Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu đặc điểm môi trường sống của một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

1
2
3
4
trung gian của sán lá gan tại xã Bình An, huyện Thăng Bình , tỉnh  
Quảng Nam.  
MỞ ĐẦU  
+ Nghiên cứu sinh cảnh và môi trường sống của các loài ốc  
nước ngọt là ký chủ trung gian của sán lá gan tại ñịa phương nghiên cứu.  
+ Tỉ lệ nhiễm cercaria của sán lá gan ở các loại ốc nước ngọt  
là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
1. Tính cấp thiết của ñề tài  
Việt Nam là nước nông nghiệp vì vậy ñể phát triển nền kinh  
tế nông nghiệp chúng ta phải chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa  
tới nông nghiệp về trồng trọt cũng như về công tác chăn nuôi, ñể góp  
phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, sức cày kéo và tăng thêm thu  
nhập cho người chăn nuôi.  
+ Sơ bộ ñề xuất các biện pháp phòng tránh tác hại của sán lá gan .  
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài  
Kết quả nghiên cứu là thông tin có giá trị khoa học và thực  
tiễn, làm cơ sở cho người dân ñịa phương có biện pháp phòng tránh  
tác hại của sán lá gan.  
Với sự biến ñổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam là nước chịu ảnh  
hưởng nặng nề ñã làm xuất hiện nhiều ký sinh trùng gây bệnh cho  
người và gia súc. Bệnh sán lá gan là một bệnh nguy hiểm mà loài  
người ñã và ñang quan tâm, ñặc biệt ñây là bệnh lây truyền chung  
giữa người và gia súc. Trước ñây SLG chủ yếu gây bệnh mãn tính  
cho gia súc và vật nuôi. Song gần ñây, bệnh nổi lên như một bệnh lý  
quan trọng ở người.  
5.Cấu trúc của luận văn  
Luận văn dày 64 trang, bao gồm các phần sau:  
Mở ñầu: 3 trang; Chương 1: Tổng quan tài liệu 27 trang;  
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 3 trang; Chương  
3: Kết quả nghiên cứu: 25 trang; Kết luận và kiến nghị: 3 trang; Kết  
luận và kiến nghị 3 trang; Có 23 tài liệu tham khảo; có 10 bảng biểu,  
14 hình, 4 trang phụ lục.  
Các ổ bệnh sán lá gan ở người và vật nuôi không chỉ phụ  
thuộc vào thời tiết, tập quán ăn uống mà còn phụ thuộc vào sự phân  
bố của các loài ốc sống ở nước ngọt. Trước thực trạng trên, chúng tôi  
tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm môi trường  
sống của một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá  
gan tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu các ñặc ñiểm môi trường sống của một số loài ốc  
nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
3. Nội dung nghiên cứu  
+ Nghiên cứu về thành phần loài ốc nước ngọt là ký chủ  
5
6
CHƯƠNG 1  
Fasciola gigantica ở gia súc Bắc Bộ. Sau ñó Evans và Rennie (1908)  
tìm thấy Fasciola gigantica ở gia súc Trung bộ  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
Năm 1892, A. Giard và A. Billet ñã xuất bản công trình “ Về  
một vài loài sán lá ký sinh ở gia súc Bắc Bộ” Tác giả ñã tìm thấy ở  
trâu bò tỉnh Cao Bằng loài sán lá gan Fasciola hepatica.  
Trong các công trình của Railliet A. và Gomy (1897),  
Railliet A. và Marotel G. (1898) ñã thông báo về các loài sán lá F.  
hepatica, E. pancreaticum tìm thấy ở gia súc tại Nam Bộ và Bắc Bộ.  
Năm 1905, Gai de L. tìm thấy hai loài sán lá gan:  
Opisthorchis felineus và Clonorchis sinensis ở người.  
Năm 1910 - 1911 , Mathis C. và Leger M . ñã mô tả một số  
loài mới ñối với khoa học và công bố một số danh sách về các loài  
sán lá ký sinh ở người và ñộng vật  
1.1. VẬT CHỦ TRUNG GIAN  
1.1.1. Khái niệm vật chủ cuối cùng, vật chủ trung gian, vật chủ  
chứa  
1.1.2. Vật chủ trung gian của sán lá gan  
1.2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÁN LÁ GAN  
1.2.1. Sán lá gan Fasciola  
1.2.1.1. Vị trí của sán lá gan Fasciola trong hệ thống phân loại  
ñộng vật học  
1.2.1.2. Đặc ñiểm hình thái của sán lá Fasciola  
1.2.1.3. Đặc ñiểm vòng ñời của sán lá gan Fasciola  
1.2.1.4. Đặc ñiểm dịch tễ bệnh sán lá gan ở trâu bò  
1.2.2. Sán lá gan Opisthorchis  
Năm 1965 Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái bắt gặp một  
trường hợp O.felineus phối hợp với C.sinensis.  
1.2.2.1. Vị trí của sán lá gan Opisthorchis trong hệ thống phân loại  
ñộng vật học  
Năm 1966, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân  
Dụ ñã công bố 20 loài sán lá tìm thấy ở gia súc của nông trường ở  
các tỉnh phía Bắc.  
1.2.2.2 Đặc ñiểm hình thái của sán lá gan Opisthorchis  
1.2.2.3.Vòng ñời của sán lá gan Opisthorchis  
1.3.ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI SÁN LÁ Ở VIỆT NAM  
1.3.1.Các họ sán lá ñại diện của các nhóm cercaria ở Việt Nam  
1.3.2. Khóa ñịnh loại các nhóm cercaria của sán lá ở Việt Nam  
1.3.3. Đặc ñiểm phân biệt các dạng cercaria của các loài sán lá  
trong ốc Lymnaea viridis  
Năm 1980, luận án tiến sĩ khoa học của Nguyễn Thị Lê về  
“Khu hệ, hệ thống phân loại, sinh thái, ñịa ñộng vật của sán lá ở  
chim và thú Việt Nam”, ñã thống kê 303 loài sán lá ở 3296 con chim  
(286 loài) và 2007 con thú (98 loài), có 102 loài sán lá ký sinh ở thú  
và 205 loài ở chim.  
