Luận văn Các yếu tố tác động đến giá đất ở nông thôn tại thành phố Tân An, tỉnh Long An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
NGUYỄN NGỌC MINH THIỆN  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG  
ĐẾN GIÁ ĐẤT Ở NÔNG THÔN TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN  
TỈNH LONG AN  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số: 60340403  
U N V N THẠC S KINH TẾ  
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC VINH  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016  
i
ỜI CA M ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu thực hiện. Các  
thông tin, số liệu và kết luận nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và  
được trích dẫn đầy đủ nguồn tại danh mục tài liệu tham khảo.  
Tôi chân thành cảm ơn sự tận tình hướng dẫn của thầy Nguyễn Ngọc Vinh  
và cũng xin bày tỏ lòng tri ân đến các thầy cô tham gia giảng dạy lớp cao học quản  
lý công.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016  
Nguyễn Ngọc Minh Thiện  
 
ii  
TÓM TẮT  
Đề tài “Các yếu tố tác động đến giá đất ở nông thôn tại thành phố Tân An,  
tỉnh Long An” được tiến hành từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 trên địa  
bàn 5 xã thuộc thành phố Tân An, tỉnh Long An.  
Mục tiêu của đề tài là nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá được mức  
độ tác động của các yếu tố này đến giá đất. Xây dựng mô hình định giá đất phục vụ  
công tác quản lý Nhà nước về đất ở trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An.  
Các phương pháp đã được vận dụng trong đề tài: phân tích thống kê tổng  
hợp, thống kê mô tả, so sánh và phân tích định lượng để xác định các yếu tố ảnh  
hưởng đến giá đất ở nông thôn nói riêng và giá đất ở nói chung, từ đó có thể điều  
chỉnh mức chênh lệch giữa giá quy định của nhà nước và giá của thị trường phục  
vụ cho công tác giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà  
nước thu hồi đất.  
Kết quả của đề tài: (1) Trên cơ sở điều tra việc chuyển nhượng thực tế, tính  
giá đất ở nông thôn trên mô hình hồi quy bội, so sánh với bảng giá được ban  
hành; (2) Ước lượng mô hình định giá đất ở và so sánh với cách tính giá đất ở  
của các cơ quan quản lý của nhà nước, nhằm đề xuất mô hình định giá đất ở phù  
hợp hơn giảm đi khoảng cách chênh lệch giữa giá nhà nước quy định và giá giao  
dịch ngoài thị trường; và (3) Đề xuất hàm ý chính sách cho nhà quản trị.  
Kết quả của nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo ứng dụng cho các sở  
ngành (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, UBND các  
huyện, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An,…) và đặc biệt là UBND tỉnh Long  
An khi ước lượng, định giá cho loại đất ở và đất ở nông thôn tại thành phố Tân An  
và các địa phương khác của tỉnh. Góp phần đề xuất những giải pháp thiết thực trong  
việc xác định giá đất ở phục vụ cho công tác tính thuế cũng như thu tiền sử dụng đất  
của nhà nước trong quản lý về đất đai.  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
NỘI DUNG  
TỪ VIẾT  
TẮT  
BĐS  
Bất động sản  
CHXHCN  
HĐND  
KDC  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Hội đồng nhân dân  
Khu dân cư  
UBND  
VNĐ  
Ủy ban nhân dân  
Đơn vị tiền tệ Việt Nam  
 
vi  
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP  
TT  
NỘI DUNG  
Bản đồ giá trị  
TRANG  
Hình 2.1  
Hình 2.2  
Hình 2.3  
Hình 2.4  
Hình 3.1  
Bảng 3.1  
Hình 4.1  
Hình 4.2  
8
Tính ngưỡng của giá cả đất đai  
Tính phi tuyến của giá cả đất đai  
Mô hình phân khu chức năng đất đai trong không gian  
Quy trình nghiên cứu thực hiện đề tài  
Mô tả các biến độc lập  
9
10  
20  
32  
41  
44  
45  
Vị trí tỉnh Long An  
Vị trí thành phố Tân An  
Kết quả thống kê giá đất ở nông thôn của thị trường qua  
khảo sát  
Bảng 4.1  
Bảng 4.2  
53  
56  
Tóm tắt kết quả hồi quy từng biến độc lập có ý nghĩa  
thống kê  
 
1
Chƣơng 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU  
1.1. Vấn đề nghiên cứu  
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc  
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân  
bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc  
phòng.” (Luật Đất đai, 1993). Đất đai đã trở thành nguồn tài chính tiềm năng,  
nguồn nội lực cơ bản để phát triển kinh tế đất nước, nguồn thu cho ngân sách nhà  
nước.  
