Luận văn Quản lý tài nguyên cát và mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
---------------------  
NGUYỄN TRẦN THIÊN VĂN  
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN CÁT VÀ MỨC SẴN LÒNG  
CHI TRẢ TIỀN CẤP QUYỀN KHAI THÁC CÁT  
CỦA DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
---------------------  
NGUYỄN TRẦN THIÊN VĂN  
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN CÁT VÀ MỨC SẴN LÒNG  
CHI TRẢ TIỀN CẤP QUYỀN KHAI THÁC CÁT  
CỦA DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số:  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGUYỄN HỮU DŨNG  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi tự thực hiện. Các trích dẫn và số  
liệu sử dụng trong luận văn đều có dẫn nguồn với độ chính xác cao nhất trong phạm  
vi hiểu biết của tôi.  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Trần Thiên Văn  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
 
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
CVM  
GRDP  
UBND  
WTA  
WTP  
: Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Value Method)  
: Tổng sản phẩm địa phương (Gross Regional Domestic Product)  
: Ủy ban nhân dân  
: Mức sẵn lòng chấp nhận (Willing to accept)  
: Mức sẵn lòng chi trả (Willing to pay)  
 
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC  
Phụ lục 1 : Phiếu khảo sát  
Phụ lục 2 : Kiểm định sự khác biệt  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
Hình 4.2: Trữ lượng quy hoạch cát dự báo (triệu m3)...............................................38  
 
1
CHƯƠNG 1: PHẦN GIỚI THIỆU  
1.1.  
Đặt vấn đề  
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam1. Tốc  
độ tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương (GRDP) bình quân giai đoạn 2011-2015  
của Bình Định đạt 9,2%, với tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GRDP tăng từ  
29,2% lên 30,4% (Niên giám thống kê Bình Định, 2015). Mục tiêu tăng trưởng  
GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 8%, trong đó công nghiệp - xây dựng  
tăng 12,5% (Niên giám thống kê Bình Định, 2015).  
Tài nguyên khoáng sản nói chung và tài nguyên cát nói riêng là một nguồn  
lực để phát triển kinh tế Bình Định thông qua nguồn thu thuế cho ngân sách và tạo  
việc làm, thu nhập cho người dân nơi có mỏ cát.  
Tuy nhiên, đến trước ngày 01/7/2011 (Luật Khoáng sản năm 2010 có hiệu  
lực thi hành), doanh nghiệp khai thác cát chỉ phải trả thuế tài nguyên, phí bảo vệ  
môi trường và lệ phí cấp phép khai thác mà chưa phải trả tiền mua nguyên liệu  
chính là giá trị của khối lượng cát khai thác được, tức là nhà nước chưa thu được giá  
trị của nguồn tài nguyên cát khi cấp phép cho khu vực tư khai thác.  
Bình Định đang áp dụng mức thuế, phí, lệ phí khi khai thác cát như sau: (i)  
Thuế tài nguyên: 7.700 đồng/m3; (ii) Phí bảo vệ môi trường: 3.000 - 5.000 đồng/m3;  
(iii) Lệ phí cấp giấy phép thăm dò: 4 - 15 triệu đồng/giấy phép và (iv) Lệ phí cấp  
giấy phép khai thác: 1 - 15 triệu đồng/giấy phép.  
Kể từ ngày 01/01/2014 Bình Định thực hiện thu tiền cấp quyền để khai thác  
cát trên địa bàn tỉnh ở mức từ 2.268-2.520 đồng/m3 theo Nghị định về tính tiền cấp  
quyền khai thác khoáng sản (Chính phủ, 2013, 203/2013/NĐ-CP). So sánh với 7  
tỉnh còn lại trong cùng vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: (1) Quảng Nam 972-2.160  
đồng/m3, (2) Quảng Ngãi 1.296-1.440 đồng/m3, (3) Khánh Hòa 1.782-1.980  
1Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam có 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm: Thành  
phố Đà Nẵng, Quang Nam, Quang Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình  
Thuận  
   
