Tóm tắt Luận văn Đức tin và lý tính trong Triết học Tây Âu trung cổ

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
PHAN CÔNG LỰC  
ĐỨC TIN VÀ LÝ TÍNH TRONG TRIẾT HỌC  
TÂY ÂU TRUNG CỔ  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60 22 03 01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Sơn Hoan  
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Hữu Ái  
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thế Tư  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn  
tốt nghiệp thạc sĩ Triết học họp tại trường Đại học Kinh  
tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 20 tháng 08 năm 2017  
Có thể tìm thấy luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Triết học Tây Âu trung cổ hình thành trong khoảng từ thế kỷ  
V- XV, đây là thời kỳ tôn giáo và thần học lên ngôi thống trị đời  
sống tinh thần của con người trong xã hội. Tôn giáo và thần học  
buộc các hình thái ý thức xã hội khác phải phụ thuộc vào nó và tất cả  
các nội dung của pháp luật, khoa học tự nhiên, triết học,...đều phải  
trình bày sao cho phù hợp với nội dung các học thuyết được nhà thờ  
thừa nhận. Do đó, khi bàn đến triết học Tây Âu trung cổ hầu hết các  
nhà nghiên cứu đều cho rằng đây là thời kỳ tăm tối, không để lại gì  
nhiều cho lịch sử nhân loại về mặt khoa học, lẫn tư tưởng triết học.  
Triết học trở thành công cụ của thần học, chịu sự chi phối toàn diện  
của thần học ở tất cả các mặt như bản thể luận, nhận thức luận, đạo  
đức và nhân sinh – xã hội, vv,... Triết học trung cổ không còn chức  
năng tìm kiếm, khám phá chân lý mà chỉ loanh quanh vấn đề đức tin  
và lý tính.  
Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và  
những phát minh mới đầy táo bạo liên tiếp tạo ra các vấn đề khác  
buộc triết học và thần học phải giải quyết. Trong mối tương quan  
giữa con người với thế giới, với vũ trụ, với đồng loại và với Thượng  
Đế, thì vấn đề đức tin và lý tính luôn là đề tài nóng bỏng được đặt ra  
như một trong những vấn đề cấp bách nhất xuyên suốt chiều dài lịch  
sử tư tưởng nhân loại. Ngày nay, với sự phát triển của tư duy lý luận,  
việc nghiên cứu triết học Tây Âu đã được quan tâm hơn nhưng các  
công trình chỉ dừng lại ở việc đề cập chung chung, chưa có sự nhìn  
nhận đầy đủ và toàn diện về vấn đề đức tin và lý tính.  
Ở nước ta hiện nay, đang trong quá trình đổi mới, mở rộng  
giao lưu và hội nhập quốc tế để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi  
2
mới, nhất là đổi mới tư duy lý luận cho phù hợp với thực tiễn và sự  
phát triển khoa học hiện đại. Bên cạnh việc nghiên cứu triết học Mác  
– Lênin, chúng ta cần phải mở rộng, đi sâu nghiên cứu một cách toàn  
diện hơn về những thành tựu của tư duy lý luận và tư tưởng của các  
thời đại triết học, nhất là triết học phương Tây nên việc nghiên cứu  
quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ mà trung tâm là vấn  
đề đức tin và lý tính sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện,  
khách quan hơn về sự phát triển của một thời kỳ triết học.  
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề “Đức tin và  
lý tính trong triết học Tây Âu trung cổ” làm đề tài luận văn.  
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu  
- Mục tiêu: Làm sáng tỏ quan niệm của các nhà triết học Tây  
Âu trung cổ về vấn đề đức tin và lý tính; nhằm khẳng định giá trị của  
vấn đề này.  
- Để đạt mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:  
+ Làm rõ điều kiện, tiền đề ra đời của vấn đề đức tin và lý  
tính trong triết học Tây Âu trung cổ.  
+ Làm rõ quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu ở Tây  
Âu trung cổ về vấn đề đức tin và lý tính.  
+ Đánh giá giá trị và hạn chế của vấn đề đức tin và lý tính  
trong triết học Tây Âu trung cổ.  
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Đức tin và lý tính trong triết học  
Tây Âu trung cổ.  
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về vấn  
đề đức tin và lý tính trong quan niệm của các triết gia tiêu biểu trong  
triết học Tây Âu trung cổ như: Tertullien, Augustine, Anselme de  
Cantorbéry, Thomas d’Aquin.  