Giá trị đất đai (trong bài viết gọi tắt là giá đất) phản ánh tác dụng của đất  
đai trong hoạt động kinh tế, nó là sự thu lợi trong quá trình mua bán, có nghĩa là  
tư bản hóa địa tô. Nói cách khác giá trị đất đai cao hay thấp quyết định bởi nó có  
thể thu lợi (địa tô) cao hay thấp ở một khoảng thời gian nào đó. Quyền lợi đất đai  
đến đâu thì có thể có khả năng thu lợi đến đó từ đất và cũng có giá trị tương ứng,  
như giá trị quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng, giá trị quyền cho thuê, giá trị  
quyền thế chấp,…  
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá đất được tính dựa trên  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, là tổng hòa giá trị hiện hành của địa tô nhiều  
năm được chi trả một lần, là hình thức thực hiện quyền sở hữu đất đai trong kinh  
tế. Cho nên hàm ý về giá trị đất đai ở nước ta không giống các quốc gia thông  
thường có chế độ tư hữu đất đai: thứ nhất, nó là cái giá phải trả để có quyền sử  
dụng đất trong nhiều năm, mà không phải là giá trị quyền sở hữu đất; thứ hai, do  
thời gian sử dụng đất tương đối dài, nói chung đều trên 20 năm, trong thời gian  
sử dụng cũng có quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp,  
góp vốn tương tự như quyền sở hữu (Hồ Thị Lam Trà, 2006).  
Định giá đất, là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản  
lý nhà nước về đất đai. Do tính chất phức tạp của thị trường nên giá đất chịu ảnh  
hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau. Xác định đúng và đầy đủ các yếu tố ảnh  
hưởng đến giá đất trên thị trường là một vấn đề quan trọng nhằm góp phần xây  
dựng giá đất công bằng chính xác và khách quan, phù hợp với cơ sở khoa học và  
   
2
thực tiễn để điều tiết thị trường đất đai.  
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc xây dựng bảng giá các loại đất 5 năm  
2015-2019, xác định giá các loại đất cụ thể tại Long An chủ yếu dựa vào hai  
phương pháp: so sánh trực tiếp và thu nhập. Do đó, trong năm 2015 khi áp dụng  
giá đất, nhất là giá đất ở tại bảng giá được phê duyệt, còn xảy ra nhiều trường  
hợp mâu thuẩn, cần phải điều chỉnh bổ sung hoặc phải mời tư vấn xác định lại  
(Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An, 2015). Thực trạng đó, ảnh hưởng  
rất lớn đến thời gian và kinh phí của nhà nước khi thực hiện các vấn đề liên quan  
đến quản lý nhà nước về giá đất trên địa bàn tỉnh.  
Để góp phần hoàn thiện công tác xác định giá đất ở nông thôn nói riêng và  
giá đất phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương nói  
chung, tác giả chọn chủ đề nghiên cứu: “Các yếu tố tác động đến giá đất ở nông  
thôn tại thành phố Tân An, tỉnh Long An”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát: Đề tài nghiên cứu này có 2 mục tiêu là: Nhận dạng  
các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá được mức độ tác động của các yếu tố này đến  
giá đất. Xây dựng mô hình định giá đất phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất  
ở trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An.  