2
đồng/m3, (4) Đà Nẵng 1.944-2.160 đồng/m3, (5) Phú Yên 1.944-2.160 đồng/m3, (6)  
Ninh Thuận 2.592-2.880 đồng/m3, (7) Bình Thuận 4.212-4.680 đồng/m3, có thể thấy  
mức thu tiền cấp quyền để khai thác cát ở Bình Định cao hơn mức thu trung bình từ  
2.160-2.494 đồng/m3 ở các tỉnh thành khác trong cùng khu vực.  
Vậy Bình Định phải đặt ra mức thu bao nhiêu để thu đúng giá trị tài nguyên  
cát đã cấp phép khai thác; tránh trường hợp đặt ra mức thu thấp thì thiệt hại cho  
ngân sách, đặt ra mức thu cao thì làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp  
khai thác cát trên địa bàn tỉnh.  
Với mong muốn xác định mức sẵn lòng trả tiền cấp quyền khai thác cát của  
doanh nghiệp tại Bình Định như là một kênh thông tin để các cơ quan hành chính  
công tỉnh Bình Định làm cơ sở xác định mức tiền cấp quyền hài hòa lợi ích giữa nhà  
nước - doanh nghiệp và người dân địa phương nơi có khoáng sản cát, tác giả quyết  
định thực hiện luận văn này với đề tài “Quản lý tài nguyên cát và mức sẵn lòng chi  
trả tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Xác định mức sẵn lòng trả tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp tại  
tỉnh Bình Định; đề xuất một số giải pháp để sử dụng mức sẵn lòng trả này vào việc  
tính tiền cấp quyền khai thác cát.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Mục tiêu 1: Xac đin  
̣
h mưc să  
̃
n long tra tiền cấp quyền khai thác cát của  
̉
́
́
̀
doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định.  
Mục tiêu 2: Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng mức sẵn lòng trả này  
vào việc tính tiền cấp quyền khai thác cát để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên  
cát trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
     
3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
Câu hỏi 1: Mưc săn long tra tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp  
̃
̉
́
̀
tại tỉnh Bình Định là bao nhiêu ?  
Câu hỏi 2: Những giải pháp nào là cần thiết để sử dụng mức sẵn lòng trả này  
vào việc tính tiền cấp quyền khai thác cát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài  
nguyên cát trên địa bàn tỉnh Bình Định ?  
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Phương thức ước lượng mức sẵn lòng chi trả tiền cấp  
quyền khai thác cát trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
Tất cả 31 doanh nghiệp đang khai thác cát trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
Phạm vi nghiên cứu: Loại cát vàng và các loại cát khác làm vật liệu xây dựng  
thông thường, không bao gồm cát trắng làm thủy tinh trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
Thời gian: Từ tháng 01 năm 2014 đến hết tháng 7 năm 2016.  
1.5. Cấu trúc của luận văn  
Chương 1: Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu. Giới thiệu cơ sở hình thành đề  
tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài.  
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan. Tóm tắt các  
lý thuyết liên quan, trên cơ sở đó xác định các giả thuyết và xây dựng mô hình  
nghiên cứu.  
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trình bày, mô tả quá trình nghiên cứu; thu  
thập và xử lý số liệu.  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày hiện trạng nguồn tài nguyên cát và  
công tác quản lý tài nguyên cát ở tỉnh Bình Định; kết quả xử lý và phân tích số liệu;  
kiểm định các giả thuyết, mô hình đã nêu ra.  
Chương 5: Kết luận và các kiến nghị. Kết luận, đề xuất một số hàm ý, nêu các  
hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.  
     
4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Chương 2 trình bày khái niệm môi trường, tài nguyên; mối quan hệ giữa tài  
nguyên và kinh tế; giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên; các phương pháp đánh  
giá giá trị của tài nguyên, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên mức sẵn lòng chi trả;  
các nguồn thu cho ngân sách từ hoạt động khoáng sản: thuế tài nguyên, phí bảo vệ  
môi trường, lệ phí cấp giấy phép khai thác và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.  
Bên cạnh đó, tác giả cũng lượt khảo ba bài nghiên cứu nổi bật trong nước và ngoài  
nước có liên quan làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài.  
2.1. Tổng quan cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Môi trường, tài nguyên  
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động  
đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường,  
2014, điều 3, khoản 1).  
Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất,  
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (Luật  
Bảo vệ môi trường, 2014, điều 3, khoản 2).  
Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dụng  
để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người (Nguyễn  
Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường).  
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát  
triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai  
thác ngày càng tăng.  
Theo quan điểm kinh tế môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia làm  
hai loại là tài nguyên có thể tái tạo (renewable resources) và tài nguyên không thể  
tái tạo hoặc tài nguyên có khả năng bị cạn kiệt (non-renewable resources).  
       