3
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở hế giới quan và  
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí  
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, tư  
tưởng nói chung, về tôn giáo và triết học nói riêng.  
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn còn sử dụng tổng hợp  
hệ thống các phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng chủ yếu dựa  
trên các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp,  
quy nạp và diễn dịch, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, logic – lịch  
sử, vv..  
5. Bố cục của luậnvăn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham  
khảo, luận văn có nội dung chính gồm 3 chương và 7 tiết:  
Chương 1: Khái luận chung về triết học Tây Âu trung cổ  
Chương 2: Đức tin và lý tính vấn đề trong triết học Tây Âu  
trung cổ  
Chương 3: Giá trị và hạn chế của vấn đềđức tin và lý tính  
trong triết họcTây Âu trung cổ  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Trong thời gian dài do nhiều nguyên nhân khách quan và  
chủ quan, khi nhắc đến triết học Tây Âu trung cổ, người ta thường  
quan niệm đây là thời kỳ tăm tối, không để lại gì nhiều cho lịch sử  
nhân loại về khoa học cũng như triết học. Các nhà nghiên cứu do thù  
địch hoặc dững dưng với tôn giáo nên không thích tìm hiểu về triết  
học trung cổ. Hiện nay, việc nghiên cứu triết học Tây Âu trung cổ,  
mà đặc biệt là vấn đề đức tin và lý tính đã có một số công trình  
nghiên cứu quan tâm đến, nhưng nhìn chung các công trình chưa  
được tiến hành một cách toàn diện và có hệ thống, chủ yếu chỉ dừng  
4
lại ở lại mức độ sơ lược, đại cương, chưa mang tính toàn diện. Có thể  
kể đến các công trình sau:  
Đầu tiên là công trình “Các phạm trù văn hoá trung cổ”  
(1998), A. J. A. Gurevich; “Lịch sử triết học Tây phương, tập III:  
“Triết học thời trung cổ” (2000), Lê Tôn Nghiêm; “Triết học trung  
cổ Tây Âu” (2003) của Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch; “Lịch sử  
triết học và các luận đề” (2004), của Sumel Enoch Stump; “Đại  
cương lịch sử triết học phương Tây” (2006), của Đỗ Minh Hợp,  
Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn; “Lịch sử triết học Tây  
phương” (2006) của Nguyễn Tiến Dũng; “Triết học thượng cổ Tây  
phương ảnh hưởng trên Cơ đốc giáo” (2010), của Phan Văn Tình;  
“Hành trình khám phá thế giới triết học phương Tây” (2012),  
William F. Lawhead; “Con người thời trung cổ” (2009) của Robert  
Fossier; “Lịch sử triết học phương Tây”, tập 1” (2014) của Đỗ Minh  
Hợp….  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây phần nào đã  
ít nhiều đề cập đến vấn đề đức tin và lý tính trong quan niệm của các  
nhà triết học Tây Âu trung cổ, nhưng vẫn còn sơ lược, chưa có một  
công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề đức tin và lý tính trong  
triết học Tây Âu trung cổ mà hầu hết chỉ đề cập một cách khái quát  
và gián tiếp thông qua việc phân tích tư tưởng của các triết gia, còn  
nhiều khía cạnh chưa được phân tích, làm rõ. Do đó, để có cái nhìn  
toàn diện khách quan và đánh giá đúng giá trị của triết học Tây Âu  
trung cổ, đặc biệt là vấn đề đức tin và lý tính, chúng tôi thấy cần phải  
có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về vấn đề này.  
5
CHƢƠNG 1  
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC  
TÂY ÂU TRUNG CỔ  
1.1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT  
HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ  
1.1.1. Điều kiện lịch sử - chính trị  
Thế kỷ III – IV, ở các nước Tây Âu đời sống xã hội diễn ra  
những biến đổi sâu sắc. Đây là giai đoạn chuyển tiếp của xã hội đánh  
dấu bằng sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và ra đời của chế độ  
phong kiến. Mở đầu bằng sự tan rã của đế chế La Mã vào năm 476  
và sự ra đời của hàng loạt các quốc gia mới như Anh, Pháp, Ý, Tây  
Ban Nha, Đức,… Trong buổi đầu của sự chuyển biến từ chế độ nô lệ  
sang chế độ phong kiến đã làm cho đời sống xã hội ở các nước Tây  
Âu hoàn tàn bị suy sụp. Đời sống xã hội là một cái thang tôn ti trật tự  
phức tạp.  
