Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quá trình chế biến cao lanh Phú Thọ để sản xuất các hợp chất của nhôm

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI  
VŨ MINH KHÔI  
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN CAO LANH  
PHÚ THỌ ĐỂ SẢN XUẤT CÁC HỢP CHẤT CỦA NHÔM  
Chuyên ngành: Kỹ thuật Hóa học  
Mã số:  
62520301  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT HÓA HỌC  
Hà Nội - 2016  
Công trình đƣợc hoàn thành tại  
Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:  
1. PGS.TS. LA THẾ VINH  
2. PGS.TS. LÊ THỊ MAI HƢƠNG  
Phản biện 1:  
Phản biện 2:  
Phản biện 3:  
Luận án đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp  
trƣờng tại Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội.  
Vào hồi……giờ, ngày…..tháng…..năm…..  
Có thể tìm hiểu luận án tại thƣ viện:  
1. Thƣ viện Tạ Quang Bửu – Trƣờng ĐHBK Hà Nội  
2. Thƣ viện Quốc gia Việt Nam  
Mở đầu  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát  
triển của xã hội loài người, vì vậy khái niệm này đã được các quốc gia trên thế giới  
xây dựng thành chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội  
nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio  
de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de  
Janeiro về môi trường và các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới  
trong thế kỷ 21. Hội nghị đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có  
sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển  
kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công  
bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường(nhất là  
xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống  
cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)  
[23]. Như vậy, khai thác và sử dụng khoáng sản là một phần trong nhiệm vụ bảo vệ  
môi trường nên đã được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm, đầu tư nghiên cứu.  
Đối với nước ta, nguồn tài nguyên khoáng sản có vai trò quan trọng trong phát  
triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc khai thác, sử dụng khoáng sản hiện là vấn  
đề thu hút sự quan tâm của Chính phủ cũng như các nhà nghiên cứu. Cho đến nay  
trên địa bàn cả nước đã phát hiện và đánh giá hàng nghìn mỏ khoáng sản và biểu hiện  
khoáng sản với nhiều loại khoáng sản rắn, lỏng, khoáng sản nhiên liệu…Trong đó  
khoáng sản chứa nhôm bao gồm boxit và nhóm không boxit (cao lanh, đất sét, alunit)  
được đánh giá có trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao và quá trình chế biến không quá  
phức tạp có thể tạo ra nhôm và nhiều hợp chất của nhôm.  
Nhôm và hợp chất của nhôm được dùng phổ biến trong công nghiệp và trong  
đời sống. Các hợp chất của nhôm dùng trong công nghiệp hóa chất, công nghiệp giấy,  
nhuộm, thuộc da, làm chất keo tụ để xử lí nước thải và làm trong nước... Để sản xuất  
nhôm và các hợp chất của nhôm, người ta có thể dùng các nguyên liệu có chứa nhôm  
như cao lanh, đất sét, alunit, boxit, nhôm vụn phế thải…Trong đó, hiện nay phần lớn  
nhôm và các muối của nhôm được sản xuất từ boxit. Tuy nhiên, đến nay boxit mới  
chỉ được phát hiện trữ lượng lớn tại một số tỉnh phía Nam. Với mục tiêu thực hiện  
phát triển bền vững, tại Việt Nam cũng như các quốc gia khác việc tìm ra phương án  
sử dụng và nâng cao hiệu quả khai thác một loại quặng tại địa phương nhận được sự  
quan tâm rất lớn từ chính phủ cũng như cộng đồng.  
Hiện nay, ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và bài  
bản để sản xuất phèn nhôm và PAC (Poly Aluminium Chloride) từ cao lanh, do vậy  
nghiên cứu chế tạo các muối nhôm đi từ nguồn nguyên liệu là cao lanh có sẵn tại địa  
phương có ý nghĩa lớn trong thực tế.  
Để góp phần trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm tài  
nguyên thiên nhiên chúng tôi lựa chọn đề tài luận án là: “Nghiên cứu quá trình chế  
biến cao lanh Phú Thọ để sản xuất các hợp chất của nhôm”  
Mục tiêu của luận án:  
- Điều chế các hợp chất của nhôm từ cao lanh Phú Thọ  
1
- Sản xuất phèn kép kali - nhôm sunfat, chất keo tụ PAC từ các hợp chất của  
nhôm đã được điều chế.  
- Thu hồi sản phẩm phụ SiO2 và ứng dụng SiO2 làm phụ gia cho công nghiệp  
sơn.  
Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu:  
- Đối tượng nghiên cứu là cao lanh Phú Thọ – một trong những nguồn cao lanh  
có trữ lượng lớn và có thành phần vật chất đại diện cho cao lanh nói chung.  
- Phương pháp nghiên cứu của luận án là nghiên cứu lí thuyết kết hợp với thực  
nghiệm và các phương pháp phân tích hóa lí hiện đại để chỉ rõ bản chất của quá trình  
tách nhôm oxit trong cao lanh Phú Thọ.  
2. Nội dung  
- Khảo sát và đánh giá nguồn cao lanh tại huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ  
- Lựa chọn tác nhân phản ứng để tách nhôm  
- Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tách nhôm như nhiệt độ nung cao  
lanh, nồng độ các chất tham gia phản ứng, thời gian phản ứng, nhiệt độ phản ứng…  
- Nghiên cứu sản xuất các hợp chất của nhôm từ muối nhôm thu được  
- Đề xuất sơ đồ công nghệ và qui trình tách nhôm oxit trong cao lanh  
- Nghiên cứu ứng dụng của các sản phẩm sau tách nhôm oxit trong cao lanh  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
Luận án là công trình nghiên cứu cơ bản có định hướng ứng dụng. Các kết quả  
của luận án đóng góp:  
- Làm sáng tỏ quá trình hòa tách nhôm oxit trong cao lanh Phú Thọ bằng axit  
HCl, H2SO4 và hỗn hợp axit HCl, H2SO4  
- Làm sáng tỏ quá trình phản ứng pha rắn khi nung phân giải nhôm oxit trong  
cao lanh Phú Thọ bằng NaHSO4 và KHSO4.  
- Chế biến khoáng sản cao lanh thành các sản phẩm có ích của nhôm và silic.  
4. Điểm mới của luận án  
Đã khảo sát một cách có hệ thống quá trình chế biến cao lanh Phú Thọ bằng hai loại  
phản ứng:  
- Phản ứng hòa tách nhôm oxit trong cao lanh bằng các dung dịch axit HCl, H2SO4  
và hỗn hợp dung dịch HCl + H2SO4. Đề xuất điều chế PAC đi từ nguồn cao lanh  
và hỗn hợp dung dịch HCl + H2SO4.  
- Phản ứng phân giải nhôm oxit trong cao lanh bằng các tác nhân NaHSO4, KHSO4  
ở dạng pha rắn. Từ đó đưa ra được quy trình điều chế một số hợp chất quan trọng  
của nhôm như phèn kép kali – nhôm sunfat và sử dụng sản phẩm phụ SiO2  
5. Bố cục của luận án:  
Luận án gồm 117 trang với các phần : Mở đầu (03 trang); Chương 1- Tổng quan  
(20 trang); Chương 2 – Các phương pháp nghiên cứu (13 trang); Chương 3 – Kết quả  
và thảo luận (69 trang); Kết luận (01 trang); Danh mục công trình của luận án (6 công  
trình); Tài liệu tham khảo (113 tài liệu); Luận án có 44 bảng; 51 hình vẽ và 5 sơ đồ.  
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN  
1.1. Cao lanh và sự hình thành của cao lanh trong tự nhiên  
Cao lanh là loại đá sét màu trắng, dẻo, mềm được cấu thành bởi khoáng vật  
caolinit và một số ít khoáng vật illit, montmorillonit, thạch anh... sắp xếp thành tập  
hợp lỏng lẻo, trong đó caolinit quyết định kiểu cấu tạo và cấu trúc của cao lanh.  
2
Cao lanh hình thành do quá trình phân huỷ khoáng vật felspat và các khoáng vật  
alumosilicat giàu nhôm, có trong thành phần của nhiều loại đá sét có nguồn gốc khác  
nhau. Cao lanh có màu trắng, dạng đặc sít hoặc là những khối dạng đất sáng màu, tập  
vảy nhỏ. Trong tự nhiên, cao lanh thường bị nhuộm bẩn bởi oxit sắt, titan, hỗn hợp  
kiềm, đất hiếm [2].  