Năm 1990 khi tiến hành ñiều tra cơ bản về tình hình nhiễm  
giun sán của tỉnh Phú Yên, Viện sốt rét KST-CT Quy Nhơn ñã ñiều  
tra tại xã An Mỹ, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; kết quả ñã phát hiện  
thấy trứng sán lá gan nhỏ trong phân của người dân ñịa phương với  
tỷ lệ 62/460 mẫu phân xét nghiệm.  
1.4. TÓM TẮT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA SÁN LÁ GAN.  
Những sán lá ñầu tiên ñược tìm thấy ở ñộng vật nhà ở Việt  
Nam theo ý kiến của A. Railliet (1924) là do Bourger(1886) và  
Cattoin (1888). Cả hai tác giả ngẫu nhiên tìm thấy loài sán lá  
7
8
Từ năm 1992 – 1998, Phạm Văn Thoại và cs Viện sốt rét  
KST- CT Quy Nhơn ñã tiến hành nhiều cuộc ñiều tra xét nghiệm về  
tỷ lệ nhiễm bệnh và xác ñịnh vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá  
gan tại xã An Mỹ, huyện Tuy An, tỉnh phú Yên. Kết quả ñã tìm thấy  
loài ốc mút Melania tuberculata nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ với tỷ  
lệ nhiễm 2,60% (28/1074).  
ñó Bình Định 1,8%, Khánh Hoà 0,92% và Phú Yên là 0,5%. Tỷ lệ ốc  
Lymnaea swinhoei nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn là 0,59%, trong ñó  
Bình Định 1,21%; Khánh Hoà 0,37% và Phú Yên 0,68%.  
Năm 2009, Vũ Đức Hạnh nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ ốc ký  
chủ trung gian nhiễm ấu trùng là 63,57%. Trong ñó, loài ốc Lymnaea  
swinhoei xét nghiệm 168 con, có 109 ốc mang ấu trùng, chiếm tỷ lệ  
64,88%, cao hơn so với loài ốc Lymnaea viridis (tỷ lệ mang ấu trùng  
là 61,79%).  
Kết quả ñịnh loại theo các tiêu chuẩn hình thái học cho thấy  
tất cả sán lá gan thu hồi ở các vật chủ trên ñều là loài sán lá gan nhỏ  
Opisthor chis viverrini.  
Năm 2009, Nguyễn Khắc Lực ñã thông báo rằng kết quả thu  
thập ốc giống Lymnaea ở hai ñiểm Đại Minh và Ái Nghĩa cho thấy, tỷ lệ  
ốc nhiễm ấu trùng chung là 0,46%, trong ñó ở xã Ái Nghĩa số ấu trùng cao  
hơn (0,50%) so với xã Đại Minh (0,42%).  
Năm 1999-2002, Lê Quang Hùng, Hồ Việt Mỹ, Võ Hưng,  
Nguyễn Văn Quốc, Đặng Tất Thế, Cao Văn Viên, Trần Văn Hiền và  
CS ñã thông báo:  
- Quần thể sán lá gan lớn thu ñược ở trâu bò vùng Bình Định,  
Khánh Hoà thuộc loài Fasciola gigantica và khả năng tồn tại quần  
thể Fasciola hepatica là rất nhỏ.  
Việc xác ñịnh loài Fasciola gigantica gây bệnh trên người có vai trò  
rất quan trọng. Điều này phủ nhận các quan ñiểm chủ quan trước ñây  
cho rằng loài sán lá gan lớn gây bệnh trên người tại Việt Nam là  
Fasciola hepatica.  
- Đã xác ñịnh ở Bình Định có hai loài ốc Lymnaea viridis và  
Lymnaea swinhoei là vật chủ trung gian của Fasciola gigantica.  
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng của Fasciola gigantica ở ốc L.viridis  
và L.swinhoei là rất thấp vào cuối mùa khô (0%) và khá cao vào mùa  
mưa (1,2-2,1%).  
Năm 2006, Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Thị  
Sâm, Lê Đức Quyết, Huỳnh Vũ Vỹ, cho rằng vật chủ trung gian của  
sán lá gan lớn là 2 loài ốc Lymnaea viridis và Lymnaea swinhoei. Tỷ  
lệ ốc Lymnaea viridis nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn là 1,03%, trong  
9
10  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
2.1.1. Địa ñiểm: Xã Bình An, huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam.  
2.1.2. Thời gian: Từ 02 – 6/2011  
Khối lượng cát  
Tỉ lệ % cát =  
x 100  
Khối lượng chất ñáy ban dầu  
Tỉ lệ % bùn = 100% - tỉ lệ % cát  
- Phương pháp thu mẫu: Tiến hành thu và kiểm tra cercaria  
trên 500 con ốc Lymnaea viridis (100 mẫu/tháng). Mẫu ốc dùng ñể  
nghiên cứu là mẫu ốc sống, và ñược thu tại ñịa phương nghiên cứu.  
Ốc thu về ñược ngâm trong lọ thủy tinh qua ñêm.  
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu ñặc ñiểm các nhân tố môi trường trong môi trường  
sống của các loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
2.2.2.1. Phương pháp ñịnh loại ốc  
- Chủ yếu dùng phương pháp nghiên cứu ngoài thực ñịa.  
- Thu mẫu ngẫu nhiên tại những vị trí có sự xuất hiện của các  
loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
- Thu thập mẫu : Tần suất 1 lần / 1 tháng.  
Mẫu sau khi ñược rửa sạch, chúng tôi tiến hành ñịnh loại  
bằng phương pháp so sánh hình thái.  
Tài liệu chính ñược dùng ñể ñịnh loại: Tài liệu của Đặng Ngọc  
Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980) và tài liệu của Phan  
Địch Lân (2004) ñể xác ñịnh loài ốc - ký chủ trung gian của sán lá gan.  