Bên cạnh đó, trong lòng xã hội Tây Âu còn diễn ra nhiều  
cuộc chiến tranh lớn kéo dài hàng trăm năm và cộng với đó là những  
cuộc nội chiến nhỏ giữa các lãnh chúa với nhau đã làm cho thế lực  
của lãnh chúa yếu đi. Chế độ phong kiến phân quyền trở thành  
chướng ngại cho sự phát triển. Trong khi đó thành thị ngày càng  
củng cố về địa vị kinh tế, chính trị. Tất yếu, họ hướng tới việc xóa bỏ  
chế độ phong kiến phân quyền để hình thành thị trường dân tộc  
thống nhất để dễ hoạt động. Nhà Vua đã dựa vào thị dân đã dựa và  
thị dân để xóa bỏ thế lực của các lãnh chúa, chế độ phong kiến tập  
quyền xuất hiện. Khi chế độ phong kiến tập quyền hình thành sẽ tạo  
điều kiện cho kinh tế, văn hóa, khoa học có điều kiện phát triển  
mạnh hơn.  
6
1.1.2. Điều kiện văn hóa – xã hội  
Với sự sụp đổ của đế chế La Mã, chế độ chiếm hữu nộ rơi  
vào khủng hoảng trầm trọng, kinh tế bị sự suy sụp hoàn toàn, nền  
văn hóa huy hoàng thời cổ đại cũng vì thế mà dần lụi tàn. Chỉ còn lại  
thứ duy nhất mà không bị xâm phạm, đó là nhà thờ và các tu viện  
của đạo Cơ đốc giáo. Chuyển sang thời kỳ phong kiến nền văn hóa  
tinh thần các nước Tây Âu cũng dần phát triển, nhưng hết sức chật  
vật và chậm chạm. Tất cả các lĩnh vực trong đời sống văn hóa tinh  
thần của xã hội như triết học, pháp luật,chính trị, giáo dục, văn học  
nghệ thuật, điêu khắc, hội họa, âm nhạc,…đều chịu sự chi phối của  
giáo hội và mang nặng tính chất thần học.  
Tuy nhiên đến thế kỷ XI, nhiều cuộc Thập tự chinh (Chiến  
tranh chữ thập) dưới danh nghĩa bảo vệ tôn giáo chính thống chống  
lại tà giáo liên tiếp diễn ra, các cuộc Thập tự chinh đã đưa đến kết  
quả vượt ra khỏi dự tính ban đầu và chính nhờ đây đã thúc đẩy sự  
tiếp biến, cọ sát, giao lưu giữa các nền văn hoá Đông – Tây. Bên  
cạnh đó các lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng bắt đầu khôi phục và  
phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIII như: thiên văn học và toán học,  
cơ học, vật lý học, hoá học,…. cũng đã tác động đến những đặc điểm  
văn hóa – xã hội Tây Âu trung cổ, tạo ra những điều kiện và tiền đề  
cho sự phát triển của triết học Tây Âu trung cổ.  
1.2. ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU  
TRUNG CỔ  
Khác với triết học thời cổ đại là nơi sở hữu chân lý, triết học  
Tây Âu trung cổ lại tách rời cuộc sống hiện thực và xoay quanh các  
nhà thờ, tu viện và tin tưởng rằng chân lý được mặc khải trong Kinh  
thánh. Nên triết học thời này mang những đặc trưng cơ bản sau:  
7
1.2.1. Triết học bị chi phối bởi tƣ tƣởng thần học và tôn  
giáo  
Triết học Tây Âu trung cổ, là thời kỳ mà cả xã hội chịu sự  
chi phối rất mạnh bởi tư tưởng tôn giáo và thần học Cơ đốc giáo,  
triết học chỉ là "tôi tớ", cho thần học. Cho nên, nội dung triết học  
trong thời kỳ này cũng chỉ nhằm chứng minh cho những tín điều Cơ  
đốc giáo, chứng minh sự tồn tại của Thượng đế phù hợp với nội dung  
Kinh Thánh.  
Trong điều kiện đó, chủ nghĩa kinh viện trở thành triết học  
chính thống. Cả xã hội đặt dưới sự chi phối và bị ngự trị bởi tư tưởng  
duy tâm, tôn giáo và thần học. Triết học phục tùng thần học, tôn giáo  
áp đặt sự thống trị của mình lên triết học, tư tưởng khoa học, tự do.  
Đây cũng là thời kỳ, mà các nhà thần học được phép tuyên bố rằng  
mọi tri thức của nhân loại đều có thể rút ra từ Kinh Thánh (Cựu ước  
và Tân ước); tất cả những gì trái với Kinh Thánh đều đáng nguyền  
rủa và xử tội.  