Quặng cao lanh ở nước ta được phân bố ở nhiều nơi như: Lào Cai, Yên Bái, Phú  
Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hải Dương,Quảng Ninh, Huế, Quảng Nam, Đà  
Lạt, Đồng Nai, Bình Dương, Sông Bé... Tổng tài nguyên và trữ lượng cao lanh ở 67  
tụ khoáng, mỏ và điểm quặng đã được tìm kiếm thăm dò là 267.919.000 tấn [2].  
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, cao lanh được phân bố rộng rãi hầu hết ở các huyện  
như : Thanh Sơn, Tam Nông, Thanh Thủy, Hạ Hòa…với tổng trữ lượng cao lanh  
được khảo sát khoảng 30 triệu tấn. Trong đó cao lanh ở vùng Thanh Sơn (Hữu  
Khánh, mỏ Ngọt…) có trữ lượng lớn và thành phần hóa học đặc trưng, hàm lượng  
khoáng caolinit trong cao lanh cao. Vùng Thanh Sơn là nơi có địa hình tự nhiên  
phong hóa trầm tích do đó cao lanh ở đây có chất lượng tương đối tốt, ít sắt và các tạp  
chất vì vậy cao lanh nàyđược dùng để nghiên cứu trong luận án để sản xuất các hợp  
chất của nhôm và thu hồi SiO2.  
Cấu trúc mạng tinh thể của cao lanh.  
Như đã nói ở trên do khoáng caolinit chiếm chủ yếu trong cao lanh nên nó quyết  
định cấu trúc của cao lanh. Caolinit là khoáng có cấu trúc gồm hai lớp, dạng diocta  
tạo nên từ các lớp tứ diện [SiO4]4- (gồm các ion Si4+, O2-chứa cation Si4+ ở tâm) và  
lớp bát diện [AlO6]9- (gồm các ion Al3+, O2-, OH- chứa cation Al3+ ở tâm). Hai lớp  
này tạo thành gói hở có chiều dày 7,21 – 7,25 A0 trong đó các nhóm OH- phân bố về  
một phía. Tinh thể caolinit có dạng miếng hay dạng vảy 6 cạnh, góc giữa các cạnh là  
106 ÷ 1400, đường kính hạt caolinit từ 0,1 – 0,3µm. Mỗi lớp cấu trúc được phát triển  
liên tục trong không gian theo hướng trục a và b. Các lớp cấu trúc được chồng xếp  
song song với nhau và tự ngắt quãng theo hướng trục c. Các tứ diện quay đỉnh chung  
về phía mạng bát diện. Ở vị trí đỉnh chung của tứ diện và bát diện là ion OH-. Giữa  
hai mặt đó xuất hiện một lực liên kết giữ chặt các lớp lại làm cho mạng tinh thể  
caolinit ít di động, hấp thụ nước và không trương nở.  
Vì bán kính O2− và OH− đều lớn hơn  
rất nhiều bán kính Si4+, Al3+, nên mạng  
tinh thể caolinit gồm các anion O2- và OH-  
gói ghém chắc đặc, còn các cation Si4+ và  
Al3+ được sắp xếp vào các hốc trống của  
phân mạng anion đó. Trong cấu trúc của  
caolinit cứ 3 vị trí tâm bát diện thì có hai  
vị trí bị chiếm giữ bởi ion Al3+ còn một vị  
trí bỏ trống [17, 19, 21, 25]. Theo [26] ô  
mạng cơ sở của caolinit là a ≈5,15 A0; b  
≈8,95 A0; c ≈7,4Å  
Hình 1.1. Mạng lưới caolinit  
3
Như vậy muốn tách nhôm ra khỏi cao lanh cần phải phá vỡ cấu trúc của nó đặc  
biệt là loại bỏ nhóm OH- thì các tác nhân tách sẽ tiến gần nhôm trong mạng lưới tinh  
thể hơn.  
Nhìn chung các công trình nghiên cứu có độ sai khác về nhiệt độ chuyển hóa  
cao lanh thành metacaolanh và từ metacaolanh thành mulit, tuy nhiên sự sai khác về  
nhiệt độ cũng không lớn. Sự chênh lệch nhiệt độ ở đây có thể do nguồn cao lanh khác  
nhau dẫn đến thành phần khoáng và tạp chất khác nhau.  
Có thể tóm tắt sơ đồ các phản ứng hóa học xảy ra khi nung cao lanh như sau:  
Al2O3.2SiO2.2H2O ( caolinit)  
t =500-600oC  
Al2O3.2SiO2 (metacaolinit) + H2O  
t =900 – 1000ºC  
Al2O3.2SiO2 (spinen) + SiO2  
t > 1000ºC  
3Al2O3.2SiO2 (mulit) + SiO2( cristobalit)  
Sơ đồ 1. Biến đổi của cao lanh khi nung  
1.2. Phèn nhôm và công nghệ sản xuất phèn nhôm  
1.2.1. Phèn nhôm sunfat và các phƣơng pháp chế tạo  
Phèn nhôm sunfat có hai loại là phèn đơn và phèn kép.  
Phèn đơn - Al2(SO4)3.18H2O là những tinh thể hình kim, màu trắng, dễ tan trong  
nước, độ hòa tan tăng khi tăng nhiệt độ:  
Phèn kép - phèn phổ biến sau đây:  
Phèn kali- nhôm có công thức: KAl(SO4)2.12H2O hoặc (K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)  
Phèn natri - nhôm: NaAl(SO4)2.12H2O  
Phèn amoni-nhôm: NH4Al(SO4)2.12H2O  
Trong các loại trên: phèn kali – nhôm là phèn quan trọng có nhiều ứng dụng  
trong thực tế. Phèn nhôm - kali là những tinh thể hình tám mặt, trong suốt không màu  
có vị chát [6, 13].  
a. Phương pháp không nung cao lanh:  
Nguyên liệu là cao lanh không qua nung và chỉ sấy khô rồi cho cao lanh vào axit  
sunfuric ( H2SO4) với nồng độ 65 ÷ 67 % trong thời gian 6 ÷ 8 giờ ở nhiệt độ từ 105  
÷ 110 oC.Sau đó người ta đem hấp (hoặc ủ) trong một thời gian để cho lượng dư axit  
còn lại từ 2 ÷ 2,5 % thì đem kết tinh (đổ khuôn) [12]. Tuy nhiên làm theo phương  
pháp này năng suất không cao thời gian kéo dài.  
b. Phương pháp nung cao lanh  
Theo [12, 53, 64, 77, 86] người ta nung cao lanh đến nhiệt độ 500 ÷ 800oC. Sau đó  
cho cao lanh tác dụng với axit H2SO4, nhôm sunfat thu được từ phản ứng:  
Al2O3.2SiO2.2H2O + 3H2SO4 = Al2(SO4)3 + 5H2O + 2SiO2  
4
Lượng dư axit được trung hòa bằng bột nefelin theo phản ứng:  
(NaK)2O.Al2O3.2SiO2 + 4H2SO4 = (NaK)2SO4 + Al2(SO4)3 + 4H2O + 2SiO2  
c. Chế tạo phèn nhôm từ cao lanh bằng phản ứng pha rắn (phản ứng với NaHSO4,  
(NH4)2SO4 )  
Nghiên cứu thực hiện tách Al2O3 từ cao lanh bằng phản ứng pha rắn với NaHSO4  
đã được Martı´nez-Lope nghiên cứu [75]. Theo Martı´nez-Lope trộn cao lanh với  
NaHSO4 theo tỉ lệ mol (nhôm oxit trong cao lanh và NaHSO4) là 1:6 rồi cho hỗn hợp  
vào nung sẽ xảy ra phản ứng:  
Al2O3.2SiO2.2H2O + 6 NaHSO4.H2O  
2Na3Al(SO4)3 + 2SiO2+ 11H2O  
Theo phương pháp này có thể tách 80% Al2O3 trong cao lanh ở nhiệt độ 160oC với  
thời gian là 3 ngày.  
Các nghiên cứu [35, 51, 54] chỉ ra rằng có thể tách Al2O3 từ cao lanh bằng  
(NH4)2SO4 theo phản ứng:  
Al203.2SiO2.2H20 + 6(NH4)2SO4 = 2(NH4)3Al(SO4)3 + 2SiO2 + 6NH3 + 5H20  
Tuy nhiên thực hiện theo phương pháp trên hiệu suất tách Al2O3 thấp, chỉ đạt hơn 60%.  
Ở miền Bắc đã có một số cơ sở sản xuất phèn nhôm như công ty Hóa Chất Đức  
Giang, công ty Thành Trung đi từ nguồn nguyên liệu cao lanh và axit sunfuric, sau khi  
hòa tách nhôm oxit dung dịch để làm phèn còn bã thải có chứa nhiều axit dư và các tạp  
chất. Nhà máy phèn Hải Dương hiện đang sản xuất phèn nhôm sunfat dạng đơn và  
dạng kép trên cơ sở phương pháp hòa tách hydroxit nhôm Tân Rai trong axit sunfuric.  
