO ĐỘNG MADDEN – JULIAN  
1.1 Dao động Madden – Julian  
1.1.1 Sự phát hiện và nghiên cứu ban đầu về MJO  
Dao động nội mùa Madden – Julian (MJO) lần đầu tiên được ghi nhận và  
nghiên cứu bởi Madden và Julian (1971) khi phân tích phổ thành phần gió vĩ hướng  
tại trạm đảo Canton (3ON, 172OE) ở mực đẳng áp 850hPa và 150hPa. Dao động này  
nằm trong dải tần số 0.0245 – 0.0190 ngày-1(chu kỳ 41 – 53 ngày). Các đỉnh phổ là  
rõ rệt trong tầng đối lưu thấp, yếu đi hoặc không tồn tại trong các mực từ 700hPa  
đến 400hPa và lại mạnh lên trong tầng đối lưu trên. Các đặc điểm này không ghi  
nhận được ở phía trên mực 80hPa hay trong các thành phần theo phương kinh  
hướng. Việc phân tích phổ cũng được tiến hành đối với giá trị khí áp bề mặt và  
nhiệt độ, từ đó Madden và Julian đưa ra nhận định ban đầu về sự tồn tại của một  
dao động lan truyền theo hướng đông có tính liên kết theo chiều thẳng đứng thuộc  
tầng đối lưu trong trường gió, áp suất và nhiệt độ ở khu vực nhiệt đới vùng trung  
tâm Thái Bình Dương (TBD). Tuy nhiên, thời đoạn nghiên cứu khi đó còn quá ngắn  
(chuỗi số liệu quan trắc chỉ từ 2 năm rưỡi đến 4 năm) và chỉ ở 1 vài trạm nên vẫn  
chưa hiển thị được hết các đặc trưng của dao động này.  
Madden và Julian (1972) bổ sung thêm các bằng chứng khi kéo dài chuỗi số  
liệu nghiên cứu (từ 5 – 10 năm) và đưa ra những mô tả chi tiết hơn về đặc trưng của  
dao động này. Chuỗi số liệu quan trắc khí quyển tại các trạm trong khu vực nhiệt  
đới được đưa ra phân tích phổ để nghiên cứu về quy mô không gian của dao động  
với chu kỳ 40 – 50 ngày. Kết quả cho thấy dao động này có giới hạn trong vùng  
nhiệt đới, là một sóng lan truyền theo hướng đông và biến đổi theo thời gian. Phân  
tích khí áp tại trạm cho thấy những dị thường xuất hiện trong khoảng từ 10ON –  
10OS trên khu vực Ấn Độ Dương và lan truyền theo hướng đông sang khu vực phía  
đông Thái Bình Dương (TBD).  
10  
Hình 1: Giản đồ cấu trúc cơ bản của MJO trong chu trình. Theo Madden và Julian  
(1972).  
Từ các kết quả trên, Madden và Julian đưa ra giản đồ sơ lược về sự lan  
truyền và biến đổi trên quy mô thời gian – không gian vùng xích đạo của dao động  
(hình 1). Biểu tượng mây đối lưu thể hiện khu vực có quá trình tăng cường đối lưu  
và giáng thủy mạnh (trạng thái tăng cường), hai bên vùng tăng cường là khu vực có  
quá trình đối lưu và giáng thủy suy yếu (trạng thái suy giảm). Hai trạng thái này của  
MJO được liên kết bởi hoàn lưu vĩ hướng trong tầng đối lưu. Ở tầng đối lưu dưới  
(mực 850hPa) và lớp sát bề mặt, đới gió tây tăng cường tồn tại ở phía tây của khu  
11  
vực tăng cường đối lưu, đới gió đông nằm ở khu vực phía đông của vùng tăng  
cường đối lưu. Ở tầng đối lưu trên (mực 200hPa) đới gió đổi hướng ngược lại, gió  
đông ở phía tây vùng đối lưu mạnh, còn gió tây ở phía đông. Hệ thống liên kết này  
lan truyền theo hướng đông với tốc độ trung bình khoảng 5m/s. Các đường liền nét  
ở trên và dưới từng vòng hoàn lưu biểu diễn sự biến động trong trường khí áp của  
tầng đối lưu trên và ở mực mặt biển. Madden và Julian (1994) tiếp tục đưa ra những  
tổng hợp cơ bản và đầy đủ hơn về dao động nhiệt đới có chu kì 40 – 50 ngày này.  