1.2.2. Mối quan hệ giữa đức tin và lý tính – vấn đề trung  
tâm của triết học Tây Âu trung cổ  
Một trong những vấn đề trung tâm mà các nhà triết học Tây  
Ây trung cổ quan tâm, đó là mối quan hệ giữa đức tin và lý tính. Đây  
là vấn đề lớn trong triết học nó được bàn cãi suốt thời kỳ trung cổ.  
Đến hiện nay, vấn đề này còn được nhiều triết gia đưa ra để bàn luận  
xuyên suốt trong lịch sử triết học. Từ việc xác định đức tin tôn giáo  
là điểm xuất phát của mọi quan hệ với lý tính, các nhà triết học đã  
đưa ra khẳng định trong sự tồn tại của con người cần đức tin hơn cần  
lý tính. Họ coi đức tin tôn giáo giữ vị trí vai trò hàng đầu trong quan  
hệ với lý tính.  
8
1.2.3. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ  
nghĩa duy danh  
Cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực  
diễn ra xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học, là sự thể hiện của hai  
khuynh hướng đối lập nhau trong triết học, phản ánh cuộc đấu tranh  
giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội có đại vị và quyền lợi  
khác nhau trong chế độ phong kiến. Trong cuộc đấu tranh dai dẳng  
đó, Cơ đốc giáo chính thống có xu hướng nghiêng về phái duy thực,  
nên các học thuyết của phái duy thực tìm cách giải quyết những vấn  
đề có tính chất thần học. Còn chủ nghĩa duy danh biểu hiện khuynh  
hướng đối lập, thể hiện trong một số trào lưu theo tinh thần dị giáo,  
đôi khi chuyển thành sự phản kháng trực tiếp chống lại giáo hội.  
Trong cuộc đấu tranh đó các trào lưu triết học duy danh đã đem đến  
luồng sinh khí mới. Đó là sự nhận thức thế giới thông qua kinh  
nghiệm thực tiễn, là sự giải phóng và đề cao khoa học tự nhiên vốn  
là môn học bị triết học chính thống khinh rẻ bước đầu thoát khỏi sự  
chi phối của thần học, sự tăm tối và trì trệ nên chủ nghĩa duy danh có  
khuynh hướng đi tới chủ nghĩa duy vật, nhưng nó vẫn chưa thoát  
khỏi sự chi phối của thần học, cũng như tính chất hạn chế và phiếm  
diện của siêu hình học. Nhưng đây cũng là tiền đề cho sự phát triển  
mới của triết học và khoa học tự nhiên sau này.  
1.2.4. Triết học Tây Âu trung cổ bàn về con ngƣời với tƣ  
cách là một sinh linh nhỏ bé, mang nặng tội tổ tông  
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm do  
Thượng đế sáng tạo ra theo hình ảnh của Ngài, mọi số phận, niềm  
vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng đế xếp đặt.  
Nhưng con người lại muốn vượt lên trên, đứng ngang hàng với Chúa  
và chiếm cho mình những quyền của Chúa. Điều này dẫn đến con  
9
người vi phạm những lời răn của Chúa, không tuân những yêu cầu  
đạo đức được ghi nhận trực tiếp trong Kinh Thánh. Nên con người  
phạm tội lỗi là điều không thể tránh khỏi và Kinh Thánh vạch ra đây  
như là cội nguồn của tội tổ tông.  
Tội tổ tông thể hiện ở chỗ con người vì không tuân lệnh của  
Chúa, đã trái cấm từ cây nhận biết điều thiện điều ác. Sau khi ăn trái  
cấm con người đã phản bội lại Thiên Chúa bằng tội lỗi, tỏ thái độ  
không cam chịu trước hạn chế, không muốn chịu gánh nặng trách  
nhiệm, hơn nữa là thái độ muốn trở thành Chúa. Nên tội lỗi đầu tiên  
con người mắc phải là có thiên hướng dựa vào bản thân mình trong  
vấn đề thiện – ác, bởi trong Chúa con người đã được thiền định tất  
cả, vì vậy mọi tham vọng tự do, toan tính, ham muốn, cố chấp chỉ là  
biểu hiện của tội tổ tông. Tội lỗi không những trở thành đặc tính tất  
yếu của con người trần tục mà nó còn đi vào lịch sử phát triển của  
loài người – xã hội loài người. Đó là sức mạnh di truyền của tội tổ  
tông và để tránh được tội lỗi trên con người chỉ có thể quay về với  
Chúa.  