Nhìn chung sản xuất phèn nhôm sunfat đi từ cao lanh có thể chia làm hai phương pháp  
ướt và khô. Phương pháp ướt là cho nhôm oxit trong cao lanh (có thể nung hoặc không  
nung) phản ứng với dung dịch axit, phương pháp khô là cho nhôm oxit trong cao lanh  
phản ứng trong pha rắn. Phản ứng theo phương pháp ướt chỉ thu được nhôm và các hợp  
chất của nhôm là chính còn chất rắn không tan (chứa chủ yếu là SiO2 và cao lanh chưa  
phản ứng) chưa được khai thác và xử lí triệt để. Vì vậy cần nghiên cứu phương pháp tách  
nhôm oxit trong cao lanh sao cho hiệu suất tách nhôm oxit cao để làm phèn nhôm hoặc  
các muối khác của nhôm còn chất rắn không tan chứa chủ yếu là SiO2 sử dụng làm chất  
độn cho sơn, cao su… sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực tế về kinh tế và môi trường.  
Trong luận án này chúng tôi tập trung nghiên cứu hòa tách và nung phân giải  
nhôm oxit trong cao lanh Phú Thọ để sản xuất một số hợp chất của nhôm bằng cả hai  
phương pháp ướt và phương pháp khô.  
1.2.2. Phèn nhôm clorua và các phƣơng pháp chế tạo  
PAC (Poly Aluminium Chloride) là loại phèn nhôm tồn tại ở dạng cao phân tử  
(polyme). Công thức phân tử [Al2(OH)nCl6-n]m.  
Để điều chế nhôm clorua hoặc PAC(Poly Aluminium Chloride) người ta cũng có  
thể đi từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như nhôm kim loại, hydroxit nhôm, các  
khoáng chứa nhôm như boxit, cao lanh, đất sét… phương pháp cơ bản dùng trong  
công nghiệp sản xuất clorua nhôm sạch hiện nay là điều chế clorua nhôm từ hyđrôxit  
nhôm và axit HCl. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi nhờ ưu điểm đơn giản,  
cho sản phẩm chất lượng cao với hàm lượng oxit sắt nhỏ, chi phí vận chuyển thấp.  
Al(OH)3 + 3HCl = [Al2(OH)nCl6-n]m  
Cao lanh ở nhiệt độ thường khó tan trong HCl, có rất nhiều công trình đã nghiên  
cứu quá trình hòa tách nhôm oxit trong cao lanh bằng axit HCl [28, 30, 32, 35, 42, 47,  
48, 49, 55, 64, 81, 83, 87, 89, 91] và đã đạt được một số kết quả tốt. Nhìn chung để  
5
tách nhôm ra khỏi cao lanh cần hoạt hóa cao lanh phá vỡ cấu trúc cao lanh trong  
khoảng nhiệt độ từ 500 - 800°C, lúc này dưới tác dụng của nhiệt độ cao lanh chuyển  
về dạng metacaolanh [17, 19, 30, 53, 100] sau đó hòa tách nhôm theo phản ứng:  
Al2O3.2SiO2 + 6HCl → 2AlCl3 + 2SiO2 +3H2O  
Hiện nay để sản xuất PAC, ở miền Bắc công ty Hóa Chất Việt Trì đang sử dụng  
nhôm hydroxit và axit HCl. Tuy nhiên để sản xuất PAC từ hydroxyt nhôm giá thành  
cao vì phải nhập hydroxit nhôm từ nhà máy nhôm Tân Bình, Tân Rai hoặc của Trung  
Quốc. Nguyên liệu chứa hàm lượng nhôm cao trữ lượng lớn, phổ biến, dễ kiếm, rẻ  
tiền ở miền Bắc là cao lanh. Vì vậy trong luận án này chúng tôi đề xuất chế tạo PAC  
đi từ cao lanh Phú Thọ bằng hỗn hợp axit HCl và H2SO4.  
1.3. Sản phẩm phụ SiO2  
Trong cao lanh oxit silic chiếm tỷ trọng lớn, sau khi tách nhôm phần chất rắn còn  
lại chứa chủ là SiO2 (sản phẩm phụ). Sản phẩm phụ này có thể nghiên cứu dùng làm  
phụ gia cho sơn chịu nhiệt, nhựa, trong cao su và nhiều lĩnh vực khác…  
CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM  
2.1. Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm  
Hóa chất  
Axit clohydric HCl nồng độ 36 ÷ 38% (AR, TQ); Axit sunfuric H2SO4 nồng độ 95 ÷ 98%  
(AR, TQ); NaHSO4.H2O > 99% (TQ); KHSO4.H2O > 99% (TQ); Dung dịch axit  
axetic CH3COOH, 99,5% (AR, TQ); Tinh thể kẽm axetat Zn(CH3COO)2 (TQ); NaOH  
tinh thể, 96% (AR, TQ); Kẽm clorua ZnCl2 tinh thể, 98% (TQ); Tinh thể  
Al2(SO4)3.18H2O(TQ)>99% và các hóa chất phân tích khác.  
Dụng cụ thí nghiệm  
Sàng phân loại hạt với các kích thước 0.3; 0.2; 0.084; 0.074; 0.125; 0,041;  
0,038mm; Cân phân tích 4 số TE214S Sartorius (Đức); Lò nung Nabertherm  
LE060K1BN (Đức)…  
2.2. Các phƣơng pháp phân tích thành phần hóa học  
Dùng phương pháp phân tích khối lượng: xác định hàm lượng silic oxit có trong  
thành phần cao lanh.  
Dùng phương pháp phân tích thể tích : xác định hàm lượng nhôm oxit, sắt oxit có  
trong thành phần cao lanh ban đầu. Dùng phương pháp chuẩn độ ngược để xác định  
hàm lượng nhôm có trong dung dịch sau hòa tách và nung phân giải.  
2.3. Các phƣơng pháp nghiên cứu đặc trƣng của vật liệu  
Phƣơng pháp phân tích nhiệt (TG/DTA): sử dụng phương pháp này để nghiên cứu  
các quá trình xảy ra trong hệ hóa học bao gồm phản ứng hóa học, quá trình mất nước,  
quá trình kết tinh, quá trình chuyển pha… đều xảy ra kèm theo hiệu ứng nhiệt (hiệu  
ứng thu nhiệt hay tỏa nhiệt).  
Phƣơng pháp nhiễu xạ tia X ( XRD - X Rays Diffraction)  
Dùng phương pháp nhiễu xạ tia X xác định các khoáng có mặt trong mẫu và nhận  
dạng pha tinh thể có trong mẫu vật liệu khảo sát.  
Phƣơng pháp phổ tán xạ năng lƣợng tia X (EDX)  
Phổ tán xạ năng lượng tia X là kĩ thuật phân tích thành phần hóa học của vật liệu khảo  
sát dựa vào việc ghi lại phổ tia X phát ra từ vật liệu rắn do tương tác với các bức xạ.  
Phƣơng pháp hiển vi điện tử quét (SEM- Scanning electron Microscope)  
Dùng phương pháp này dùng để xác định trạng thái bề mặt của cao lanh, bã sau  
phản ứng...  