Trong đó, biến động của gió vĩ hướng và thế vận tốc ở tầng đối lưu trên cho thấy có  
sự lan truyền trên toàn bộ chu vi trái đất. Các vùng đối lưu trong hệ thống cũng cho  
thấy quá trình di chuyển theo hướng đông. Ngoài ra, dao dộng này cũng là một nhân  
tố quan trọng trong việc xác định thời điểm hoạt động cũng như gián đoạn của gió  
mùa khu vực Ấn Độ và gió mùa Châu Úc.  
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của MJO  
Sự tồn tại của MJO có thể quan sát được trực tiếp qua số liệu quan trắc mà  
không cần phép lọc. Hình 2 hiển thị thời đoạn MJO có cường độ mạnh diễn ra từ  
khoảng cuối tháng 10 năm 2009 đến tháng 2 năm 2010 dựa trên số liệu OLR (Phát  
xạ sóng dài – Outgoing Longwave Radiation). Ngoài ra, quá trình dịch chuyển từ  
tây sang đông theo thời gian cũng được biểu hiện. Zhang (2005) đã tổng hợp lại  
những nét đặc trưng cơ bản của MJO như chu kỳ mang tính nội mùa, quy mô theo  
phương ngang của dao động, sự lan truyền về phía đông, chế độ về mặt địa lý, tính  
biến động liên năm…  
Xie và Arkin (1997) đưa ra phân tích phổ của trường trường gió mực 850hPa  
và trường giáng thủy thời kỳ 1979 – 1998 trên khu vực 20ON – 20OS và 60 – 180OE.  
Kết quả cho thấy dao động có chu kỳ 30 – 90 ngày chiếm ưu thế. Với dao động có  
số sóng bằng 1, cường độ phổ ở các dao động có chu kỳ âm yếu hơn rất nhiều so  
với dao động có chu kỳ dương. Điều này tương đương với các dao động lan truyền  
theo hướng đông chiếm ưu thế.  
12  
Hình 2: Biểu đồ theo thời gian–kinh tuyến trường chuẩn sai OLR [W/m2](số liệu từ  
Cơ quan quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (National Oceanic and  
Atmospheric Administration – NOAA)) cho thời đoạn từ tháng 07 năm 2009 đến  
tháng 06 năm 2010, lấy trung bình trên khu vực 10OS – 10ON.  
Chu kỳ hoạt động của MJO trong khoảng 30 – 90 ngày cho thấy khoảng thời  
gian giữa các sự kiện kế tiếp là bất quy tắc và tốc độ lan truyền của dao động cũng  
có thể thay đổi. Mặc dù được gọi là “dao động” nhưng MJO không biến đổi một  
cách đều đặn mà diễn ra rời rạc.  
Quy mô theo phương ngang của một sự kiện MJO được tính bằng khu vực có  
sự biến động về độ bao phủ mây, rộng khoảng 12000 – 20000km (Rui và Wang,  
1990). Thường chỉ có một sự kiện MJO hoàn thiện tồn tại ở một thời điểm nhất  
định. Đôi khi hai khu vực tăng cường đối lưu của MJO với cường độ không quá  
mạnh có thể tồn tại đồng thời: một khu vực đang bắt đầu hình thành ở vùng Ấn Độ  
Dương, một khu vực khác đang phân rã ở vùng trung tâm Thái Bình Dương. Độ  
13  
rộng của vùng đối lưu tăng cường khá là nhỏ so với quy mô của cả hoàn lưu dao  
động cũng như khu vực suy giảm đối lưu.  