10  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1  
Triết học Tây Âu trung cổ ra đời, phát triển hợp quy luật, thể  
hiện xu hướng vận động không đảo ngược của lịch sử nhân loại. Mặc  
dù thời kỳ đầu xét trên bình diện tư duy triết học và thế giới quan  
khoa học là một bước lùi so với thời kỳ cổ đại. Nhưng xét trong tổng  
thể của của tiến trình vận động, phát triển của lịch sử thì những thành  
quả của kinh tế văn hoá, khoa học của Tây Âu thời trung cổ là những  
tiền đề tất yếu cho sự phát triển liên tục của lịch sử Châu Âu.  
Với đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội nên triết học Tây Âu  
trung cổ mang những đặc trưng riêng và trung tâm của triết học thời  
kỳ này là vấn đề đức tin và lý tính, là cuộc đấu tranh của chủ nghĩa  
duy danh và chủ nghĩa duy thực. Qua đó cho thấy sự tồn tại và phát  
triển của triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ không phải là sự đứt  
đoạn, mà nó chỉ là bước lùi hợp quy luật của sự phát triển, đúng quy  
luật đóng vai trò chuẩn bị cho sự phát triển mới của triết học trong  
giai đoạn mới.  
11  
CHƢƠNG 2  
ĐỨC TIN VÀ LÝ TÍNH VẤN ĐỀ CỦA TRIẾT HỌC  
TÂY ÂU TRUNG CỔ  
2.1. KHÁI NIỆM “ĐỨC TIN”, “LÝ TÍNH”  
2.1.1. Khái niệm đức tin  
Đức tin chính là niềm tin bất chấp hoặc thậm chí có thể vì…  
thiếu bằng chứng. Đức tin, là sự tin tưởng không dựa trên cơ sở thực  
tế [25, tr. 15].  
2.2. Khái niệm lý tính  
Trong “Từ điển triết học”, lý tính được hiểu là phương thức  
tìm ra những nguyên nhân và bản chất của các hiện tượng, xem xét  
chúng một cách toàn diện, vạch rõ sự thống nhất của các mặt đối lập,  
còn lý trí được hiểu là phương thức suy lý đúng đắn, trình bày những  
tư tưởng của mình một cách nhất quán [81 tr. 344].  
2.2. ĐỨC TIN VÀ LÝ TÍNH TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC  
GIÁO PHỤ CƠ ĐỐC GIÁO TIÊU BIỂU  
2.2.1 Quan niệm của Tertullien  
Tertullien là nhà triết học đồng thời là nhà thần học Cơ đốc  
giáo, là một trong những đại diện tiêu biểu của giáo phụ học.Trong  
quan niệm của mình Tertullien thể hiện sự đối lập gay gắt giữa triết  
học và thần học, giữa lý tính sáng suốt và đức tin mù quáng. Ông đã  
đem đối lập chân lý của Chúa với chân lý của con người và đưa ra  
luận điểm nổi tiếng mang đầy đủ đặc điểm thế giới quan thần học Cơ  
đốc giáo: “Tôi tin, vì điều đó là phi lý” [Dẫn theo, 28, tr. 175]. Với  
luận điểm này Tertullien đã phân rõ ranh giới giữa lý tính và đức tin  
tôn giáo. Theo ông, cái quan trọng nhất đối với mọi tôn giáo là ở chỗ  
12  
tin và phải tin. Từ đó, Tertullien đã giải quyết các luận điểm của  
mình từ lập trường phi lý tính, đề cao và ca ngợi lòng tin mù quáng.  
Tertullien cũng đem đối lập đức tin với khoa học về đức tin  
và phân rõ ranh giới giữa lý tính và đức tin tôn giáo. Theo ông, lý  
tính chỉ nhận thức được giới tự nhiên, còn đức tin tôn giáo thì vượt ra  
ngoài giới hạn đó, mục đích của nó là nhận thức Thượng đế. Giữa lý  
tính và đức tin tôn giáo chỉ được chọn một trong hai con đường. Ông  
cho rằng, con đường lý tính (triết học) là đầy gian nan, lầm lỗi, còn  
con đường đức tin (Cơ đốc giáo) là con đường của sự bình an và hy  
vọng. Tertullien đã phê phán tri thức triết học và nhấn mạnh ưu thế  
thuộc về thần học.  