6
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thành phần hóa học, giản đồ phân tích nhiệt và thành phần pha của cao  
lanh Phú Thọ  
Bảng 3.1. Thành phần hóa học mẫu cao lanh Thanh Sơn Phú Thọ  
CaO +  
MgO  
4,05  
Thành Phần Al2O3 SiO2 Fe2O3  
Na2O K2O MKN*  
0,05 0,92 11,11  
Hàm lượng 37,84 45,57 0,46  
%
MKN*: Khối lượng mất khi nung ở 850oC trong 2 giờ  
Để khảo sát quá trình mất nước và chuyển pha của cao lanh đã sử dụng phương  
pháp phân tích nhiệt  
trọng lượng TG và nhiệt vi sai  
DTA. Kết quả phân tích nhiệt  
trọng lượng TG và nhiệt vi sai  
DTA của cao lanh thu được  
trên hình 3.1  
TG /%  
DTA /(uV/mg)  
exo  
Peak: 530.857  
102  
0.4  
0.2  
0
100  
98  
96  
94  
92  
90  
Peak: 110.273  
-0.2  
-0.4  
-0.6  
-0.8  
-1.0  
-1.2  
Peak: 1009.16  
Mass Change: -11.13 %  
Từ kết quả trên giản đồ  
phân tích nhiệt có thể thấy ở  
110,27oC xuất hiện pic thu nhiệt  
ứng với quá trình mất nước vật  
lý của cao lanh, trong khoảng  
400oC đến 600oC đã có sự giảm  
mạnh về khối lượng đồng thời  
Mass Change: -0.19 %  
[1]  
-1.4  
200  
400  
Sample:  
Reference:  
600  
800  
1000  
1200  
Admin 22-05-2012 17:16  
Instrument:  
File:  
NETZSCH STA 409 PC/PG  
77 2012.ssv  
Bot trang, 18.800 mg  
Al2O3,0.000 mg  
Polime  
Mode/Type of Meas.:  
Segments:  
Crucible:  
DTA-TG / Sample  
1/1  
DTA/TG crucible Al2O3  
O2/30 / N2/0  
000/30000 mg  
Project:  
Material:  
Identity:  
Date/Time:  
Laboratory:  
Operator:  
77 2012  
Correction File:  
Temp.Cal./Sens. Files:  
Range:  
Atmosphere:  
5/22/2012 3:16:55 PM  
PCM  
N.H.Hanh  
Calib DTA 20 08 07.tsv / Senszero.exx  
30/10.00(K/min)/1200  
DTA(/TG) HIGH RG 5 / S  
TG Corr./M.Range:  
DSC Corr./M.Range:  
Remark:  
000/5000 µV  
Sample Car./TC:  
Hình 3.1 Giản đồ phân tích nhiệt của cao lanh  
có pic thu nhiệt ở khoảng 531oC, đó là quá trình chuyển pha từ caolinit sang  
montmorillonit. Theo lý thuyết về quá trình biến đổi cấu trúc của khoáng cao lanh thì  
thông thường trong khoáng loại này có chứa khoảng 14% nước, sau khi được nung  
đến 500 - 600oC sẽ xảy ra quá trình mất nước liên kết, đốt cháy các tạp chất hữu cơ  
và chuyển pha để tạo nên khoáng chứa khoảng 20% lỗ xốp [17, 40, 53, 57 ]. Từ kết  
quả phân tích nhiệt cho thấy trong khoảng nhiệt độ từ 400oC đến 600oC có sự chuyển  
pha, từ nhiệt độ 600oC đến 800oC thành phần pha của cao lanh là ổn định.  
Để nghiên cứu thành phần pha của  
cao lanh chúng tôi tiến hành ghi giản  
Q
450  
M
400  
đồ nhiễu xạ tia X trên máy Advance-  
K
M
M
Q
8000C  
(d)  
6000C  
(c)  
Bruker với góc quét từ 10o-70o, tốc độ  
quét 0,020/s.  
M
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
M
Q
Q
Q
M
M
K
K
Trong đó : (a) là XRD của mẫu cao  
lanh chưa nung;  
K
K
K
K
Q
4000C  
(b)  
Q
Q
K
K
K
K
(b) là XRD của cao lanh  
nung ở 400oC trong 2 giờ  
(c) là XRD của cao lanh  
nung ở 600oC trong 2 giờ;  
(d) là XRD của mẫu cao lanh  
nung ở 800oC trong 2 giờ  
K
Q
(a)  
0
10  
20  
30  
40  
50  
60  
70  
2 - Theta - Scale  
Hình 3.2. Phổ chồng giản đồ XRD của các mẫu trên  
7
Từ hình 3.2 cho thấy ở nhiệt độ 400oC cao lanh vẫn tồn tại hai pha tinh thể là  
caolinit và quartz như trước khi nung. Ở 600oC không xuất hiện pha tinh thể caolinit  
chỉ còn lại pha quartz và xuất hiện pha tinh thể mới montmorillonit thay thế caolinit.  
Như vậy trong khoảng 400oC đến 600oC đã có sự giảm mạnh về khối lượng đồng thời  
có pic thu nhiệt ở khoảng 531oC đó chính là nhiệt độ chuyển pha từ caolinit sang  
metacaolanh có thể ở trạng thái vô định hình [37, 40, 52, 68, 100, 102] và  
montmorillonit như đã thấy trong giản đồ phân tích nhiệt và giản đồ nhiễu xạ XRD.  
Ở nhiệt độ 800oC có thành phần pha giống như ở 600oC không xuất hiện pha mới  
chứng tỏ cao lanh lúc này ổn định về cấu trúc trong khoảng nhiệt độ này. Điều này  
cũng phù hợp với kết quả phân tích nhiệt ở trên.  
3.2. Nghiên cứu hòa tách nhôm oxit trong cao lanh bằng axit HCl  
3.2.1. Khảo sát ảnh hƣởng của nhiệt độ nung cao lanh đến hiệu suất hòa tách  
nhôm oxit  
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ nung cao lanh đến hiệu suất hòa tách nhôm oxit  
Nhiệt độ  
nung  
Nồng độ  
CAl3+ (M)  
0,002  
0,014  
0,067  
0,118  
0,116  
0,110  
0,106  
Khối lượng Al2O3 (g)  
Hiệu suất tách  
Al2O3 (%)  
0,61  
trong dung dịch  
400oC  
450oC  
500oC  
550oC  
600oC  
650oC  
700oC  
750oC  
800oC  
0,026  
0,180  
0,860  
1,511  
1,476  
1,404  
1,351  
1,329  
4,29  
20,4  
35,96  
35,13  
33,41  
32,13  
31,62  
31,38  
0,104  
0,103  
1,319  
Từ bảng 3.2 cho thấy hiệu suất tách Al2O3 trong cao lanh chỉ được 0,61% ở 400oC.  
Hiệu suất tách Al2O3 trong cao lanh tăng theo quan hệ tuyến tính với nhiệt độ nung  
trong khoảng nhiệt độ từ 450oC tách được 4,29% đến 550oC tách được 35,96%. Nhiệt  
độ nung cao lanh cho hiệu suất tách nhôm cao trong khoảng 550÷600oC với môi  
trường là không khí và thời gian nung là 2 giờ.  
3.2.2. Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ HCl tới khả năng hòa tách Al2O3 trong  
cao lanh  
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của nồng độ axit HCl tới khả năng tách Al2O3 trong cao lanh  
Nồng độ axit  
Qui ra m Al2O3  
(g) có trong  
dung dịch  
Nồng độ  
Hiệu suất tách  
Lượng axit dư tính  
theo lí thuyết(mol/lit)  
HCl  
CAl3+(M)  
Al2O3 (%)  
%
CM(M)  
15%  
20%  
25%  
30%  
4,4  
6,02  
7,7  
0,0823  
0,0872  
0,111  
0,114  
0,1174  
1,050  
1,114  
1,439  
1,469  
1,511  
24,99  
26,52  
34,25  
34,94  
35,96  
3,64  
5,2  
6,64  
8,37  
10,14  
9,44  
35% 11,25  
Kết quả trên bảng 3.3 cho thấy hiệu suất tách Al2O3 tăng theo nồng độ dung dịch  
HCl và sử dụng hiệu quả nồng độ nằm trong khoảng 25 ÷ 35%. Hiệu suất hòa tách  
nhôm trong cao lanh cao nhất đạt 35,96% ở nồng độ 35%.  
8
3.2.3. Ảnh hƣởng của thời gian phản ứng tới khả năng hòa tách Al2O3 bằng HCl  
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng tới khả năng hòa tách Al2O3 trong cao lanh  
Thời gian phản ứng  
Nồng độ  
CAl3+(M)  
0,0888  
0,1029  
0,1092  
0,1131  
0,1151  
0,1171  
0,1183  
Qui ra m Al2O3 (g) có  
Hiệu suất tách  
Al2O3 (%)  
26,96  
(giờ)  
0,5h  
1h  
1,5h  
2h  
3h  
4h  
5h  
trong dung dịch  
1,133  
1,313  
1,390  
1,442  
1,468  
1,494  
1,509  
31,25  
33,08  
34,31  
34,92  
35,53  
35,90  
Từ bảng 3.4 thấy rằng hiệu suất tách nhôm oxit tăng dần đều từ 26,96% đến 34,31%  
trong thời gian từ 0,5 giờ đến 2 giờ. Khi thời gian phản ứng từ 2 giờ đến 5 giờ hiệu suất  
tách cũng chỉ tăng khoảng 1,5% lúc này lượng nhôm oxit trong cao lanh đã giảm nếu  
tăng thời gian phản ứng thì hiệu suất tách sẽ tăng nhưng như vậy thời gian kéo dài dẫn  
đến năng suất thấp do đó nên chọn thời gian phản ứng là 2 giờ.  