Mục tiêu cụ thể: (1) Nhận diện, xây dựng khung phân tích và phân tích  
mức độ tác động của các yếu tố tự nhiên, môi trường, kỹ thuật và kinh tế - xã hội  
đến giá đất ở nông thôn tại thành phố Tân An; (2) Ước lượng mô hình định giá  
đất ở và so sánh với cách tính giá đất ở của các cơ quan quản lý của nhà nước,  
nhằm đề xuất mô hình định giá đất ở phù hợp hơn giảm đi khoảng cách chênh  
lệch giữa giá nhà nước quy định và giá giao dịch ngoài thị trường; và (3) Đề xuất  
hàm ý chính sách cho nhà quản trị.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
Các yếu tố nào tác động đến giá đất ở nông thôn nói riêng và giá đất ở  
nói chung?  
Mô hình nghiên cứu nào là phù hợp?  
   
3
Những chính sách, yếu tố chính ảnh hưởng đến giá đất mà cơ quan quản  
lý nhà nước cần quan tâm trong quá trình định giá đất ở nông thôn nói riêng và  
giá đất ở nói chung?  
1.4. Đối tƣợng nghiên cứu và các giới hạn của nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của các yếu tố đến giá đất ở nông  
thôn.  
Đối tượng khảo sát: Giá của đất ở nông thôn tại thành phố Tân An.  
Các giới hạn của nghiên cứu:  
- Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu giá đất ở nông thôn.  
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 5 xã (gồm: An  
Vĩnh Ngãi, Lợi Bình Nhơn, Nhơn Thạnh Trung, Hướng Thọ Phú và Bình  
Tâm) thuộc thành phố Tân An.  
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ 15/9/2015 đến  
15/3/2016.  
1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Phân tích thống kê tổng hợp: Tổng hợp và tóm lược các thành quả, kết  
quả của các nghiên cứu trước đây.  
Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp về các yếu tố đặc điểm tự  
nhiên, môi trường sinh thái, hạ tầng kỹ thuật, kinh tế xã hội và giá của các  
thửa đất ở nông thôn tại 5 xã thuộc thành phố Tân An.  
Phương pháp thống kê mô tả, nhằm phân tích các kết quả khảo sát để có  
các tính chất cơ bản của bộ dữ liệu trước khi phân tích hồi quy.  
Phân tích định lượng: Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất  
(OLS: Ordinary Least Squares) và phần mềm thống kê Stata để phân tích tác  
động của các yếu tố lên giá đất ở nông thôn.  
Phương pháp so sánh để đánh giá kết quả định giá bằng mô hình giá đất  
so với giá đất tại bảng giá để có kết luận phù hợp.  
1.6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu  
Kết quả của nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo cho các sở ngành  
     
4
(Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, UBND các huyện,  
thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An,…) và đặc biệt là UBND tỉnh Long An  
khi ước lượng, định giá cho loại đất ở và đất ở nông thôn tại thành phố Tân An  
và các địa phương khác của tỉnh.  
Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần nghiên cứu những giải pháp thiết thực  
trong việc xác định giá đất ở nói chung phục vụ cho công tác tính thuế cũng như  
thu tiền sử dụng đất của nhà nước trong quản lý về đất đai.  
1.7. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần tóm tắt, mục lục, danh mục bảng số liệu, biểu đồ, các chữ viết  
tắt luận văn có cấu trúc gồm 5 chương:  
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu  
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu tiên nghiệm  
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu  
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu  
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.  
TÓM TẮT CHƢƠNG 1  
Nội dung của chương này làm rõ lý do chọn đề tài, tóm lược phương pháp  
nghiên cứu về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở nông thôn. Từ đó, xác  
định mục tiêu nghiên cứu và được cụ thể bằng ba câu hỏi nghiên cứu. Trong đó,  
nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu là nguồn số liệu sơ cấp và nguồn số liệu thứ  
cấp. Trong chương tác giả đã đưa ra ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và kết  
cấu chính của luận văn.  
 
5
Chƣơng 2 CƠ SỞ Ý THUYẾT VÀ KHẢO ƢỢC CÁC NGHIÊN CỨU TIÊN  
NGHIỆM  
2.1. Đất đai và giá trị đất đai  
2.1.1. Khái niệm về đất đai  
Trang 1248, Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện nghiên cứu và phổ biến  
kiến thức bách khoa 1998 “Đất đai là một phần bề mặt tơi xốp của lớp vỏ trái  
đất, chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như địa hình, địa chất, khí hậu, thủy  
văn, sinh vật. Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên, một loại tư liệu sản  
xuất, chỉ tất cả các lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất.”.  
Diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi  
trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ  
nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát  
bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và  
động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong  
quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước,  
đường xá, nhà cửa,...).  
Đã có các khái niệm khác nhau về lãnh thổ, đất và đất đai, có thể tóm lược  
như: Lãnh thổ, là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc trong không gian và thời  
gian xác định, thuộc phạm trù địa lý - dân tộc; Đất, là lớp bề mặt trái đất hiểu  
theo nghĩa rộng hơn so với khái niệm thổ nhưỡng, thuộc phạm trù địa lý - tự  
nhiên; Đất đai, là sự vật địa lý - kinh tế, kết quả của mối quan hệ tổng hòa giữa  
đất và hoạt động kinh tế xã hội của con người trong cộng đồng dân tộc trên một  
lãnh thổ nhất định.  
2.1.2. Vai trò và đặc điểm của đất đai  
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng  
là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh  
vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người,  
là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu  
sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì  
       
6
không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất  
ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Trải  
qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một  
sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia.  
Đất đai còn được hiểu bao gồm đất và người, trong đó, con người là yếu  
tố quyết định đến sự hình thành và phát triển của đất đai, không có con người chỉ  
có đất và trái đất. Đất đai có các tính chất tự nhiên và tính chất xã hội sau:  
- Tính chất tự nhiên là các đặc điểm không gian, địa hình, địa mạo, địa  
chất, địa chấn và các đặc điểm lý hóa sinh của môi trường đất, cũng như các đặc  
điểm kỹ thuật hạ tầng của đất đai.  
- Tính chất xã hội của đất đai là các đặc điểm văn hóa - xã hội và kinh tế  
của con người.  
Tính bất định của tính chất tự nhiên và xã hội của đất đai, là hai thuộc tính  
cấu thành giá trị hữu hình và vô hình của đất đai, làm cho giá trị của đất đai  
không được xác định một cách nhất quán, mà là ngẫu nhiên. Đây chính là  
nguyên nhân làm xuất hiện chức năng xác định giá đất.  
2.1.3. Giá trị đất đai  
2.1.3.1. Các quan điểm về giá trị đất đai  
Cũng giống như các loại hàng hóa thông thường khác, giá đất được hình  
thành trên cơ sở quan hệ cung cầu về lợi ích của đất đai trên thị trường. Giá cả là  
biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị thị trường của đất đai chính là giá trị trao  
đổi của đất đai trên thị trường.  
Để hiểu được bản chất ẩn chứa bên trong của các hình thức giá cả đất đai  
trước tiên cần nghiên cứu tổng quan một số quan điểm về giá trị hiện nay của các  
trường phái kinh tế học khác nhau: kinh tế học chính trị Mac xit, kinh tế học tân  
cổ điển và kinh tế học hành vi.  
Theo quan điểm của kinh tế học chính trị Mac xit, một sản phẩm hàng hóa  
có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là thuộc tính vật chất  
tự nhiên của sản phẩm hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.  
 
7
Giá trị là thuộc tính xã hội, là lao động xã hội kết tinh trong sản phẩm hàng hóa.  
Quan điểm này cho rằng đất đai không có giá trị, vì đất đai không phải do con  
người làm ra và không có lao động xã hội kết tinh trong đó.  
Theo quan điểm kinh tế học tân cổ điển, đất đai có tính hữu dụng và đất  
đai là đối tượng của trao đổi trên thị trường và do vậy đất đai có giá trị trao đổi.  
Quan điểm này thì không đề cập đến phạm trù giá trị sức lao động. Bất kỳ sản  
phẩm nào có khả năng đáp ứng được mong muốn của con người đều được coi là  
có giá trị sử dụng. Năng lực của giá trị sử dụng này trong việc trao đổi với các  
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác được gọi là giá trị trao đổi của nó. Giá cả là  
giá trị tiền tệ của sản phẩm khi nó được giao dịch trên thị trường.  