2.2.2.2. Phương pháp ñịnh loại ấu trùng thu ñược ở ốc  
- Dùng panh hai lá kẹp vỡ vỏ ốc, dùng ñũa thuỷ tinh nghiền  
nát phủ tạng ốc trên phiến kính trong và sạch có 1 - 2 giọt nước sạch,  
gạt cặn bã sang một ñầu phiến kính, soi dưới kính hiển vi với ñộ  
phóng ñại 10 x 10 lần tìm ấu trùng sán lá gan.  
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu môi trường sống  
- Sử dụng phương pháp ñiều tra và mô tả sinh cảnh: tiến  
hành ñi thực tế ñịa bàn nghiên cứu kết hợp với quan sát ghi chép.  
- Tiến hành ño trực tiếp các chi tiêu nghiên cứu tại vị trí thu mẫu.  
+ Các chỉ tiêu nhiệt ñộ, ñộ pH, DO hòa tan ñược ño bằng  
máy ño ña năng hiệu OAKTON, model PCD 650, xuất xứ Singapo.  
+ Đo lưu lượng nước chảy bằng máy ño SIGMA 910  
(HACH), Mỹ.  
- Định loại dựa trên hình thái học của các nhóm cercaria của  
sán lá gặp ở Việt Nam, theo khoá ñịnh loại của Phạm Ngọc Doanh và  
Nguyễn Thị Lê (2005).  
+ Đo ñộ sâu của cột nước: Bằng thước gỗ thẳng 1m, có thang chia.  
+ Xác ñịnh loại nền ñáy: Chất ñáy ñược thu vào lọ nhựa có dán  
nhãn vị trí thu mẫu, ñem cân khối lượng ban ñầu,tiếp theo cho nước sạch  
vào khuấy ñều cho bùn tan ra, ñổ phần nước ñục ñi, và lặp lại ñến khi  
nào thấy nước trong thì dừng lại. Bùn ñã bị cuốn trôi theo nước ra ngoài,  
phần mẫu còn lại trong bình chủ yếu là cát, cân trọng lượng cát còn lại.  
Tính tỉ lệ thành phần cát bùn có trong chất ñáy thu ñược.  
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu  
- Tỉ lệ nhiễm:  
Số cá thể bị nhiễm  
Tổng số cá thể bị kiểm tra  
Tỉ lệ nhiễm (%) =  
X 100  
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2003.  
11  
12  
CHƯƠNG 3  
3.3.1. Sinh cảnh sống của ốc L.viridis và ốc M.tuberculatus  
Bảng 3.3: Sinh cảnh sống của ốc L.viridis và ốc M.tuberculatus  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN  
Ốc L.viridis  
Ốc M. tuberculatus  
3.1. THÀNH PHẦN LOÀI ỐC NƯỚC NGỌT TẠI ĐỊA  
PHƯƠNG NGHIÊN CỨU  
Vị trí lấy mẫu  
*921  
*344  
A
B
A
89  
B
Dọc sông Gò Tre  
Vùng ñất trũng  
Rãnh nước  
0
0
25.87  
32.56  
4.65  
Qua quá trình ñiều tra chúng tôi phát hiện ñược 5 loài ốc  
nước ngọt thuộc 4 họ, 2 bộ của lớp chân bụng (Gastropoda), ngành  
thân mềm (Molusca)  
401  
52  
43.54  
5.65  
39.52  
11.29  
112  
16  
Mương  
364  
104  
113  
14  
32.85  
4.07  
Bảng 3.1: Thành phần loài ốc nước ngọt tại ñịa phương nghiên cứu  
Mặt ruộng  
Phân lớp  
Bộ  
Họ  
Loài  
A .Số mẫu ốc thu ñược tại các vị trí thu mẫu.  
Viviparidae  
Pilidae  
Viviparus acerozus  
Pila polita  
Mang trước  
Chân bụng trung  
B .Tỉ lệ % số mẫu trong tổng số mẫu thu ñược tại các vị trí nghiên cứu.  
* .Tổng số mẫu thu ñược qua các ñợt thu mẫu.  
(Prosobranchia)  
(Mesogastropoda)  
Pomacea canaliculata  
Melanoides tuberculatus  
Thiaridae  
Lymnaea  
Qua bảng 3.3, chúng tôi thấy rằng khu vực phân bố của ốc  
L.viridis và ốc M.tuberculatus có sự khác biệt. Môi trường sống của  
ốc L.viridis là các vị trí như vùng ñất trũng, mương nước và trên mặt  
ruộng lúa và rãnh nước, không bắt gặp loài này tại khu vực dọc sông  
Gò Tre. Trong ñó loài ốc này xuất hiện nhiều nhất tại khu vực ñất  
trũng với tỉ lệ phần trăm cao nhất là 43.54 % và tại các con mương  
với tỉ lệ 39.52%. Số lượng ốc thu ñược tại ruộng lúa nước là 11.29%  
và chúng tôi thu ñược với số lượng ốc thấp nhất tại vị trí của rãnh  
nước với tỉ lệ 5.65%.  
Có phổi  
Mắt gốc  
Lymnaea viridis  
(Pulmonata)  
(Basommatophora)  
3.2. ỐC NƯỚC NGỌT LÀ VCTG CỦA SÁN LÁ GAN  
Trong 5 loài ốc thu ñược tại ñịa phương nghiên cứu có hai  
loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
3.2.1. Loài ốc Lymnaea viridis là vật chủ trung gian của sán lá gan  
Fasciola gigantica  
3.2.1.1. Vị trí phân loại  
3.2.1.2. Đặc ñiểm hình thái bên ngoài  
Trong khi ñó loài ốc M.tuberculatus lại xuất hiện với mật ñộ  
cao hơn tại khu vực mương, ñặc biệt tại các cống rãnh thoát nước cho  
cánh ñồng tại ñịa phương với 32.85% và tại vị trí ñất trũng tỉ lệ ốc  
thu ñược là 32.56%. Ngoài ra loài này cũng có mặt tại khu vực dọc  
sông Gò Tre ( gần bờ) với tỉ lệ 25.87%, ñiều này cho thấy rằng loài  
này có môi trường sống rộng hơn so với ốc L.viridis.  