3.3. Nghiên cứu hòa tách nhôm oxit trong cao lanh bằng axit H2SO4  
3.3.1. Khảo sát ảnh hƣởng của nhiệt độ nung cao lanh đến khả năng hòa tách  
nhôm oxit  
Bảng 3.5. Ảnh hưởng nhiệt độ nung cao lanh tới khả năng hòa tách Al2O3 bằng  
H2SO4(6M)  
Nhiệt độ nung  
Nồng độ  
Qui ra khối lượng Al2O3  
(g) có trong dung dịch  
Hiệu suất tách  
cao lanh  
CAl3+ (M)  
Al2O3(%)  
400oC  
450oC  
500oC  
550oC  
0,0115  
0,0420  
0,0930  
0,1943  
0,2705  
0,2660  
0,147  
0,536  
1,186  
2,477  
3,450  
3,396  
3,53  
12,90  
28,58  
59,67  
83,10  
81,8  
600oC  
650oC  
700oC  
750oC  
800oC  
0,2622  
0,2530  
0,2417  
3,343  
3,224  
3,082  
80,52  
77,66  
74,23  
Từ bảng 3.5 thấy rằng cao lanh cần nung ở nhiệt độ 6000C trong 2 giờ thì hiệu  
suất tách nhôm bằng axit H2SO4 có nồng độ 6M đạt cao nhất là 83,1%.  
3.3.2. Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ H2SO4 tới khả năng hòa tách Al2O3  
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của nồng độ H2SO4 tới khả năng hòa tách Al2O3 trong cao lanh  
Nồng độ axit H2SO4  
Hiệu suất tách Lượng axit dư so với lí  
Nồng độ  
Qui ra mAl2O3 (g)  
CAl3+ (M) có trong dung dịch  
thuyết ( mol/lit)  
Al2O3 (%)  
(M)  
1M  
2M  
3M  
4M  
5M  
6M  
(%)  
9,25  
17,5  
24,9  
31,8  
38,1  
43,95  
0,1814  
0,230  
2,313  
2,933  
3,302  
3,446  
3,565  
3,494  
55,01  
69,76  
78,55  
81,97  
84,82  
83,10  
0,15  
0,92  
1,79  
2,73  
3,70  
4,72  
0,2590  
0,2703  
0,2796  
0,2740  
9
Từ bảng 3.6 thấy rằng khi tăng nồng độ axit H2SO4 cũng dẫn tới sự tăng khả năng  
hòa tách nhôm oxit trong cao lanh, nồng độ axit sử dụng là 1M đến nồng độ axit 5M  
đạt hiệu suất tách nhôm tương ứng là 55,01; 84,82%. Khi sử dụng nồng độ axit là 6M  
thì hiệu suất tách nhôm oxit giảm xuống 83,10%. Do vậy nên chọn nồng độ axit nằm  
trong khoảng 3 - 5M.  
3.3.3 Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian phản ứng tới khả năng hòa tách Al2O3  
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất tách Al2O3 trong cao lanh  
bằng H2SO4  
3+  
Thời gian phản  
Nồng độ CAl  
(M)  
Qui ra khối lượng Al2O3 (g)  
Hiệu suất tách  
Al2O3(%)  
44,24  
ứng(giờ)  
0,5h  
1h  
có trong dung dịch  
0,1459  
0,2082  
0,213  
0,2404  
0,2431  
1,86  
2,654  
2,716  
3,065  
3,099  
63,13  
64,6  
72,9  
73,71  
1,5h  
2h  
4h  
Qua bảng 3.7 thấy rằng thời gian phản ứng từ 0,5 giờ đến 1giờ hiệu suất tăng  
mạnh từ 44,2% đến 63,13% chênh lệch hiệu suất gần 20%. Khi thời gian phản ứng  
tăng lên đến 2 giờ hiệu suất tách đạt 72,9% đến 4 giờ đạt 73,71% trong khoảng thời  
gian trên chênh lệch hiệu suất tách nhôm không nhiều (chưa đến 1%). Như vậy khi  
dùng axit H2SO4 để tách nhôm oxit trong cao lanh cần nung cao lanh trước khi phản  
ứng ở nhiệt độ 6000C trong 2 giờ, nồng độ axit dùng từ 3 - 5M, thời gian phản ứng từ  
2 giờ đến 3 giờ, tỉ lệ lỏng/ rắn là 8/1.  
3.4. Khảo sát hòa tách nhôm trong cao lanh bằng hỗn hợp axit H2SO4 và HCl  
3.4.1. Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ hỗn hợp axit H2SO4 và HCl đến hiệu suất  
hòa tách nhôm oxit trong cao lanh  
Cao lanh được nung ở nhiệt độ 6000C trong 2 giờ, sàng qua sàng 0,2mm rồi lấy  
100g cho phản ứng với hỗn hợp axit theo tỉ lệ mol là: 1mol nhôm oxit trong cao lanh  
và axit là 2 mol H2SO4 + 2 mol HCl, tỉ lệ lỏng/rắn là 8/1, thời gian phản ứng là 0,5h  
1h; 1,5h; 2h; 2,5h; 3h.  
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của nồng độ hỗn hợp axit H2SO4 và HCl đến hiệu suất hòa tách  
nhôm oxit  
Lượng axít dư tính  
theo lí thuyết mol/lit  
Nồng độ axit H2SO4 và HCl  
Hiệu suất tách Al2O3(%)  
2,75 mol H2SO4 + 0,5 mol HCl  
2,5 mol H2SO4 + 1 mol HCl  
2 mol H2SO4 + 2 mol HCl  
1,5 mol H2SO4 + 3 mol HCl  
1 mol H2SO4 + 4 mol HCl  
0,5 mol H2SO4 + 5 mol HCl  
76,30  
86,60  
82,90  
77,96  
62,40  
50,25  
3,64  
3,32  
3,44  
3,59  
4,10  
4,46  
Kết quả cho thấy hiệu suất tách nhôm oxit đạt cao nhất là 86,6% với 2,5 mol  
2-  
H2SO4 + 1 mol HCl. Nhưng để hạn chế lượng SO4 đồng thời tăng hiệu suất tách  
nhôm oxit trong cao lanh, chọn tỉ lệ axit là 2 mol H2SO4 + 2 mol HCl để khảo sát ảnh  
hưởng của thời gian phản ứng tới hiệu suất tách nhôm oxit.  
10  
3.4.2. Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian phản ứng khi dùng hỗn hợp axit H2SO4  
và HCl đến khả năng hòa tách nhôm ôxit  
Tương tự như trên lấy 100g cao lanh cho phản ứng với hỗn hợp axit theo tỉ lệ mol là:  
1mol nhôm oxit trong cao lanh và axit là 6 mol H+ (2 mol H2SO4 + 2 mol HCl), tỉ lệ  
lỏng/rắn là 8/1. Kết quả thu được ở bảng 3.9  
Bảng 3.9. Ảnh hưởng thời gian phản ứng khi dùng hỗn hợp axit H2SO4 và HCl đến  
khả năng tách nhôm oxit  
Thời gian phản ứng(giờ)  
Hiệu suất tách Al2O3(%)  
0,5h  
1h  
50,52  
61,64  
75,35  
82,90  
84,80  
85,70  
1,5h  
2h  
2,5h  
3h  
Từ bảng trên cho thấy thời gian hòa tách nhôm trong cao lanh bằng hỗn hợp  
axit H2SO4 và HCl càng tăng thì hiệu suất càng tăng. Hiệu suất tách nhôm oxit tăng  
mạnh với thời gian phản ứng từ 0,5 giờ đạt 50,52% đến 2,5 giờ đạt 84,80%. Sau đó  
hiệu suất tăng chậm dần do lượng nhôm oxit còn lại trong cao lanh không nhiều, khi  
thời gian phản ứng lên đến 3 giờ hiệu suất tách đạt 85,70% cao hơn so với thời điểm  
2,5 giờ là 0,9%. Vì vậy nên chọn thời gian phản ứng từ 2,5 giờ đến 3 giờ.  
3.3.3. Chế tạo PAC từ cao lanh và hỗn hợp axit HCl và H2SO4  
Dùng cao lanh nung ở nhiệt độ 6000C trong 2 giờ, sàng qua sàng 0,2mm rồi lấy  
100g cho hòa tách với hỗn hợp axit theo tỉ lệ mol là: 1mol nhôm oxit trong cao lanh  
và axit là 2 mol H2SO4 + 2 mol HCl, tỉ lệ lỏng rắn là 4/1 (400ml axit/100g cao lanh),  
thời gian phản ứng là 2,5 giờ.  