Tuy nhiên, hai quan điểm này khi áp dụng vào thực tế thì còn bộc lộ  
những thiếu sót và hạn chế trong lý giải quá trình hình thành giá trị đất đai trong  
đô thị (Nhiêu Hội Lâm, 2004).  
Quan điểm kinh tế học hành vi có tính hiện thực hơn, bổ sung và lý giải sự  
hình thành giá trị đất đai khái quát và đầy đủ hơn. Theo quan điểm kinh tế học  
hành vi được trình bày trong các lý thuyết marketing hiện đại, thì giá trị của một  
sản phẩm hàng hóa gồm có giá trị hữu hình và giá trị vô hình. Giá trị hữu hình là  
giá trị vật chất phụ thuộc vào chi phí sản xuất vật chất sản phẩm hàng hóa; giá trị  
vô hình phụ thuộc vào tâm lý người tiêu dùng, phụ thuộc tâm tư, nguyện vọng và  
ước muốn của con người, phụ thuộc vào vị thế của thương hiệu hàng hóa ngự trị  
trong tâm trí người tiêu dùng (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2005).  
2.1.3.2. Các hình thái của giá trị đất đai  
Giá trị là bản chất bên trong biểu hiện ra bên ngoài trong những tình  
huống và mục đích khác nhau thì sẽ xuất hiện nhiều hình thái khác nhau. Trong  
thực tế và các tài liệu kinh tế BĐS thường bắt gặp các loại giá trị như: giá trị cảm  
nhận, giá trị tài chính, giá bán, giá mua, giá mua bán và giá thị trường,...  
Giá trị cảm nhận ứng với lợi ích cảm nhận được từ các thuộc tính tự nhiên  
và xã hội của đất đai, phản ánh trạng thái tâm sinh lý của người tiêu dùng khi sử  
dụng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, có các loại giá trị cảm nhận như giá trị tình  
8
cảm, giá trị nghệ thuật, giá trị nhận thức,...  
Giá trị tài chính phản ánh hành vi trao đổi của con người để có được hay  
sẵn sàng từ bỏ sự thỏa mãn khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Giá trị  
tài chính có quan hệ với giá trị cảm nhận, mối quan hệ này được minh họa trên  
bản đồ giá trị (Hình 2.1). Đường cân bằng giữa hai trục giá trị cảm nhận và giá  
trị tài chính, phản ánh quy luật tiền nào của nấy. Giá trị tài chính biểu hiện thông  
qua các loại giá cả: giá mua, giá bán, giá mua bán và giá cả thị trường.  
Thông thường giá bán thường cao hơn giá trị tài chính cân bằng và giá  
mua lại thấp hơn giá trị tài chính theo quy luật mua rẻ bán đắt.  
Hình 2.1. Bản đồ giá trị  
Nguồn: Trần Thanh Hùng, 2012  
Giá mua bán dao động xung quanh giá trị tài chính, nằm trong khoảng  
giữa giá rao bán và giá rao mua, phụ thuộc vào khả năng cảm nhận về lợi ích thu  
được từ BĐS. Cùng một BĐS thì lợi ích cảm nhận được hoàn toàn khác nhau đối  
với mỗi cá nhân con người. Mỗi người có một hoàn cảnh sống khác nhau, vị thế  
xã hội khác nhau, có sự trải nghiệm và trình độ khác nhau thì có sự nhận định  
khác nhau về mức độ quan trọng và lợi ích của BĐS, nên đánh giá khác nhau về  
giá trị tài chính. Giá mua bán được hình thành trong các tình huống giao dịch cụ  
thể, mang tính phải chăng, tức tương xứng với lợi ích cảm nhận được trong một  
bối cảnh cụ thể.  
Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị trao đổi, hình  
thành thông qua quan hệ cung cầu của thị trường, là giá trị trung bình của các  
9
mức giá mua bán cụ thể, được chấp nhận bởi đa số, gọi là giá mang tính phổ biến  
trên thị trường.  
2.1.3.3. Đặc điểm thay đổi của giá cả đất đai  
Thị trường đất đai là một trong những thành phần quan trọng của thể chế  
kinh tế thị trường, nhưng đất đai là hàng hóa đặc biệt, vì vậy giá cả đất đai trong  
thị trường có một số điểm khác với giá cả của hàng hóa thông thường.  