3.2.2. Loài ốc Melanoides tuberculatus, vật chủ trung gian của  
sán lá gan Opisthorchis viverrini  
3.2.2.1.Vị trí phân loại  
3.2.2.2.Đặc ñiểm hình thái bên ngoài  
3.3. MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ỐC Lymnaea viridis VÀ  
Melanoides tuberculatus  
13  
14  
3.3.2. Điều kiện môi trường sống của ốc L.viridis và M.tuberculatus  
3.3.2.1. Yếu tố nhiệt ñộ, ñộ pH, hàm lượng oxy hòa tan trong môi  
trường sống của ốc L.viridis và M.tuberculatus  
Đối với ốc M.tuberculatus, với 344 tổng số mẫu thu ñược tại  
các vị trí nghiên cứu thì có 153 cá thể chiếm 44.48% ñược thu trong  
khoảng nhiệt ñộ 23 -270C. Và loài ốc này cũng ñược thu tại khoảng  
nhiệt ñộ 28 – 320C với 32.85% tổng số mẫu thu ñược. Ở khoảng  
nhiệt ñộ từ 18 – 220C, chúng tôi bắt gặp 78 mẫu chiếm 22.67%. Qua  
ñó chúng tôi thấy nhiệt ñộ tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của  
loài này là 23-270C. Và so sánh tỉ lệ số mẫu thu ñược trên tổng số ốc,  
thì ở khoảng nhiệt ñộ 28 – 320C số mẫu ốc M.tuberculatus thu ñược  
với tỉ lệ cao hơn so với L.viridis. Điều này chứng tỏ rằng loài ốc này  
cũng ưa thích những khu vực có nhiệt ñộ cao và ñây cũng là một  
trong những lý do giải thích ñược khả năng tồn tại mềm dẻo của loài  
trong môi trường sống khắc nghiệt, cạnh tranh cao và ngay tại những  
khu vực có nhiệt ñộ cao liên tục chúng cũng có thể xâm chiếm những  
khu vực khác một cách nhanh chóng.  
Bảng 3.4: Nhiệt ñộ, ñộ pH, DO trong môi trường sống của ốc  
L.viridis và M.tuberculatus  
Nhiệt ñộ  
Độ pH  
DO (mg/l)  
Loài  
18-22  
23-27  
28 -32  
5-5.9  
6.0-6.9 2.1-4.5 4.6-7.0 7.1– 9.2  
A
374  
296  
251  
887  
52  
156  
550  
215  
L.viridis  
*921  
B
A
40.61  
78  
32.14  
153  
27.25  
113  
96.31  
239  
3.69  
105  
16.94  
30  
59.72  
225  
23.34  
89  
M.tuberculatus  
*344  
B
22.67  
44.48  
32.85  
69.48  
30.52  
8.72  
65.41  
25.87  
A . Số mẫu ốc thu ñược tại các vị trí thu mẫu.  
B . Tỉ lệ % số mẫu trong tổng số mẫu thu ñược tại các vị trí nghiên cứu.  
* .Tổng số mẫu thu ñược qua các ñợt thu mẫu.  
b. Yếu tố pH trong môi trường sống của ốc L.viridis và ốc  
M.tuberculatus  
a. Yếu tố nhiệt ñộ trong môi trường sống của ốc L.viridis và  
M. tuberculatus  
Đối với ốc L.viridis, chúng tôi ñã xác ñịnh ñược khoảng pH  
tối ưu của chúng tại ñịa phương nghiên cứu là 5.0 – 5.9 với 96.31%  
tổng số mẫu thu ñược. Tuy nhiên ở ñộ pH 6.0-6.9 chúng tôi cũng  
thấy sự xuất hiện của chúng với 3.69%. Loài ốc này phân bố chủ yếu  
tại vị trí như ruộng lúa, kênh rạch, vũng ñất trũng. Tại khu vực này  
do tập quán trồng trọt ñộc canh cây lúa nước, nên tại khu vực này  
chịu ảnh hưởng nhiều của các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ ñây là  
nguyên nhân là cho khu vực này bị nhiễm phèn.  
Qua bảng 3.4, chúng tôi thấy rằng ốc L.viridis có thể tồn tại  
trong khoảng nhiệt ñộ từ 18 – 320C. Trong tổng số 921 mẫu ốc, có  
374 mẫu chúng tôi thu ñược trong khoảng nhiệt ñộ từ 18-220C chiếm  
37.94% tổng số mẫu. Ở khoảng nhiệt ñộ 28 – 320C chúng tôi bắt gặp  
chúng với số lượng ít hơn với 27.25%. Với khoảng nhiệt ñộ 18 -  
220C, ñây là khoảng nhiệt ñộ thích hợp cho sự sinh sản của loài ốc  
này.Còn ở khoảng nhiệt ñộ cao hơn (28 – 320C) do môi trường nước  
nóng, có thể hầu hết chúng vùi mình trong bùn nên chúng tôi bắt gặp  
với số lượng thấp hơn. Ốc Lymnaea viridis là loài ốc thuộc nhóm ốc  
có phổi nên trong ñiều kiện nhiệt ñộ cao, môi trường khô hạn kéo dài  
chúng vẫn có thể sống tiềm sinh trong thời gian dài.  
Đối với ốc M.tuberculatus chúng tôi thu thập 69.48% số mẫu  
trong môi trường nước có khoảng ño pH 5.0-5.9. Cũng giống với ốc  
L.viridis trong khoảng ño pH 6-6.9 chúng tôi cũng thấy sự có mặt của  
ốc M.tuberculatus với 30.52% cao hơn so với ốc L.viridis. Điều này  
15  
16  
cho thấy rằng loài ốc này có giới hạn môi trường sống rộng hơn so  
với ốc L.viridis.  
Qua bảng 3.5 chúng tôi nhận xét rằng tại các vị trí thu mẫu  
của ốc L.viridis thì với ñộ cao cột nước từ 1.4 – 48cm loài ốc này có  
thể tồn tại ñược. Tuy nhiên với ñộ cao cột nước trên 48cm không bắt  
gặp sự xuất hiện của loài này. Trong ñó tại ñộ cao của cột nước là 1.4  
-16 cm chúng tôi thu ñược với tỉ lệ cao nhất là 44.63%. Điều này  
chứng tỏ loài ốc này chỉ thích sống tại những vị trí có ñộ cao cột  
nước thấp, ñặc biệt tại những vị trí có mức nước xâm xấp, hoặc  
những vị trí nước tràn bờ. Trong tổng số 344 mẫu ốc M.tuberculatus  
thu ñược tại các vị trí nghiên cứu với ñộ sâu của mực từ 1.4 – 64 cm.  