Sự lan truyền với vận tốc trung bình khoảng 5m/s về phía đông là một trong  
những đặc tính cơ bản nhất để phân biệt MJO với những hiện tượng khác trong  
vùng nhiệt đới, ví dụ như sóng Kelvin liên kết đối lưu có sự lan truyền về phía đông  
với tốc độ 15 – 17m/s. Từng sự kiện MJO riêng biệt cũng có vận tốc lan truyền  
khác nhau, tuy nhiên sự biến đổi này không quá lớn. Ngay cả vận tốc lan truyền  
trong từng thời đoạn của một sự kiện MJO cũng không đồng nhất.  
Hình 3: Biểu đồ theo thời gian – kinh tuyến trường chuẩn sai gió vĩ hướng mực  
850hPa (số liệu tái phân tích JRA-55 của Cơ quan khí tượng Nhật Bản) cho thời  
đoạn từ tháng 07 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010, lấy trung bình trên khu vực  
10OS – 10ON.  
Các dấu hiệu đối lưu của MJO thường triệt tiêu ở phần phía đông Thái Bình  
Dương (khoảng kinh tuyến 180OE), tuy nhiên các biến động về gió và khí áp bề mặt  
tiếp tục quá trình lan truyền xa hơn về phía đông như các sóng tự do (không còn sự  
14  
liên kết đối lưu nữa) với tốc độ cao hơn, khoảng 30 – 35m/s (hình 3). Ngoài ra, quá  
trình lan truyền liên tục cũng tồn tại ở các trường trên cao.  
Các kết quả quan trắc cũng cho thấy sự liên kết giữa trường gió vĩ hướng với  
vùng đối lưu tăng cường có sự biến động trong suốt chu trình MJO. Khi MJO ở khu  
vực Ấn Độ Dương, vùng đối lưu phần lớn nằm ở khoảng giữa dị thường gió tây và  
gió đông bề mặt (như mô tả trong hình 1). Khi MJO dịch chuyển đến khu vực Thái  
Bình Dương thì dị thường gió tây bề mặt gần như bao trùm toàn bộ trung tâm đối  
lưu.  
Sự phân bố theo phương thẳng đứng trong trường gió, hơi nước, nhiệt độ, sự  
phân kỳ và đốt nóng phi đoạn nhiệt đều cho thấy sự không đối xứng theo vĩ hướng.  
Phía đông vùng đối lưu là quá trình hội tụ tầng thấp, chuyển động thăng và quá  
trình tăng ẩm. Sự phân kỳ tầng thấp, chuyển động giáng và suy giảm độ ẩm diễn ra  
ở khu vực phía tây của vùng đối lưu. Sự bất đối xứng về đới này tạo điều kiện thuận  
lợi cho sự phát triển của các hệ thống đối lưu mới ở phía đông của vùng đối lưu ban  
đầu cũng như hạn chế sự phát triển đối lưu ở khu vực phía tây, tạo nên sự lan truyền  
theo hướng đông của vùng tăng cường đối lưu.  
Những dấu hiệu đối lưu của MJO thường bị giới hạn trong khu vực Ấn Độ  
Dương và Thái Bình Dương bởi tính bất ổn định của đối lưu chỉ có thể được duy trì  
trên bề mặt biển ấm. Các dấu hiệu của MJO vẫn có thể được phát hiện ở các vùng  
nhiệt đới còn lại trong một vài trường khí tượng khác như nhiệt độ mặt nước biển.  
Hoạt động đối lưu của MJO trên khu vực Lục địa biển (Maritime Continent,  
khoảng từ 90 – 135OE) yếu hơn so với ở các đại dương xung quanh. Theo Salby và  
Hendon (1994), Wang và Li (1994), Zhang và Hendon (1997), Maloney và Sobel  
(2004), các nguyên nhân của hiện tượng trên là:  
- Sự đốt nóng ngày đêm trên đất liền gây ra biến trình ngày rõ nét trong  
hoạt động đối lưu, có xu hướng tranh chấp về mặt độ ẩm và năng lượng  
với MJO.  