Có thể thấy rằng yếu tố chi phối giá đất trong một khu vực phần lớn được  
quy định bởi mức vị thế xã hội của khu vực đó. Sự thay đổi giá này thường gắn  
liền với quá trình trưởng giả hóa hay hoang hóa, thường được gọi là trào lưu tiêu  
dùng xã hội.  
Mỗi một khu vực cụ thể có mức vị thế nhất định sẽ có một mức giá trị trao  
đổi xác định, giá cả mua bán trên thị trường có thể dao động, nhưng luôn xoay  
quanh mức giá trị này. Vì vậy mà giá cả thị trường đất đai mang tính ngưỡng.  
Các mức vị thế khác nhau có các mức ngưỡng giá cả đất đai khác nhau (Hình  
2.2).  
Hình 2.2. Tính ngưỡng của giá cả đất đai  
Nguồn: Trần Thanh Hùng, 2012  
Giá cả thị trường của đất đai không phải là một điểm cân bằng tĩnh, mà là  
điểm cân bằng động. Ở một vị trí và thời gian cố định giá cả thị trường của đất  
đai là không đổi, nhưng giá cả sẽ thay đổi theo thời gian và không gian phân bố.  
Do thành phần vị thế mà giá trị trao đổi đất đai trong thực tế có tính phi tuyến, vị  
thế là yếu tố chủ đạo tạo ra giá trị trao đổi, khi vị thế đột ngột tăng cao thì giá  
cũng tăng cao, ngược lại giá giảm là do vị thế giảm đột ngột. Quá trình này là do  
10  
quá trình trưởng giả hóa hay hoang hóa tạo ra. Có nghĩa là, tập trung những  
người có vị thế cao thì giá cả sẽ tăng đột ngột từ điểm A đến B (Hình 2.3).  
Khi có một tác động nhỏ đến khu vực này thì giá cả đất đai sẽ đột nhiên  
“cất cánh”. Có thể hiểu đơn giản là vì có sự thay đổi trong động học dân cư đô  
thị. Nói cụ thể hơn, một nơi có vị thế thấp, nhưng có sự dự báo về khả năng phát  
triển, hay được kích thích bởi những cư dân có vị thế cao trong xã hội, dần dần  
sẽ có sự dịch chuyển những người giàu có đến định cư và tạo thành một cực vị  
thế mới. Động thái này được gọi là quá trình trưởng giả hóa, với hệ quả là giá cả  
tăng cao gấp nhiều lần.  
Ngược lại, tại khu vực có vị thế cao, vì một lý do nào đó như muốn có  
thêm thu nhập, hay việc làm mà người từ khu vực có vị thế thấp hay người có  
thu nhập thấp di chuyển vào với mật độ cao, khi đó những người có vị thế cao  
trước đây cảm thấy mình không còn tương thích với khu vực ấy, họ sẽ tìm kiếm  
một khu vực khác phù hợp với vị thế của mình. Động thái này được gọi là quá  
trình hoang hóa.  
Hình 2.3. Tính phi tuyến của giá cả đất đai  
Nguồn: Trần Thanh Hùng, 2012  
Ngoài tính ngưỡng và tính phi tuyến giá cả đất đai còn có tính miền, tức là  
giá đất được xác định không phải bằng một mức giá cụ thể, mà thường dao động  
trong một khoảng giá nhất định, phụ thuộc vào sự đánh giá vừa cảm tính và vừa  
lý tính của người mua và người bán, của người sử dụng hiện tại và nhà đầu tư  
phát triển tương lai. Thông thường giá đất theo sự đánh giá của người sử dụng  
hiện tại là mức giá chặn dưới, theo sự đánh giá của nhà đầu tư phát triển là mức  
11  
giá chặn trên, mức giá thị trường sẽ dao động trong khoảng chênh lệch này.  
2.1.3.4. Các yếu tố tác động đến giá đất  
Ở đây cần phân biệt các yếu tố cấu thành giá trị đất đai khác với các yếu  
tố ảnh hưởng đến giá đất - biểu hiện tiền tệ của giá trị đất đai.  