Bảng 3.10. Kết quả hòa tách nhôm oxit bằng dung dịch 2 mol H2SO4+2 mol HCl với  
tỉ lệ lỏng/rắn là 4/1  
Nồng độ axit H2SO4 và  
Hiệu suất tách  
Lượng axit dư thực tế  
HCl  
Al2O3(%)  
mol/lit  
2 mol H2SO4 + 2 mol  
HCl  
1,96  
69,5%  
Dung dịch sau phản ứng được lọc chất rắn không tan chủ yếu là SiO2 và một phần  
cao lanh chưa phản ứng. Lấy dịch lọc (có pH thực tế bằng 1) phân tích hàm lượng  
2-  
2-  
SO4 , bổ sung số mol Ca(OH)2 bằng với số mol SO4 thu được là PAC lỏng theo  
phương trình phản ứng sau:  
AlCl3 + Al2(SO4)3 + Ca(OH)2 → [Al2(OH)nCl6-n]m+ CaSO4 ↓  
11  
3.5. Nghiên cứu nung phân giải nhôm oxit trong cao lanh bằng NaHSO4  
Phản ứng giữa cao lanh với NaHSO4 khi nung nóng ở trạng thái rắn đã được  
M.J. Martinez Lope và M.E. Garcia Clavel nghiên cứu và mô tả bằng phản ứng dưới  
đây [75]: Al2O3.2SiO2.2H2O + 6 NaHSO4.H2O  
Na3Al(SO4)3 + 2SiO2 + 11H2O  
Muối kép Na3Al(SO4)3 rất dễ tan trong nước, vì vậy sau phản ứng tiến hành hòa  
muối bằng nước sẽ thu được sản phẩm phụ chứa chủ yếu SiO2.  
Để khảo sát nhiệt độ phản ứng  
chúng tôi trộn hỗn hợp cao lanh và  
NaHSO4 theo tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3  
là 6/1 đem đi phân tích nhiệt, kết quả  
thể hiện ở hình 3.3  
Từ kết quả hình 3.3 nhận thấy có 4  
pic thu nhiệt ở các nhiệt độ 73,96oC;  
185,86oC; 372,78oC và 643,61oC điều  
đó có nghĩa là phản ứng pha rắn ở trên  
cần được thực hiện trong điều kiện gia  
nhiệt. Như vậy nhiệt độ của phản ứng  
nên khảo sát từ 1500C trở lên.  
Hình 3.3. Giản đồ phân tích nhiệt của  
cao lanh và NaHSO4  
Để nghiên cứu thành phần pha giữa  
cao lanh và NaHSO4 ở các nhiệt độ khác  
O: Caolinit  
X: NaHSO  
P: Na Al Si  
O
.9H O  
2
5
5
5
20  
2500  
2000  
1500  
1000  
500  
nhau chúng tôi tiến hành phân tích XRD  
của mẫu cao lanh và NaHSO4 được nung  
trong 2 giờ theo tỉ lệ mol nhôm oxit/  
NaHSO4 là 1/6 với các nhiệt độ 75oC,  
250oC,500oC, 750oC. Kết quả thu được ở  
hình sau:  
4
: Na3Al(SO4)3  
S: Na H(SO  
3
)
4 2  
R: NaAl(SO  
)
4 2  
7500C  
(d)  
R
P
P
R
P
P
R
P
P
P
P
P
R
P
P
P
P
P
P
5000C  
(c)  
R
P
R
S
P
R
0
R
P
P
R
S
P
2500C  
(b)  
0
0
S S  
0
0
0
S
S
S
0
0
0
S
0
0
Từ hình 3.4 cho thấy ở nhiệt độ 750C  
chưa có phản ứng giữa cao lanh và  
NaHSO4. Ở 2500C đã có phản ứng giữa  
NaHSO4 và nhôm oxit cao lanh nhưng  
chưa triệt để, vì vẫn còn xuất hiện cao  
lanh. Mẫu cao lanh và NaHSO4 nung ở  
5000C cho thấy ngoài muối Na3Al(SO4)3,  
NaAl(SO4)2 xuất hiện thêm muối  
0
750C  
(a)  
X
X
0
X
0
X
0
0
0
0
X
X
X
0
X
X
0
X
X
0
X 0  
0
0
10  
20  
30  
40  
50  
60  
70  
Hình 3.4. Sự chồng phổ giản đồ XRD của cao lanh  
(a) Cao lanh và NaHSO4 nung ở 75oC ; (b) Cao lanh  
và NaHSO4 nung ở 250oC  
(c) Cao lanh và NaHSO4 nung ở 500oC; (d) Cao lanh  
và NaHSO4 nung ở 750oC  
Na5Al5Si5O20.9H2O (muối này không tan trong nước và tan ít trong axit mạnh nên sẽ  
lẫn vào sản phẩm phụ SiO2) làm giảm hàm lượng muối nhôm trong dung dịch. Vì vậy  
kết hợp kết quả của phân tích nhiệt và giản đồ nhiễu xạ tia X chỉ nên khảo sát phản  
ứng giữa NaHSO4 và cao lanh từ 1500C đến dưới 5000C.  
12  
3.5.1. Khảo sát ảnh hƣởng kích thƣớc hạt đến khả năng nung phân giải  
nhôm oxit trong cao lanh  
Tiến hành khảo sát ảnh  
hưởng của kích thước hạt đến khả  
năng nung phân giải Al2O3. Sử  
dụng cao lanh ở 3 dải kích thước:  
dhạt< 0,041mm, dhạt= 0,041÷0,2mm  
và dhạt= 0,2÷0,3mm. Lấy 10g cao  
lanh và trộn với NaHSO4 với tỉ lệ  
mol  
các  
chất  
phản  
ứng  
NaHSO4/Al2O3 là 5/1; 6/1; 7/1,  
nung mẫu ở 350oC trong 3 giờ.  
Hiệu suất tách nhôm oxit được tính  
dựa trên tỉ số lượng nhôm trong  
dung dịch và lượng nhôm có trong  
cao lanh ban đầu. Số liệu được  
tổng hợp theo hình 3.5  
Từ đồ thị hình 3.5 ta thấy với kích thước hạt nhỏ thì bề mặt tiếp xúc pha càng  
lớn dẫn đến hiệu suất tách nhôm cao. Kích thước:dhạt<0,041; dhạt= 0,041÷0,2mm;  
dhạt= 0,2÷0,3mm tương ứng với hiệu suất tách cao nhất lần lượt là 79,7%;78,1%;  
67,1% ở tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 7/1. Như vậy khi hòa tách nhôm oxit trong cao  
lanh nên dùng kích thước hạt với dhạt ≤ 0,2 mm.  
3.5.2. Khảo sát ảnh hƣởng của nhiệt độ đến khả năng tách nhôm oxit  
Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng tới hiệu suất nung phân giải nhôm  
được thực hiện bằng cách trộn đều hỗn hợp 10g cao lanh với NaHSO4 với tỉ lệ số mol  
NaHSO4/Al2O3= 6/1  
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng tới khả năng nung phân giải Al2O3  
trong cao lanh  
Điều kiện  
Tỷ lệ số mol  
NaHSO4/Al2O3  
Nồng độ  
CAl3+(M)  
0,335  
0,420  
0,491  
0,491  
0,513  
0,526  
0,509  
Qui ra mAl2O3 (g)  
có trong dung dịch  
1,708  
Hiệu suất tách  
Al2O3(%)  
45,13  
150oC-2 giờ  
200oC-2 giờ  
250oC-2giờ  
250oC-2giờ  
300oC-2giờ  
350oC-2giờ  
400oC-2giờ  
450oC-2giờ  
6:1  
6:1  
6:1  
6:1  
6:1  
6:1  
6:1  
6:1  
2,142  
2,504  
2,504  
2,616  
2,683  
2,595  
2,539  
56,60  
66,18  
66,18  
69,76  
70,90  
68,59  
67,10  
0,498  
Từ bảng trên cho thấy bắt đầu từ 200oC trở lên hiệu suất nung phân giải nhôm bắt  
đầu tăng mạnh và đến khoảng nhiệt độ 300oC đến 400oC thì hiệu suất đạt cao nhất  
70,9% tại 350oC. Sau đó tăng nhiệt độ thì hiệu suất giảm dần. Như vậy sự giảm hiệu  
suất tách khi nung phân nhôm oxit duy trì ở nhiệt độ cao có thể được giải thích là do  
NaHSO4 phân hủy mạnh tạo thành Na2S2O7 và nước, sau đó Na2S2O7 lại phân hủy  
thành Na2SO4 và SO3, gây tổn thất chất tham gia phản ứng. Na2SO4 không tác dụng  
13  
với nhôm oxit trong cao lanh. Theo kết quả giản đồ nhiễu xạ tia X ở 500oC (hình 3.4)  
lúc này có xuất hiện muối Na5Al5Si5O20, trong quá trình phản ứng có thể do NaHSO4,  
Na3H(SO4)2, Na3Al(SO4)3, Na2S2O7 phản ứng với caolinit tạo thành Na5Al5Si5O20  
(muối này ít tan, tan ít trong axit mạnh) nên lẫn vào sản phẩm phụ SiO2 làm giảm  
hàm lượng nhôm có trong dung dịch sau phản ứng.  