Trong ñó không giống như ốc L.viridis loài ốc này phân bố gần như  
ñều nhau tại những vị trí có ñộ sâu mực nước khác nhau. Với 100  
mẫu thu ñược tại vị trí có ñộ sâu 1.4 – 16cm chiếm 29.07%, ở ñộ sâu  
17 -32 cm có 78 mẫu thu ñược với 22.67% và tại vị trí có ñộ sâu 33-  
48 cm cũng thu ñược số mẫu với tỉ lệ 22.38%. Khác với ốc L.viridis  
loài ốc này cũng phân bố tại những vị trí có ñộ sâu từ 49 - 64 cm.  
Đây cũng là một trong những nguyên nhân góp phần giúp cho loài  
này có khu vực phân bố rộng hơn ốc L.viridis và dường như chúng có  
mặt tại nhiều nơi trên thế giới.  
c. Hàm lượng oxy hòa tan trong môi trường sống của ốc  
L.viridis và ốc M.tuberculatus  
Qua bảng 3.4, chúng tôi xác ñịnh ñược biên ñộ hàm lượng  
oxy hòa tan thích hợp cho cả hai loài xuất hiện với số lượng mẫu  
nhiều nhất là 4.6 – 7.0 mg/l, với ốc L.viridis chiếm 59.72% và ốc  
M.tuberculatus là 65.41%. Cả hai loài này ñều ưa sống ở những khu  
vực có hàm lượng oxy hòa tan tương ñối cao. Tuy nhiên tại những vị  
trí nghiên cứu có biên ñộ hàm lượng oxy hòa tan 2.1 - 4.5 mg/l cũng  
thấy sự xuất hiện của cả hai loài. Trong ñó ốc L.viridis chiếm 16.94%  
tổng số mẫu thu ñược và cao hơn so với ốc M.tuberculatus trong  
cùng ñiều kiện nghiên cứu. Điều này chứng tỏ rằng loài ốc L.viridis  
có thể tồn tại ngay trong môi trường sống có hàm lượng oxy hòa tan  
thấp với tỉ lệ sống sót cao. Vậy giới hạn hàm lượng oxy hòa tan trong  
môi trường sống của cả hai loài ốc là 2.1 – 9.2 mg/l.  
3.3.2.2. Độ cao của cột nước tại môi trường sống của ốc L.viridis  
và ốc M.tuberculatus  
Bảng 3.5: Độ cao của cột nước tại môi trường sống của ốc  
L.viridis và M.tuberculatus  
3.3.2.3. Đặc ñiểm nền ñáy trong môi trường sống của ốc L.viridis  
và ốc M.tuberculatus.  
Độ cao của cột nước(cm)  
Loài  
1.4- 16  
411  
17 - 32  
212  
33 - 48  
298  
49 - 64  
L.viridis  
* 921  
A
B
A
B
0
0
44.63  
100  
23.02  
78  
32.35  
77  
M.tuberculatus  
* 344  
89  
29.07  
22.67  
22.38  
25.88  
A. Số mẫu ốc thu ñược tại vị trí nghiên cứu.  
B. Tỉ lệ % số mẫu trong tổng số mẫu thu ñược tại các vị trí nghiên cứu.  
*. Tổng số mẫu thu ñược qua các ñợt thu mẫu.  
17  
18  
Bảng 3.6: Đặc ñiểm nền ñáy trong môi trường sống của ốc  
L.viridis và M.tuberculatus  
3.3.2.4. Tính chất vận ñộng của môi trường nước.  
Bảng 3.7: Tính chất vận ñộng của môi trường nước  
Vận ñộng của nước  
Loài  
Loài  
Loại nền ñáy  
Chảy  
L.viridis  
M.tuberculatus  
Chảy chậm  
Đứng  
nhanh  
*921  
*344  
L.viridis  
* 921  
A
B
A
B
0
0
506  
54.94  
112  
415  
45.06  
146  
A
B
A
B
A
B
629  
68.3  
292  
31.7  
0
169  
49.13  
86  
Bùn  
M.tuberculata  
*344  
86  
25  
Bùn cát  
Cát bùn  
32.55  
42.45  
25  
A. Số mẫu ốc thu ñược tại vị trí nghiên cứu.  
89  
B. Tỉ lệ % số mẫu trong tổng số mẫu thu ñược tại các vị trí nghiên cứu.  
*. Tổng số mẫu ốc thu ñược qua các ñợt thu mẫu.  
0
25.87  
A. Số mẫu ốc thu ñược tại vị trí nghiên cứu.  
B. Tỉ lệ % số mẫu trong tổng số mẫu thu ñược tại các vị trí nghiên cứu.  
*. Tổng số mẫu thu ñược qua các ñợt thu mẫu.  
Qua bảng 3.7 chúng tôi thấy rằng ñối với tính chất nước chảy  
hay nước ñứng, qua kết quả khảo sát tại ñịa phương nghiên cứu  
chúng tôi thấy rằng, giữa hai loài chúng tôi bắt gặp ở những vị trí có  
tính chất nước chảy hay ñứng là khác nhau.  
Qua bảng 3.6, chúng tôi thấy rằng cả 921 mẫu ốc L.viridis và  
344 mẫu M.tuberculatus chúng tôi ñều thu thập ñược tại những vị trí  
có nền ñáy mềm. Trong ñó với 629 mẫu ốc L.viridis chiếm 68.3% và  
169 mẫu ốc M.tuberculatus chiếm 49.13% trên loại nền ñáy bùn.  