Các yếu tố cấu thành giá trị đất đai là các yếu tố đặc điểm bên trong của  
đất đai, cụ thể là các yếu tố đặc điểm chất lượng tự nhiên và vị thế xã hội của đất  
đai. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất là các yếu tố bên ngoài đất đai, là các yếu  
tố cung cầu thị trường, xã hội, chính trị và chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của  
nhà nước.  
Trong các tài liệu định giá đất, các yếu tố tác động đến giá đất được xác  
định bao gồm yếu tố khu vực, quy hoạch, xã hội, chính sách pháp luật, cá biệt và  
các yếu tố kinh tế thị trường (Hồ Thị Lam Trà, 2006).  
* Yếu tố khu vực  
Yếu tố khu vực là chỉ điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội nơi có  
đất, những đặc tính địa phương do sự liên kết của các yếu tố này tạo ra có ảnh  
hưởng quyết định đến mức giá cả đất đai của địa phương đó bao gồm:  
- Vị trí: Yếu tố vị trí ảnh hưởng đến giá đất chủ yếu là nói về vị trí kinh tế,  
là nói về vị trí cụ thể từng đối tượng định giá trong thành phố, bao gồm đất được  
xếp hạng, cự ly đến trung tâm thành phố, trung tâm thương nghiệp hoặc đến các  
trung tâm tập trung đông dân, cũng bao gồm cả mức độ ảnh hưởng của các loại  
trung tâm đối với các khu vực khác của thành phố hoặc các loại đất.  
- Điều kiện cơ sở hạ tầng: Điều kiện cơ sở hạ tầng xã hội ảnh hưởng tới  
giá đất chủ yếu bao gồm: điện, điện thoại, nhà trẻ, trường học, công viên, bệnh  
viện,… Ngoài ra còn xem xét đến cấp hạng, kết cấu, hệ số bảo đảm, mức độ  
đồng bộ và khoảng cách xa gần,… điều kiện cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến giá  
đất chủ yếu có loại đường giao thông của địa phương, độ tiện lợi và phương thức  
liên hệ với bên ngoài, kết cấu tổng thể của mạng lưới giao thông, tình hình  
đường sá và cấp hạng, tình trạng giao thông công cộng và mật độ mạng lưới giao  
thông,…  
12  
- Chất lượng môi trường: Chất lượng môi trường ảnh hưởng đến giá đất  
chủ yếu bao gồm môi trường nhân văn và môi trường tự nhiên, bao gồm các điều  
kiện môi trường tự nhiên như: địa chất, địa thế, độ dốc, hướng gió, không khí, độ  
ô nhiễm tiếng ồn,… cho đến các môi trường nhân văn như loại hình nghề nghiệp  
của dân cư, trình độ giáo dục và mức thu nhập ở khu vực.  
* Yếu tố quy hoạch  
Yếu tố quy hoạch ảnh hưởng tới giá đất, chủ yếu có tính chất sử dụng đất  
ở trong khu vực, kết cấu sử dụng, những điều kiện hạn chế sử dụng đất.  
Mức độ ảnh hưởng đến giá đất khu vực có tương quan trực tiếp với tính  
chất của phân khu chức năng và tính chất sử dụng đất chức năng khác nhau trong  
đô thị. Ví dụ, khu nhà ở thì đặc biệt chú trọng sự hoàn mỹ của môi trường kinh  
doanh và tình trạng thu lợi, khu công nghiệp thì đặc biệt chú trọng đến giao  
thông vận tải và các điều kiện cung ứng điện,…  
* Yếu tố xã hội  
Xã hội phát triển và ổn định có ảnh hưởng rất lớn đối với giá đất. Yếu tố  
xã hội ảnh hưởng đến giá đất có bốn mặt chủ yếu là dân số, trạng thái ổn định  
chính trị, an ninh xã hội, đầu cơ vào nhà đất và đô thị hóa.  