3.5.3. Khảo sát ảnh hƣởng của tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 đến khả năng nung  
phân giải nhôm oxit trong cao lanh  
Lấy 10g cao lanh khảo sát theo tỉ lệ mol giữa NaHSO4 và Al2O3 là 4/1;5/1;6/1;  
7/1; 8/1 với các điều kiện nhiệt độ là 350oC, thời gian phản ứng là 2 giờ, kích thước  
hạt cao lanh với dhạt ≤ 0,2 mm (trong đó tỉ lệ 1:6 là tỉ lệ mol theo phương trình phản  
ứng). Kết quả thu được cho ở bảng 3.12  
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 đến hiệu suất tách Al2O3 trong  
cao lanh  
Tỷ lệ mol  
NaHSO4/Al2O3  
Qui ra khối lượng Al2O3 Hiệu suất tách  
Nồng độ CAl3+ (M)  
(g) có trong dung dịch  
Al2O3(%)  
4/1  
5/1  
6/1  
7/1  
8/1  
0,389  
0,462  
0,523  
0,528  
0,538  
1,984  
2,356  
2,668  
2,692  
2,743  
52,43  
62,26  
70,50  
71,13  
72,50  
Hiệu suất nung phân giải nhôm tăng dần khi tăng lượng NaHSO4. Khi đạt đến  
đúng tỉ lệ mol phản ứng (tỉ lệ 6:1) hiệu suất đạt 70,5%. Khi tiếp tục tăng lượng  
NaHSO4 thì hiệu suất tách nhôm có tăng nhưng không tăng mạnh đạt 71,13% ở tỉ lệ  
mol 7/1, khi tăng tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 đến 8/1 thì hiệu suất tách nhôm đạt 72,5%.  
Tuy nhiên việc sử dụng dư NaHSO4 sẽ làm tiêu tốn chi phí nguyên liệu ban đầu và  
ảnh hưởng chất lượng sản phẩm, vì vậy chọn tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 từ 6/1 đến 7/1  
để khảo sát các điều kiện tiếp theo.  
3.5.4. Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian phản ứng đến khả năng nung phân giải  
nhôm oxit  
Lấy 10g cao lanh trộn với NaHSO4 theo tỉ lệ mol là 6/1, kích thước hạt dhạt ≤ 0,2  
mm. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng được chỉ ra trong bảng 3.13  
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất nung phân giải nhôm  
oxit bằng NaHSO4  
Hiệu suất  
Thời gian phản  
ứng  
Nồng độ Qui ra khối lượng Al2O3  
tách  
Al2O3 (%)  
45,15  
CAl3+(M)  
(g) có trong dung dịch  
0,335  
0,429  
0,455  
0,520  
0,527  
0,514  
1,709  
2,187  
2,330  
2,668  
2,688  
2,621  
0,5h  
1h  
57,80  
61,58  
70,50  
71,03  
69,30  
1,5h  
2h  
3h  
4h  
14  
Hiệu suất nung phân giải nhôm ôxit tăng nhanh trong thời gian từ 0,5 giờ đạt  
hiệu suất tách 45,15% đến 2 giờ đạt 70,5%. Trong khoảng thời gian từ 2 giờ đến 3  
giờ hiệu suất tách tăng không đáng kể do lượng nhôm trong cao lanh còn ít. Kéo dài  
phản ứng quá 3 giờ thì hiệu suất giảm.  
3.5.5. Nghiên cứu ảnh hƣởng của lƣợng nƣớc bổ sung vào hỗn hợp ban đầu đến  
hiệu suất nung phân giải nhôm oxit  
Lấy 10g cao lanh khảo sát theo tỉ lệ mol của NaHSO4 và Al2O3 là 7/1(dư một  
phần so với phản ứng có tỉ lệ là 6/1) với các điều kiện: nhiệt độ phản ứng 350oC,  
thời gian phản ứng là 3 giờ, kích thước hạt cao lanh với dhạt ≤ 0,2 mm. Kết quả ảnh  
hưởng của lượng nước bổ sung đến hiệu suất nung phân giải Al2O3 ở tỷ lệ mol  
NaHSO4/Al2O3 là 7/1 thu được ở bảng 3.14  
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của lượng nước bổ sung đến hiệu suất tách nhôm oxit  
với tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 7/1  
Tỉ lệ rắn – lỏng  
20/1  
10/1  
7,5/1  
5/1  
4/1  
Hiệu suất tách Al2O3 (%)  
78,65  
80,34  
88,57  
87,20  
86,90  
Khi thêm một lượng nước nhất định vào hỗn hợp rồi trộn đều và tiến hành  
nung thì hiệu quả tách Al2O3 tăng lên rõ rệt. Khi thêm nước với tỉ lệ rắn lỏng là 7,5/1  
có thể đạt được hiệu suất tách nhôm oxit lên đến 88,57%. Việc bổ sung nước vào hỗn  
hợp cao lanh và NaHSO4 rồi trộn đều trước khi nung làm cho hiệu suất tách Al2O3  
tăng được giải thích là do nước làm tăng bề mặt tiếp xúc pha giữa NaHSO4 và cao  
lanh. Tuy nhiên nếu thêm nước quá nhiều thì hiệu suất lại giảm.  
3.5.6. Khảo sát thay đổi qui trình làm thí nghiệm đến khả năng nung phân giải  
nhôm oxit  
Cao lanh được sàng qua sàng kích thước ≤ 0,2mm, lấy 10g cao lanh trộn đều  
với NaHSO4 theo các tỷ lệ mol (NaHSO4/Al2O3 trong cao lanh) từ 3/1 ÷ 8/1 tiến hành  
nung ở 250°C trong 1 giờ, lấy hỗn hợp ra trộn đều với nước với tỉ lệ rắn /lỏng là 2/1,  
cho vào nung tiếp lần 2 ở 350°C trong 3 giờ.  
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 đến hiệu suất tách Al2O3 khi thay  
đổi qui trình thí nghiệm  
Tỉ lệ mol  
NaHSO4/Al2O3  
Qui ra khối lượng Al2O3  
(g) có trong dung dịch  
Hiệu suất tách  
Al2O3 (%)  
49,64  
3/1  
4/1  
5/1  
6/1  
7/1  
8/1  
1,862  
2,219  
2,652  
3,111  
3,620  
3,264  
59,16  
70,72  
82,96  
95,67  
87,04  
Kết quả thu được từ bảng 3.15 cho thấy thay đổi quy trình thí nghiệm mang lại  
hiệu suất tách Al2O3 rất cao. Ở tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 3/1 đạt 49,64% đến tỉ lệ  
mol là 7/1 đạt hiệu suất tách nhôm oxit cao nhất là 95,67%.  
15  
3.5.6.1. Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian nung lần 1 đến khả năng nung phân  
giải nhôm oxit  
Tại nhiệt độ nung  
lần 1: 200oC  
Lấy 10g cao lanh  
trộn với NaHSO4 theo tỉ  
lệ mol NaHSO4/Al2O3 là  
6/1; 7/1. Thực hiện nung  
lần 1 (phản ứng lần 1) ở  
200oC trong 0,5h; 0,75h;  
1h; 1,15h và 1,5h sau đó  
0,5h  
0,75h  
1h  
1,15h  
1,5h  
lấy hỗn hợp ra cho nước  
vào theo tỉ lệ rắn/lỏng là  
2/1, tiếp tục nung lần 2  
ở 350oC trong 3 giờ.  
Thời gian phản ứng (giờ)  
Hình 3.6. Quan hệ giữa hiệu suất tách nhôm và thời gian phản ứng lần 1  
ở 2000C với tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 6/1(a), 7/1(b)  
Qua các khảo sát ở các tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 6/1; 7/1 với điều kiện nung lần 1 ở  
200oC trong 0,5h; 0,75h; 1h; 1,15h và 1,5h và điều kiện nung lần 2 ở 350oC trong 3  
giờ cho thấy thời gian nung lần 1 nên chọn 1 ÷ 1,15 giờ là thời gian cho hiệu suất tách  
nhôm oxit trong cao lanh tốt ở cả 2 tỉ  
lệ khảo sát.  