Tertullien là người đầu tiên sử dụng cấu trúc ba ngôi. Theo  
ông, Chúa là đấng sáng thế ban đầu, nên Chúa là gốc, con của Chúa  
là thân, thánh thần là quả. Mọi thứ bậc trên thế giới từ một cội nguồn  
chung mà ra nên ông chủ trương chỉ có một đức tin ở Thiên Chúa là  
đặc trưng cơ bản của tư tưởng Cơ đốc giáo.  
Với đức tin là nền tảng của mọi hành động, Tertullien quan  
niệm về tự do hay về sự phân chia xã hội là khuôn mẫu của Cơ đốc  
giáo chính thông, mang đậm dấu ấn của đức tin. Xem xét từ góc độ  
đức tin, Tertullien đã phân chia xã hội thành hai phe: “phe quỷ” và  
“phe thần” với những nét tương phản. Tư tưởng này của ông, mang  
đậm dấu ấn của xã hội La Mã thời chuyển tiếp. Một mặt, ông phủ  
nhận vai trò của lý tính, nhưng mặt khác vẫn phải chung sống với các  
tín đồ đa thần giáo.  
Tertullien đã đứng trên lập trường phi lý tính để giải quyết  
các vấn đề triết học và tỏ thái độ ác cảm với triết học duy lý. Tuy  
nhiên, ông không phải là người xây dựng hệ thống triết lý cứng nhắc,  
không tiếp thu các giá trị triết học cổ đại, nhưng vì là nhà thần học  
13  
nên cơ bản tư tưởng là hạ thấp tri thức và lý tính, đề cao đức tin, thù  
địch với triết học dị giáo.  
2.2.2. Quan niệm của Augustine  
Augustine là một trong những tên tuổi lớn, người có sức ảnh  
hưởng nhất đối với sự phát triển của Cơ đốc giáo. Trong quan niệm  
về vấn đề đức tin và lý tính, Augustine đã xây dựng học thuyết của  
mình trên cơ sở dung hòa đức tin Cơ đốc giáo, tư tưởng của chủ  
nghĩa Plato mới và sự hiểu biết về Thiên Chúa qua nội dung Kinh  
Thánh để biện hộ giáo điều cho Cơ đốc giáo. Ông đưa ra luận điểm:  
“tin để hiểu”, “đức tin đi trước nhận thức” để đối lập với quan niệm  
“hiểu để tin”. Theo đó, đức tin là điều kiện tiên quyết, chứ không  
phải là điều kiện đủ của nhận thức. Tin chỉ là bước đầu trên con  
đường đi đến chân lý và hạnh phúc. Con người không chỉ tin mà cần  
phải suy nghĩ về những gì mình tin. Tin và suy nghĩ không phải là  
hai con đường độc lập, mà có thể thay thế cho nhau. Tin luôn là trạng  
thái tâm thức cần cho cuộc sống hằng ngày, nhưng tin còn đòi hỏi sự  
bỏ túc bằng lý tính.  
Để phân biệt đức tin với lý tính, Agustine đem đức tin đối  
lập với tri thức. Theo ông, để đạt được tri thức chỉ có thể nhờ vào  
kinh nghiệm trực tiếp hay một sự chứng minh hợp lý giống như  
trong toán học hoặc những chứng minh chính xác khác. Còn đức tin  
là hình thức tri thức thấp kém hơn lý tính, tuy đức tin luôn luôn là  
một trạng thái tâm thức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Theo đó,  
tin đòi hỏi phải được dẫn dắt bằng lý tính và chỉ có thể thực hiện một  
cách đầy đủ được trong sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa, suy tư bằng lý  
tính căn cứ trên tín ngưỡng.  
Với Agustine đức tin không phải là cái gì đó cứng nhắc hay  
chỉ nhận thức một lần là xong, mà đòi hỏi lý tính luôn khám phá và  
14  
kiếm tìm. Agustine đứng trên lập trường thần học để giải quyết vấn  
đề chân lý. Theo ông, ai không biết chân lý thì không có sự khôn  
ngoan và chân lý là chuẩn mực sự tự ý thức của con người. Để đạt  
được chân lý ta cần gạt bỏ hoài nghi, bởi cho dù nghi ngờ thế nào đi  
chăng nữa thì chúng ta cũng phải tin rằng chúng ta đang tồn tại, đang  
vận động, đang suy nghĩ. Mặc khác, chân lý cũng có thể tìm kiếm,  
trong từng biến cố, bằng sự cởi mở, hòa hợp với những biến cố đó,  
chứ không phải bằng cách khép mình để có đón nhận những giá trị  
vượt trội hơn. Trong đó, chân lý khoa học cũng là một kiểu đức tin  
đặc biệt, nhưng ở đó đức tin không kiểm soát lý tính mà lý tính kiểm  
soát đức tin. Đức tin đòi hỏi đối tượng của nó phải được lý tính hiểu  
biết, phân tích; còn lý tính khi nghiên cứu cho đến cùng, phải chấp  
nhận điều đức tin trình bày. Lý tính và đức tin không tách biệt nhau,  
không làm cho con người mất khả năng nhận biết chính mình, nhận  
biết thế giới xung quanh.  