Ngoài ra chúng tôi cũng thấy sự xuất hiện của 292 cá thể ốc L.viridis  
chiếm 31.7% và 86 cá thể ốc M.tuberculatus trên nền ñáy bùn cát  
chiếm 25%. Từ ñó, chúng tôi nhận xét rằng cả 2 loài này ñều ưa sống  
những vị trí có loại nền ñáy bùn và bùn cát. Tuy nhiên với ốc  
M.tuberculatus chúng tôi thấy sự có mặt của chúng tại những loại  
nền ñáy khác như cát bùn. Điều này chứng tỏ rằng loài ốc này chịu  
cát hơn và ốc L.viridis chịu bùn hơn.  
Đối với loài ốc L.viridis chúng tôi bắt gặp chúng với 54.94% số  
ốc tại những khu vực có tính chất nước chảy chậm và 45.06% số mẫu  
thu ñược tại những vị trí có tính chất nước ñứng. Không tìm thấy loài  
này tại những vị trí có tính chất nước chảy nhanh.  
Đối với ốc M.tuberculatus thì ngược lại, chúng tôi thấy sự có  
mặt của chúng chủ yếu ở vị trí có tính chất nước ñứng với 42.45%  
tổng số mẫu, tại những vị trí nước chảy chậm cũng có mặt của loài ốc  
này với 32.55% tổng số mẫu, tuy nhiên khác với ốc L.viridis loài ốc  
này xuất hiện cả những vị trí có tính chất nước chảy nhanh. Với loài  
ốc này có thể sống ngay tại những khu vực có tốc ñộ nước chảy  
nhanh có thể loài này thích sống những nơi có hàm lượng oxy hòa  
19  
20  
tan cao, nước chảy nhanh thì khả năng khuếch tán oxy trong môi  
trường nước cao, ngoài ra so với ốc L.viridis loài này có vỏ cứng và  
dày giúp thích nghi với tác ñộng của dòng nước.  
giống như ốc L.viridis loài ốc này có mật ñộ thấp nhất ở tháng 5,  
nguyên nhân có thể khi bị tháo cạn nước chuẩn bị cho mùa gặt tại các  
ñồng ruộng, rãnh nước nhỏ và mương, làm cho số lượng loài này bị  
chết do thiếu oxy hoặc chúng có thể di chuyển tới những vị trí khác  
còn ñọng nước như dưới các cống làm bằng xi măng là ñiểm nối hệ  
thống mương ñất.  
3.3.3. Biến ñộng mật ñộ ốc qua mỗi tháng.  
Bảng 3.8: Biến ñộng mật ñộ ốc qua các tháng nghiên cứu  
Mật ñộ trung bình (Cá thể/m2)  
Loài  
Tháng 2  
73  
Tháng 3  
64.25  
Tháng 4  
47.25  
Tháng 5  
45.75  
Tháng 6  
46.32  
3.4. TỈ LỆ NHIỄM Cercaria CỦA SÁN LÁ GAN Fasciola  
gigantica TRÊN ỐC Lymnaea viridis  
L.viridis  
Bảng 3.9.Tỉ lệ nhiễm cercaria trong ốc L.viridis  
M.tuberculatus  
15.56  
20.8  
18  
14.8  
15.9  
Tháng Tháng Tháng Tháng  
Thời gian thu mẫu  
Tháng 6  
2
100  
2
3
100  
1
4
100  
0
5
100  
0
Qua bảng 3.8 chúng tôi thấy rằng mật ñộ ốc L.viridis có sự  
biến ñộng trong suốt thời gian nghiên cứu. Mật ñộ ốc L.viridis cao  
nhất ở tháng 2 với 73 cá thể/m2, thấp nhất vào tháng 5 với 45.75 cá  
thể/m2 . Mật ñộ ốc thấp dần qua các tháng nghiên cứu. Sỡ dĩ như vậy,  
tại tháng 2 với ñiều kiện nhiệt ñộ 18.3 – 200C, là ñiều kiện thuận lợi  
cho sự sinh sản của loài ốc này . Khi bước sang tháng 5 tại thời ñiểm  
này là mùa gặt lúa, hầu như tất cả các thửa ruộng và hệ thống mương,  
rãnh nước trên cánh ñồng lúa ñều khô nước. Đây cũng chính là  
nguyên nhân làm giảm mật ñộ của loài ốc này.  
Tổng số ốc  
Số ốc bị nhiễm cercaria  
Tỉ lệ nhiễm (%)  
100  
0
2
1
0
0
0
Tỉ lệ nhiễm chung(%)  
0.6  
Trong nghiên cứu này, tổng số ốc ñược soi dưới kính hiển vi  
là 400, trong ñó có 3 cá thể bị nhiễm cercaria của sán lá gan Fasciola  
gigantica, chiếm 0.6% tổng số ốc ñược kiểm tra. Với tỉ lệ này, có  
nhiều khác biệt với các thông báo trước ñây về tỉ lệ ốc bị nhiễm ấu  
trùng (cercaria) của sán lá gan là rất cao, theo Nguyễn Trọng Kim  
thông báo tỉ lệ ốc Lymnaea ở Hà bắc (cũ) nhiễm ấu trùng sán lá gan  
tới 59,19% ( 43,1 – 62,12%) và ở Ba Vì (Hà Tây) là 12,5 – 18,7%.  
Theo Vũ Đức Hạnh ở Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thì tỉ lệ nhiễm  
cercaria trên ốc L.viridis là 51.32% và trên ốc L. Swinhoei là  
55.91%. Thực tế tỉ lệ nhiễm không cao như thế vì mật ñộ ốc  
Lymnaea viridis rất cao, nếu tỉ lệ cao như vậy thì ấu trùng sán lá gan  
Fasciola gigantica sẽ bị tràn ngập khắp môi trường.  
Trong suốt thời gian khảo sát chúng tôi thấy rằng mật ñộ ốc  
M.tuberculatus có sự biến ñộng qua các tháng. Mật ñộ cao nhất ở  
tháng 3 với 20.8 cá thể/m2 và thấp nhất ở tháng 5 với 14.8 cá thể/m2.  