Tại nhiệt độ nung lần 1: 250oC  
Nghiên cứu tiếp theo sẽ thực hiện  
nung lần 1 ở 250oC trong thời gian  
0,5h; 0,75h; 1h; 1,15h và 1,5h sau đó  
lấy mẫu ra và bổ sung nước với tỷ lệ  
rắn/lỏng là 2/1, tiếp tục nung lần 2 ở  
350oC trong 3giờ. Phần này cũng  
được thực hiện với hai bộ thí nghiệm  
ứng với tỷ lệ mol NaHSO4/Al2O3là  
6/1 và 7/1. Khối lượng mẫu cao lanh  
sử dụng là 10g.  
Từ đồ thị hình 3.7 thấy rằng thời gian  
nung lần 1 từ 0,75 giờ đến 1giờ hiệu  
suất tách nhôm oxit tăng mạnh ở cả 2  
tỉ lệ mol 6/1 và 7/1.  
(a)  
(b)  
0,5h  
0,75h  
1h  
1,15h  
1,5h  
Thời gian phản ứng (giờ)  
Hình 3.7. Ảnh hưởng của thời gian nung lần 1 đến  
hiệu suất tách Al2O3 ở 250 oC  
Tại nhiệt độ nung lần 1: 300oC  
Tương tự như trên khảo sát thời  
gian nung lần 1 ở 300oC trong thời  
gian 0,5h; 0,75h; 1h; 1,15h và 1,5h  
sau đó lấy mẫu ra trộn với nước  
cũng theo tỷ lệ rắn/lỏng là 2/1, tiếp  
tục nung lần 2 ở 350oC trong 3 giờ.  
Các mẫu thí nghiệm đều được thực  
hiện với 10g cao lanh trộn với  
NaHSO4 theo các tỉ lệ mol  
NaHSO4/Al2O3 là 6/1 và 7/1.  
0,5h  
0,75h  
1h  
1,15h  
1,5h  
Thời gian phản ứng (giờ)  
Hình 3.8. Ảnh hưởng thời gian nung lần 1 đến hiệu suất tách  
Al2O3 ở nhiệt 300 oC tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 6/1(a), 7/1(b)  
16  
Qua đồ thị trên với tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 6/1 và 7/1, thời gian nung lần 1 ở  
300oC trong 0,5h; 0,75h; 1h; 1,15h và 1,5h và nung lần 2 ở 350oC trong 3 giờ cho  
thấy thời gian phản ứng lần 1 từ 1 ÷ 1,15 giờ là thời gian cho hiệu suất tốt cho cả 2 tỉ  
lệ khảo sát.  
3.5.6.2.Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian nung lần 2 đến khả năng nung phân  
giải nhôm oxit  
Lấy 10g cao lanh trộn với NaHSO4 theo tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 trong cao lanh là  
6/1; 7/1. Thực hiện nung lần 1 ở 250oC trong 1 giờ, thêm nước vào hỗn hợp theo tỉ lệ  
rắn lỏng là 2/1 nung tiếp tục nung lần 2 ở 350oC trong thời gian 1 giờ, 1 giờ 30 phút,  
2 giờ, 2 giờ 30 phút, 3 giờ, 3 giờ 30 phút và 4 giờ. Kết quả được thể hiện ở hình 3.9  
Nhìn vào hình 3.9 cho  
thấy  
ở
tỉ  
lệ  
mol  
NaHSO4/Al2O3 là 6/1; 7/1 ta  
thấy khi tăng thời gian nung  
lần 2 từ 1 giờ lên 3 giờ thì  
hiệu suất tách nhôm tăng  
nhưng khi tiếp tục tăng thời  
gian từ 3 giờ lên 3 giờ 30  
phút và 4 giờ thì hiệu suất  
giảm dần. Qua các khảo sát  
ở các tỉ lệ 6/1 và 7/1 cho  
thấy thời gian nung lần 2  
nên lựa chọn từ 2 giờ 30  
phút đến 3 giờ là thời gian  
có hiệu suất và năng suất  
cao cho cả hai tỉ lệ khảo sát.  
Thời gian nung (giờ)  
Hình 3.9. Ảnh hưởng của thời gian nung lần 2 đến hiệu suất tách  
Al2O3 ở nhiệt 350oC tỉ lệ mol NaHSO4/Al2O3 là 6/1(a), 7/1(b)  
Như vậy sau khi thay đổi qui trình làm thí nghiệm thấy rằng hiệu suất nung phân  
giải nhôm oxit trong cao lanh bằng NaHSO4 cao hơn hẳn so với phương pháp dùng  
axit (chỉ đạt 86,6%).  
Khi có bổ sung nước đạt hiệu suất tách nhôm oxit bằng NaHSO4 cao nhất là  
88,57%, còn thay đổi qui trình thí nghiệm đạt hiệu suất tách nhôm oxit trong cao lanh  
cao nhất 95,67%.  
3.6. Nghiên cứu nung phân giải nhôm oxit trong cao lanh bằng KHSO4  
3.6.1. Khảo sát ảnh hƣởng của nhiệt độ phản ứng đến khả năng nung phân giải  
nhôm trong cao lanh bằng KHSO4  
Kết quả nghiên cứu phản ứng giữa cao lanh với KHSO4 ở tỷ lệ mol KHSO4/Al2O3  
= 7/1 bằng giản đồ phân tích nhiệt (TGA, DTA) được trình bày trên hình 3.10  
Từ kết quả giản đồ phân tích nhiệt, có thể thấy có 3 pic thu nhiệt ở các nhiệt độ  
67,05; 215,05 và 665,49oC như vậy phản ứng giữa KHSO4 và cao lanh là phản ứng  
17  
thu nhiệt. Ở nhiệt độ 67,05oC được  
cho là quá trình mất nước vật lý của  
hỗn hợp; ở nhiệt độ 215,05oC ứng  
với quá trình nóng chảy của KHSO4  
[46] và ở 665,49oC được cho là ứng  
với quá trình mất nước liên kết trong  
cao lanh và phân hủy sản phẩm.  
Như vậy, có thể thấy nhiệt độ  
thực hiện phản ứng giữa cao lanh và  
KHSO4 ở vào khoảng trên 200oC.  
Hình 3.10. Giản đồ TGA,DTA mẫu cao lanh  
và KHS04  
Lấy 10g cao lanh trộn với KHSO4, khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến  
hiệu suất nung phân giải Al2O3 trong cao lanh với tỉ lệ mol KHSO4 /Al2O3 là 4/1 (a);  
5/1 (b); 6/1 (c); 7/1 (d), thời gian nung 3 giờ ở các nhiệt độ 200oC, 250oC, 300oC,  
350oC, 400oC kết quả được chỉ ra ở hình 3.11  
Từ hình 3.11 cho thấy, nhiệt độ  
ảnh hưởng nhiều đến khả năng  
nung phân giải nhôm trong cao  
lanh. Ở 200oC hiệu suất tách cao  
nhất chỉ đạt 32,84% (đường b). Khi  
nhiệt độ tăng thì hiệu suất tách tăng  
và đạt giá trị tối ưu ở khoảng  
350oC. Tại giá trị tỉ lệ mol KHSO4  
/Al2O3 bằng 4/1, hiệu suất tách đạt  
giá trị lớn nhất bằng 55,12%.  
Trong khoảng nhiệt độ từ 200oC  
đến 300oC, hiệu suất tách tăng  
không đáng kể. Từ 3000C trở lên  
hiệu suất tách bắt đầu tăng khá  
nhanh.  
Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng nhiệt độ lên đến 4000C thì hiệu suất tách nhôm oxit lại giảm.  
3.6.2. Khảo sát ảnh hƣởng thời  
gian phản ứng đến khả năng nung  
phân giải nhôm oxit bằng KHSO4  
Nghiên cứu, tìm ra thời gian  
thích hợp cho phản ứng sẽ tăng năng  
suất và mang lại hiệu quả kinh tế  
trong thực tế. Lấy 10g cao lanh trộn  
với KHSO4, nung ở 3500C với tỉ lệ  
mol KHSO4 /Al2O3 là 3/1 ; 4/1 ; 5/1  
; 6/1; 7/1 trong khoảng thời gian  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 15200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quá trình chế biến cao lanh Phú Thọ để sản xuất các hợp chất của nhôm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_qua_trinh_che_bien_cao_lanh_phu_t.pdf