Agustine cũng cố gắng vượt qua đức tin thuần tuý của  
Tertullien, dành cho lý tính một vị thế danh dự trong tương quan với  
đức tin. Ông cho rằng, tri thức, triết học, thế giới và nhân loại chỉ có  
thể hiểu được qua ý nghĩa tôn giáo của chúng, vì theo ông Kinh  
Thánh đủ giải đáp những vấn đề thuộc về đạo đức và trí tuệ.  
Trong nhận thức luận của mình Agustine cho rằng, lý tính  
không thể hoạt động ngoài đức tin. Đức tin và lý tính không phải là  
hai vấn đề tách biệt nhau mà chúng có thể thay thế cho nhau đưa ta  
đến chân lý. Theo Agustine, để nhận thức được chân lý thiêng liêng,  
tuyệt đối, cần thanh tẩy linh hồn, có đức tin trong sáng, lành mạnh sẽ  
được đến với vương quốc của Chúa. Chân lý thiên khải cao hơn chân  
lý triết học và khoa học.  
15  
2.3. ĐỨC TIN VÀ LÝ TÍNH TRONG QUAN NIỆM  
CỦA MỘT SỐ NHÀ TRIẾT HỌC KINH VIỆN TIÊU BIỂU  
2.3.1. Quan niệm của Anselme de Cantorbéry  
Anselme là một trong những nhà kinh viện nổi tiếng, tư  
tưởng của ông chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Agustine, cũng như  
Agustine, ông tin tưởng là đức tin cần thiết phải đi trước hiểu biết.  
Anselme đã xây dựng khởi điểm tư tưởng của mình trên cùng quan  
điểm với Agustine. Ông đưa ra công thức “Tôi tin để cho được am  
hiểu” hay “Đức tin tìm hiểu lý tính”. Theo ông, đức tin là điểm khởi  
đầu, là điều kiện cho sự hiểu biết, còn lý tính giúp am hiểu thêm đức  
tin, đức tin không hạ thấp vai trò lý tính mà nó hướng dẫn và cung  
cấp cho lý tính nguồn chất liệu để mở rộng và kiện toàn hơn đức tin.  
Trong chương một của sách Proslogium ông viết: “Tôi không tìm  
hiểu cái mà tôi có thể tin, nhưng tôi tin để có thể hiểu” [49, tr. 171].  
Theo đó, lý tính không phải là tất cả, đức tin phải đi trước lý tính.  
Ông tin tưởng rằng một lý luận chặt chẽ phải là hướng đến hòa hợp  
với Thiên Chúa.  
Bằng việc dùng trí tuệ của con người để chứng minh sự hiện  
hữu của Thiên Chúa, Anselme đã tạo ra những tiền đề hình thành chủ  
nghĩa duy lý trong lòng tư tưởng Cơ đốc giáo. Anselme khẳng định  
rằng lý tính và đức tin dẫn tới cùng một kết luận, cả họ và ta đều tìm  
kiếm một điều nhưng vì không tin nên họ không đạt được mục tiêu  
hiểu để tin. Đức tin là nhịp cầu đưa đến sự hiểu biết, là kim chỉ nam  
cho tư duy. Tư tưởng này của Anselme đã trở thành một minh chứng  
cho những nhận định thời trung cổ.  
Tinh thần của Anselme chủ yếu mang tính thần học và sự  
suy tư triết lý của ông là công việc của một tín hữu đi tìm hiểu biết  
đức tin của mình. Ông đi theo con đường của Augustin vốn chủ  
16  
trương dùng lý tính để am hiểu đức tin. Tư tưởng của Anselme thấm  
nhuần ánh sáng của đức tin nên được hình dung dưới dạng kinh cầu  
nguyện lên Thiên Chúa. Với các tư tưởng triết học và thần học của  
Anselme đã dẫn ông đến biệt danh “người cha cuối cùng của giáo hội  
và người đầu tiên của triết học kinh viện” [28, tr. 201].  