- Sự cản trở của địa hình với hội tụ ẩm tầng thấp.  
15  
- Bốc hơi bề mặt bị suy giảm đáng kể trên đất liền.  
Cách giải thích này cũng phù hợp với khu vực nhiệt đới Nam Mĩ. Ở khu vực  
này, quá trình đối lưu sâu vào mùa hè địa phương diễn ra mạnh mẽ giống như trên  
khu vực Tây TBD nhưng các tín hiệu MJO lại yếu hơn rõ rệt.  
Tính mùa trong MJO được ghi nhận trong các thành phần gió vĩ hướng tầng  
thấp và trường giáng thủy (Zhang và Dong, 2004), thể hiện một quá trình chuyển  
dịch dọc theo các vĩ tuyến, ngang qua xích đạo của hai đỉnh cực trị mùa. Cực trị  
mùa đông Bắc Bán Cầu (BBC) nằm ở khu vực Ấn Độ Dương và phía tây TBD với  
vị trí cực đại ở phía nam xích đạo. Cực trị mùa hè BBC nằm ở khu vực phía bắc  
Vịnh Bengal và vùng biển phía nam Trung Quốc, và một vùng cực trị riêng biệt  
khác ở khu vực phía đông TBD. Thời điểm mạnh nhất trong mùa hè Nam Bán Cầu  
(NBC) có mối liên quan với gió mùa mùa hè Châu Úc (Hendon và Liebmann,  
1990), trong khi thời điểm đạt cực trị thứ 2 vào mùa hè BBC liên quan đến gió mùa  
mùa hè Châu Á (Lawrence và Webster, 2002). Sự dịch chuyển ngang qua xích đạo  
mạnh mẽ nhất là ở vùng tây TBD trong cả trường gió và trường giáng thủy. Trên  
khu vực Ấn Độ Dương, quá trình chuyển dịch này ở trường giáng thủy yếu hơn.  
Trên vùng TBD, tính biến động liên năm trong sự biến đổi của trường gió vĩ  
hướng ở tầng đối lưu dưới là nổi bật hơn so với ở tầng đối lưu trên. Trong suốt pha  
nóng của ENSO (El Niño), khi phần rìa phía đông của vùng biển ấm mở rộng về  
hướng đông, hoạt động của MJO cũng vậy. MJO trên vùng TBD xuất hiện vô cùng  
mạnh mẽ trước thời điểm cực đại của pha nóng ENSO và suy yếu một cách bất  
thường ngay sau giai đoạn cực trị của ENSO và trong suốt pha lạnh. Mối liên hệ  
đồng thời giữa mức độ hoạt động của MJO trên toàn cầu với chỉ số nhiệt độ bề mặt  
biển (SST) biểu thị cho ENSO được chỉ ra là khá yếu. Zhang (2005) cho rằng sự  
biến động liên năm của MJO trên toàn cầu có thể bị chi phối nhiều bởi động lực nội  
khí quyển hơn là bởi các điều kiện bề mặt.  
1.2 Chỉ số đa biến thời gian thực RMM (Real-time Multivariate MJO)  
16  
Việc xác định và theo dõi hoạt động của MJO được phát triển dựa trên nhu  
cầu nghiên cứu về MJO. Có nhiều bộ chỉ số theo thời gian được xây dựng để phục  
vụ cho việc giám sát hoạt động của MJO trên toàn cầu như chỉ số MJO đa biến thời  
gian thực (Real-time Multivariate MJO – RMM), chỉ số MJO dựa trên thế vận tốc  
(Velocity Potential MJO – VPM), chỉ số MJO dẫn xuất từ OLR (OLR-based MJO  
index – OMI), trong đó RMM là bộ chỉ số thường được sử dụng nhất trong các  
nghiên cứu về MJO.  