Sở dĩ như vậy theo khảo soát ở trên chúng tôi thấy rằng loài ốc này  
thích sống ở khoảng nhiệt ñộ 23-270C, và tại ñịa phương nghiên cứu  
nhiệt ñộ trung bình của tháng 3 là 24.80C, nằm trong ngưỡng nhiệt ñộ  
tối ưu của loài. Ngoài ra tại thời gian này là lúc sắp ra bông nên mực  
nước tại các vị trí nghiên cứu như ruộng lúa, kênh rạch luôn có nước,  
ñây là ñiều kiện thuận lợi cho sự sinh sản của loài ốc này. Cũng  
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ nhiễm cercaria của sán lá gan  
Fasciola gigantica ở tháng 2 là 2%, tháng 3 là 1 % và không tìm thấy  
21  
22  
cercaria trong ốc ở tháng 4,5,6. Sở dĩ có kết quả như vậy là do nhiệt  
ñộ môi trường vào tháng 2,3 thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng  
sán lá. Còn ở các tháng còn lại nhiệt ñộ môi trường luôn cao hơn  
27oC, với ñiều kiện này, trứng sán ngừng phát triển. Trứng sán lá rất  
nhạy cảm với ñiều kiện khô hạn và tác ñộng trực tiếp của ánh sáng  
mặt trời. Trong ñiều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến ñổi  
hình dạng, Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày.  
Như vậy, ốc ký chủ trung gian có vai trò hết sức quan trọng  
trong vòng ñời của sán lá Fasciola. Nhờ có ốc ký chủ trung gian mà  
sán lá Fasciola gigantica thực hiện ñược giai ñoạn phát triển rất  
quan trọng của ấu trùng ñể phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh,  
do ñó trâu bò tại ñịa phương cũng có nguy cơ bị nhiễm sán lá gan  
Fasciola gigantica.  
Theo chúng tôi việc kiểm soát tình trạng nhiễm ấu trùng sán  
lá gan nên tập trung vào việc giảm mật ñộ ốc trong các thủy vực  
nước ngọt thông qua các phương pháp hóa học, sinh học và vật lý.  
3.5.1. Biện pháp sinh học  
3.5.1.1. Thả cá vào ruộng lúa ñể cá ăn ốc  
- Ốc Lymnaea viridis là ốc có kích thước nhỏ (chiều dài  
10mm), vì vậy những giống cá như cá chép (Cyprinus carpio), cá  
trắm ñen (Mylopharyn godon), cá trê lai (Clarias focus) có khả năng  
diệt ñược ký chủ trung gian này.  
- Trong tự nhiên thì ốc Melanoides tuberculatus ở con  
trưởng thành có kích thước lớn hơn so với ốc Lymnaea viridis nên  
nếu có các loại thiên ñịch là cá thì nó vẫn tồn tại ñược, khi gặp ñiều  
kiện thuận lợi chúng sẽ sinh sản và nhanh chóng tái tạo quần thể. Tuy  
nhiên, nếu chúng ta thả 3 loại cá trên với mật ñộ hợp lý, chắc chắn  
rằng sẽ giảm ñáng kể số lượng ốc con. Cuối cùng nếu phối hợp với  
các biện pháp khác chúng ta có thể loại bỏ ñược ký chủ trung gian  
này trong từng phạm vi nhất ñịnh.  
3.5. SƠ BỘ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH SÁN LÁ GAN  
Hiện nay bệnh sán lá gan do Fasciola gigantica và  
Opisthorchis viverrini gây nên những tác hại nghiên trọng ñến sức  
khỏe của con người, tới ñộng vật nuôi và ảnh hưởng không nhỏ tới  
nền kinh tế nông ngư nghiệp của nước ta. Để làm giảm tác hại của  
sán lá gan thì sự hiểu biết về vòng ñời của sán lá gan rất quan trọng.  
Trong chu kỳ sống của sán lá gan luôn phải trải qua vật chủ trung  
gian là các loài ốc nước ngọt. Một trong những phương pháp nhằm  
hạn chế sự nhiễm ấu trùng sán lá gan cho các vật chủ chính bằng  
cách phá vỡ chu kỳ sống của sán lá gan. Điều này có thể thực hiện  
bằng cách loại bỏ một số loài là vật chủ trung gian của sán lá gan như  
ốc nước ngọt hay cá nước ngọt. Tuy nhiên việc ngăn chặn ấu trùng sán  
lá gan xâm nhập vào cá là ñiều không thực tế ñối với người nuôi cá. Vì  
vậy cách tốt nhất ñể hạn chế tình trạng nhiễm ấu trùng sán lá gan là  
làm giảm mật ñộ các loài ốc là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
3.5.1.2. Thả vịt vào trong ruộng lúa, mương, vùng ñất trũng, trên  
sông ñể vịt ăn ốc  
- Trước khi cấy hoặc sạ, khi mà hệ thống thủy lợi cung cấp  
nước cho nông dân bắt ñầu mùa vụ (10-20cm) , ñây cũng là lúc ốc  
ngừng thời gian nghỉ, trồi lên khỏi bùn với mật ñộ cao. Vịt mò tìm  
bắt tất cả những con ốc nhỏ ñể làm thức ăn.  
- Sau khi thu hoạch lúa, hệ thống nước trên ñồng dường như  
cạn kiệt, chỉ còn lại nước ở các con mương lớn và vùng ñất trũng  
giữa ñồng. Giai ñoạn này hầu như ña số ốc tập trung lại những khu  
vực có nước này. Tiến hành thả vịt ñể tiêu diệt ñược số lượng lớn hai  
loài ốc này.  
23  
24  
- Đặc biệt ñối với ốc M.tuberculatus chúng có mặt ngay tại  
dọc sông Gò Tre, gần khu vực bờ sông. Tận dụng lợi thế này ta chọn  
các ñịa ñiểm ñể xây nên những trại nuôi vịt ngay trên con sông này  
ñể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có này.  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
I. KẾT LUẬN  
1. Các loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
- Loài ốc Lymneae viridis : VCTG của sán lá gan Fasciola  
3.5.2. Biện pháp vật lý  
- Bắt ốc bằng tay vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối (khi mà  
nhiệt ñộ không quá cao). Lúc này ốc trồi lên khỏi mặt bùn dễ dàng  
bắt chúng hơn.  
gigantica.  