- Dân số: Nói đến yếu tố xã hội không thể bỏ dân số của xã hội. Tăng dân  
số làm tăng mọi mặt nhu cầu của xã hội, nhu cầu về nhà ở và đất đai cũng tăng  
lên làm giá đất tăng cao.  
- Tình trạng an ninh xã hội: Yếu tố này ảnh hưởng đến giá đất rõ và dễ  
thấy. Bất luận khu nhà ở hay khu thương nghiệp, trật tự xã hội tốt thì mọi người  
sẽ cảm thấy an toàn, vì vậy họ sẵn sàng đầu tư, mua bán, cư trú, do đó kéo theo  
giá đất tăng lên.  
- Đầu cơ đất đai: Đầu cơ là hành vi đầu tư vào hàng hóa nhưng không có  
nhu cầu sử dụng mà người đầu cơ hy vọng và lợi dụng sự biến động của giá cả  
đất đai để thu được siêu lợi nhuận. Yếu tố này ảnh hưởng đột xuất đến mức giá  
đất, đặc biệt là mức giá đất thị trường. Khi đất cung không đủ cầu, do người đầu  
cơ tranh mua mà đợi giá lên cao, khi đất cung nhiều hơn cầu, do người đầu cơ  
13  
bán tháo làm cho đất rớt giá. Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến biến động giá cả  
trên thị trường, có thể làm xoay chuyển giá cả thị trường.  
- Đô thị hóa: Đô thị hóa là một quá trình phát triển tất yếu của mỗi quốc  
gia trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu các khu vực hoạt động kinh tế xã hội. Đặc  
trưng rõ nét nhất của đô thị hóa là quy mô tập trung dân số về các vùng đô thị và  
sự phát triển quy mô bề rộng không gian đô thị. Tiến trình đô thị hóa sẽ kéo theo  
tốc độ tăng dân số do di dân tự do, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng và chuyển mục  
đích sử dụng đất giữa các khu vực,… và điều tất yếu là giá đất những khu vực  
này có xu hướng tăng nhanh.  
* Yếu tố chính sách pháp luật  
Yếu tố chính sách chủ yếu là sự can thiệp của nhà nước đến giá cả đất đai.  
Xuất phát từ lợi ích toàn xã hội và từ gốc độ phát triển kinh tế vĩ mô đưa ra các  
chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Sự can thiệp có ảnh hưởng  
rất lớn đến giá đất. Yếu tố chính sách ảnh hưởng đến giá đất gồm có: chế độ đất  
đai, chế độ nhà ở, chính sách giá đất, chính sách thuế,…  
- Chế độ đất đai: Bao gồm chế độ sở hữu đất và chế độ sử dụng đất. Chế  
độ đất đai khống chế trực tiếp sự tồn tại, tăng lên hay giảm xuống của giá đất  
đai.  
- Chính sách về giá đất: Yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến xu thế của giá  
đất đai. Nói chung, chính sách giá đất tăng cao tức là Chính phủ nới lỏng quản lý  
đối với giá đất làm giá đất tăng lên, chính sách giá đất thấp là Chính phủ dùng  
nhiều biện pháp khống chế tăng giá của đất từ đó làm cho mức giá hạ xuống  
hoặc ngưng trệ lại. đồng thời, chính sách quản lý giá đất cũng ảnh hưởng đến  
tâm lý đầu tư của nhà đầu tư vào đất, từ đó ảnh hưởng đến giá đất cao hay thấp.  
- Chính sách thuế: Mức thuế cao hoặc thấp có ảnh hưởng không nhỏ đến  
giá đất. Nếu thuế tăng thì tích lũy của tổ chức, cá nhân giảm, từ đó giảm đầu tư  
xã hội, mức tăng trưởng kinh tế thấp. Lúc này các nhà đầu tư không muốn mở  
rộng đầu tư, nhu cầu về đất giảm, nên giá cả đất đai giảm. Ngược lại, giảm thuế  
thì tích lũy tăng, giá cả đất đai tăng lên.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 103 trang yennguyen 9221 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các yếu tố tác động đến giá đất ở nông thôn tại thành phố Tân An, tỉnh Long An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_yeu_to_tac_dong_den_gia_dat_o_nong_thon_tai_tha.pdf