Wheerler và Hendon (2004) đã giới thiệu bộ chỉ số RMM, được sử dụng để  
theo dõi và giám sát hoạt động của MJO trên toàn cầu. Chỉ số này được đưa ra dựa  
trên việc thực hiện phân tích trực giao các trường khí tượng: OLR từ dữ liệu vệ tinh  
của NOAA (Liebmann và Smith, 1996), gió vĩ hướng mực 850hPa (U850) và  
200hPa (U200) từ số liệu tái phân tích NCEP/NCAR (Kalnay, 1996). Nghiên cứu  
này được phát triển và thực hiện tại Cơ quan khí tượng Úc (Australian Bureau of  
Meteorology – BoM) với khả năng hiển thị và trích xuất một cách hiệu quả những  
biến động trong khí quyển có liên quan đến MJO.  
Bộ số liệu được sử dụng để phân tích trực giao thuộc thời đoạn 1979 – 2001.  
Trước khi đưa vào phân tích trực giao, các trường đầu vào được tiến hành loại bỏ  
những thành phần dao động tần số thấp như trường trung bình theo thời gian, ba  
hàm điều hòa đầu của chu trình mùa khí hậu thời đoạn 1979 – 2001, các biến động  
liên năm (liên quan đến ENSO), biến động 10 ngày và khử giá trị trung bình 120  
ngày trước đó của từng ngày. Các giá trị chuẩn sai hàng ngày sau khi tiến hành lọc  
được lấy trung bình theo vĩ tuyến trong miền tính là từ 15ON – 15OS quanh xích đạo.  
Các trường khí tượng trên được chuẩn hóa bằng phương sai toàn cầu của từng  
trường trước khi đưa vào tính trực giao.  
Sau khi tiến hành trực giao thu được không gian trực giao thứ nhất EOF1 và  
thứ hai EOF2 chiếm tổng cộng 25% độ biến động của trường số liệu ban đầu, trong  
khi EOF3 chỉ chiếm 6.1%. Không gian trực giao thứ nhất cho thấy trạng thái tăng  
cường đối lưu trên khu vực Lục địa biển với dị thường gió tây tầng thấp bao trùm  
17  
khu vực Ấn Độ Dương và Lục địa biển trong khi dị thường gió đông chiếm ưu thế  
trên khu vực Thái Bình Dương. Không gian trực giao thứ hai mô tả trạng thái vùng  
tăng cường đối lưu nằm trên khu vực Thái Bình Dương.  
Chuỗi thành phần chính theo thời gian của hai không gian trực giao đầu (PC1  
và PC2) cũng cho thấy những dao động trong khoảng chu kỳ 30 – 80 ngày ở từng  
thành phần chiếm 60% các biến động trong chuỗi thành phần chính đó. Ngoài ra,  
mức độ liên kết trong PC1 và PC2 cũng lớn hơn mức độ liên kết giữa 2 chuỗi thành  
phần chính đầu với các chuỗi thành phần chính khác ở khoảng chu kỳ 30 – 80 ngày.  
Do vậy, chuỗi giá trị thành phần chính theo thời gian tạo thành cặp chỉ số MJO đa  
biến thời gian thực thứ nhất RMM1 (PC1) và thứ 2 RMM2 (PC2).  
Trạng thái của MJO được xác định như là một điểm trong không gian 2 chiều  
của các chỉ số RMM1 và RMM2. Hình 4 là biểu đồ không gian trạng thái MJO giai  
đoạn từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2009.  
Hình 4: Biểu đồ không gian trạng thái của MJO biểu diễn các chỉ số RMM (từ  
BoM) dựa trên phương pháp của Wheeler và Hendon (2004).  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 40150 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Dao động Madden – Julian và mối liên hệ với mưa lớn ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_dao_dong_madden_julian_va_moi_lien_he_voi_mua_lon_o.pdf