- Loài ốc Melanoides tuberculatus: VCTG của sán lá gan  
Opisthorchis viverrini.  
2. Đặc ñiểm môi trường sống của ốc Lymnaea viridis và  
M.tuberculatus  
- Sinh cảnh sống của hai loài ốc nước ngọt L.viridis và M.  
tuberculatus.  
- Khai thông kênh mương, ñặc biệt tại hệ thống các cống trên  
ñồng ruộng, thường xuyên phát quang bờ ruộng.  
- Sau khi thu hoạch: cày lật ñất, bón vôi sau khi rút nước, có  
ñiều kiện ñốt rơm rạ ñể diệt ốc con và trứng ốc lẫn trong ñó.  
3.5.3. Biện pháp hóa học  
+ Đối với ốc L.viridis xuất hiện ở các khu vực như hệ thống  
kênh,mương ñất, ñồng ruộng, vùng ñất trũng, ruộng lúa nước, rãnh  
nhỏ trên ruộng lúa.  
Thuốc dùng ñể diệt ốc rất ñộc cho người, ñộng vật thủy sinh và  
môi trường nên các biện pháp hóa học chỉ ñược sử dụng trong những  
ñiều kiện thật cần thiết. Có thể dùng các hóa chất sau ñể diệt ốc.  
- Nitrat canxi (Ca(NO3)2) nồng ñộ 0,05 - 0,08%.  
- Sunfat ñồng (CuSO4) nồng ñộ 0,5; 1 và 2%  
+ Đối với ốc M.tuberculatus xuất hiện ở các vị trí như hệ  
thống kênh, mương ñất, ñồng ruộng, vùng ñất trũng, ruộng lúa nước,  
rãnh nhỏ trên ruộng lúa và cả dọc sông Gò Tre.  
- Vôi bột liều lượng 600 – 750 kg/ha  
- Đặc ñiểm môi trường sống của ốc L.viridis và  
M.tuberculatus.  
Thuốc hóa học ñược dùng khi mực nước từ 3 – 5 cm.  
+ Nhiệt ñộ: Cả hai loài ñều tồn tại trong khoảng nhiệt ñộ từ  
18- 32oC. Trong ñó khoảng nhiệt ñộ tối ưu của hai loài khác nhau.  
Đối với ốc L.viridis là 18 -220C và ốc M.tuberculatus là 23 - 270C.  
+ Độ pH : Cả hai loài tồn tại trong ngưỡng pH là 5.0 -6.9.  
+ DO(mg/l) : Ốc L.viridis có ngưỡng DO là 2.1-7 mg/l và ốc  
M.tuberculatus là 2.1 – 9.2 mg/l  
+ Độ cao cột nước : Cả hai loài ñều tồn tại ở những ñộ cao  
cột nước khác nhau.  
25  
26  
II. KIẾN NGHỊ  
Ốc L.viridis tồn tại trong môi trường có ñộ cao cột nước từ  
- Trong phạm vi nghiên cứu của ñề tài chúng tôi chưa nghiên  
cứu ñược hết các ñặc ñiểm môi trường sống của các loài ốc nước  
ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan và ñặc ñiểm phân bố của các  
loài ốc này ở những ñộ cao khác nhau.  
1.4 – 40cm.  
Ốc M.tuberculatus tồn tại trong môi trường có ñộ cao cột  
nước là 1.4 – 64 cm.  
+ Nền ñáy : Cả hai loài ñều ưa thích những vị trí có nền ñáy  
mềm là ñáy bùn, bùn cát.  
- Chưa nghiên cứu ñược tỉ lệ nhiễm sán lá gan trên ốc  
M.tuberculatus và các giai ñoạn bào ấu, lôi ấu trong ốc L.viridis ñể  
ñưa ra con số chính xác tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá trong ốc nước ngọt  
tại ñịa phương nghiên cứu. Cần xác ñịnh thêm tỉ lệ nhiễm cercaria  
của sán lá gan trên ốc L.viridis ở các sinh cảnh khác nhau, và xác  
ñịnh tỉ lệ nhiễm ở sinh cảnh nào là nhiều nhất.  
+ Tính chất vận ñộng của môi trường nước : Ốc L.viridis  
thích sống trong môi trường nước chảy chậm. Còn ốc M.tuberculatus  
thích sống trong môi trường nước ñứng.  
3. Biến ñộng mật ñộ trong thời gian nghiên cứu.  
Cả hai loài ốc ñược nghiên cứu tại ñịa phương ñều có sự biến  
ñộng mật ñộ qua các tháng nghiên cứu.  
- Các biện pháp nhằm hạn chế tác hại của sán lá gan, chúng  
tôi mới sơ bộ ñề ra phương pháp nhưng chưa tiến hành làm thực  
nghiệm nghiên cứu. Cần có những nghiên cứu cụ thể ñể ñánh giá  
hiệu quả của từng biện pháp.  
+ Ốc L.viridis có mật ñộ cao nhất ở tháng 2 và thấp nhất ở  
tháng 5.  
+ Ốc M.tuberculatus có mật ñộ cao nhất ở tháng 3 và thấp  
nhất ở tháng 5.  
Từ những thiếu sót trên, chúng tôi ñề nghị có những nghiên  
cứu tiếp theo ñể ñề tài ñược hoàn chỉnh.  
4. Tỉ lệ nhiễm cercaria của Fasciola gigantica trong ốc  
L.viridis tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam là 0.6%  
5. Biện pháp hạn chế tác hại của sán lá gan.  
- Cơ sở ñề ra phương pháp hạn chế tác hại của sán lá gan là  
hiểu biết về chu kỳ sinh học của sán lá gan và ñặc ñiểm môi trường  
sống của ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan.  
- Biện pháp ñược ñề ra là cắt ñứt chu kỳ sống của sán lá gan  
bằng cách kiểm soát mật ñộ ốc nước ngọt bằng các biện pháp sinh  
học, biện pháp vật lý và biện pháp hóa học.  
pdf 13 trang yennguyen 9420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu đặc điểm môi trường sống của một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_dac_diem_moi_truong_song_cua_mot.pdf