2.3.2. Quan niệm của Thomas d’Aquin  
Thomas d’Aquin là một trong những đại diện tiêu biểu nhất  
của triết học kinh viện thời kỳ đỉnh cao. Công lao lớn nhất của  
Thomas d’Aquin là ông đã tổng hợp những tri thức triết học cổ đại  
và thần học Cơ đốc giáo thành một hệ thống tư tưởng hoàn thiện  
nhất thời đại. Thomas d’Aquin đứng trên lập trường triết học  
Aristotle để xây dựng cơ sở lý luận cho những tín điều Cơ đốc giáo,  
chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế, và bênh vực cho quyền  
thống trị của giáo hoàng đầy sức thuyết phục.  
Thomas d’Aquin đã giải quyết vấn đề đức tin và lý tính theo  
đường hướng riêng của mình. Ông phân định rõ ranh giới giữa đức  
tin và lý tính, song ông không chấp nhận bất cứ sự mâu thuẫn nào  
giữa đức tin và lý tính. Theo Thomas d’Aquin, mặc dù giữa triết học  
và thần học, lý tính và đức tin có ranh giới chúng đều có cùng một  
khách thể là Thượng đế, đó là khách thể cuối cùng hay nguồn gốc  
của mọi chân lý. Ông viết: “Chân lý của Chúa là thước đo của mọi  
chân lý…Mọi chân lý của lý tính cần được đo bằng chân lý của  
Chúa” [28, tr. 211]. Do đó, Thomas d’Aquin khẳng định không thể  
có mâu thuẫn về mặt nguyên tắc giữa chân lý của triết học và chân lý  
của thần học, hay không có sự đối lập giữa chân lý đúng đắn và đức  
tin.  
Tư tưởng của Thomas d’Aquin về vai trò của đức tin và lý  
tính có sự phân chia một cách rõ ràng hơn, nhất nguyên hơn, qua sự  
17  
khác biệt giữa triết học và thần học như sau: “Thần học là một môn  
thuộc về lý thuyết Kinh Thánh, nên nó khác biệt theo chủng loại với  
thứ thần học có một phần của triết học tham gia” [58, tr. 211].  
Thomas d’Aquin ôn hoà trong giải quyết vấn đề đức tin và lý  
tính nhưng sự ôn hoà đó không phải nhằm đề cao lý tính mà nhằm đề  
cao đức tin. Là nhà triết học tôn giáo, nhà thần học, ông đã kiên  
quyết giữ vững lập trường của mình, cho rằng mặc dù chân lý giữa lý  
tính và đức tin là không đối lập nhau nhưng ông khẳng định chân lý  
của triết học phải đứng thấp hơn chân lý của thần học, cho nên trí tuệ  
của con người thấp hơn sự anh minh của Thượng đế. Đó là sự kết  
hợp hài hòa giữa lý tính và niềm tin trên tinh thần thần học.  
18  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2  
Thông qua tư tưởng của các nhà triết học, nhà thần học tiêu  
biểu, chúng ta có thể nhận ra rằng vấn đề đức tin và lý tính, triết học  
và thần học là một trong những vấn đề trung tâm, xuyên suốt thời kỳ  
Tây Âu trung cổ. Ở thời kỳ này, mặc dù trên cùng một lập trường  
nhưng quan niệm của các nhà triết học về vấn đề đức tin và lý tính từ  
Tertullien đến Thomas d’Aquin đã có sự khác nhau. Nếu Tertullien  
trực tiếp bày tỏ thái độ ác cảm đối với lý tính thì đến các nhà triết  
học về sau thái độ có vẻ ôn hòa và phân định rạch ròi hơn giữa đức  
tin và lý tính.  
Nhờ sự kết hợp giữa triết học cổ đại và Kinh Thánh, quan  
niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ đã khắc phục được tính  
chất duy lý thời cổ đại, đề cao tinh thần nhân văn và có ý nghĩa đạo  
đức to lớn. Các nhà triết học thời kỳ này đã sử dụng một cách linh  
hoạt tư tưởng của các nhà triết học cổ đại để chú giải Kinh Thánh,  
đặt nền tảng cho các quan điểm Cơ đốc giáo.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 13360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Đức tin và lý tính trong Triết học Tây Âu trung cổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_duc_tin_va_ly_tinh_trong_triet_hoc_tay_au_t.pdf