5
Tài nguyên thiên nhiên  
Có khả năng tái tạo  
Không có khả năng tái tạo  
Tạo tiền đề tái tạo  
Không thể tái tạo  
Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, 2003  
Tài nguyên có thể tái tạo là những nguồn tài nguyên có khả năng tự phục hồi  
theo các quy luật và chu trình chuyển hóa của tự nhiên. Ví dụ như năng lượng mặt  
trời, năng lượng gió.  
Đối với tài nguyên có thể tái tạo, nếu việc khai thác của con người không  
hợp lý thì nguồn tài nguyên này vẫn có thể bị cạn kiệt. Nên bài toán đặt ra là: (i)  
Làm sao khai thác tài nguyên tái tạo một cách bền vững và (ii) Mức giá đưa ra như  
thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.  
Tài nguyên không thể tái tạo là những nguồn tài nguyên không thể tự phục  
hồi theo các quy luật tự nhiên; việc khai thác của con người làm giảm trữ lượng tự  
nhiên của những nguồn tài nguyên này. Ví dụ như: than đá, dầu mỏ.  
Đối với tài nguyên không thể tái tạo, việc khai thác của thế hệ hiện tại tất yếu  
làm giảm trữ lượng tài nguyên dành cho thế hệ tương lai. Nên bài toán đặt ra là: (i)  
6
Làm sao phân bổ tài nguyên hợp lý theo thời gian, giữa các thế hệ để đạt viễn cảnh  
cạn kiệt tối ưu và (ii) Mức giá đặt ra trong mỗi giai đoạn.  
Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn,  
thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng  
chất ở bãi thải của mỏ (Luật Khoáng sản, 2010, điều 2, khoản 1).  
Cát xây dựng thuộc nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có  
hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit,  
volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ  
lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Luật Khoáng sản, 2010,  
điều 64, khoản 1, điểm a).  
2.1.2. Mối quan hệ giữa tài nguyên và kinh tế  
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây  
dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan  
(Luật Khoáng sản, 2010, điều 2, khoản 7).  
Trên lý thuyết, các khoáng sản là tài nguyên không tái tạo nên ngày càng cạn  
kiệt, dẫn đến giá sẽ ngày càng tăng. Thực tế, giá khoáng sản có thể giảm do thị  
trường trong ngắn hạn không nhìn nhận đặc tính giới hạn về số lượng của tài  
nguyên hoặc sự phát triển của công nghệ.  
 
7
Nền kinh tế là một hệ thống mở, để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho con  
người nền kinh tế phải khai thác tài nguyên từ môi trường, chế biến những tài  
nguyên này thành những sản phẩm hoàn chỉnh để tiêu thụ.  
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế  
Nguồn: Barry Field. Environmental Economics: An introduction. 1994, p.21  
Hoạt động của hệ thống kinh tế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và  
thải các chất thải vào môi trường, làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên.  
Chất thải từ hệ thống kinh tế:  
 
8
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế với hệ thống tài nguyên  
Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, 2003  
Mô hình trên cho thấy nền kinh tế là một hệ thống chế biến nguyên liệu  
chuyển đổi thành sản phẩm. Các nguyên liệu hữu dụng gồm các tài nguyên không  
thể tái tạo như khoáng sản, dầu và những tài nguyên có thể tái tạo như lâm sản, thủy  
hải sản được hút vào hệ thống kinh tế. Hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra là hiện thân  
của một phần nguồn vật chất và nhiên liệu này sau đó đến tay người tiêu dùng.  
Có ba quan điểm cơ bản kết hợp giữa tài nguyên và phát triển kinh tế, bao  
gồm: (i) Quan điểm gia tăng số không, (ii) Quan điểm bảo vệ và (iii) Quan điểm  
phát triển bền vững.  
 
9
Đại diện cho lý thuyết gia tăng số không là J.Forrester, D.Meadows,  
M.Mexxarovits và E.Pestel (trích từ bài giảng Nguyễn Văn Song) với quan điểm  
ngừng hẳn gia tăng của sản xuất, tức là tăng trưởng bằng 0 hoặc âm. Đây là quan  
điểm mang tính chất duy ý chí và thiếu thực tế.  
Quan điểm bảo vệ lấy bảo vệ làm mục đích, hạn chế và ngăn chặn mọi hình  
thức khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên, không can thiệp vào thiên nhiên,  
nhất là tại các địa bàn chưa được khảo sát và nghiên cứu đầy đủ. Quan điểm này  
cũng là giải pháp không thể thực hiện được, nhất là tại các nước thu nhập thấp, nơi  
mà nguồn tài nguyên khai thác lại là nguồn sống chủ yếu của đa số nhân dân ở đó.  
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà  
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ  
sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo  
vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường, 2014, điều 3, khoản 4).  
Cần phải phát triển bền vững do tài nguyên giới hạn trong khi nhu cầu không  
ngừng tăng lên. Quan điểm phát triển bền vững có hai mô hình: (i) Mô hình phát  
triển bền vững mức cao và (ii) Mô hình phát triển bền vững mức thấp.  
Phát triển bền vững dựa trên 7 nguyên tắc: (1) Tôn trọng và quan tâm đến  
cuộc sống cộng đồng, (2) Cải thiện chất lượng cuộc sống con người, (3) Bảo vệ  
cuộc sống và tính đa dạng của trái đất, (4) Hạ chế tới mức thấp nhất việc làm suy  
giảm nguồn tài nguyên không tái tạo, (5) Giữ vững khả năng chịu đựng của trái đất,  
(6) Thay đổi thái độ và thói quen của mỗi người, (7) Tạo ra một cơ cấu quốc gia và  
quốc tế thống nhất thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ môi trường.  
Để phát triển bền vững, thế hệ tương lai phải được bồi thường những thiệt  
hại mà hoạt động của chúng ta gây ra hôm nay, chúng ta phải chuyển giao di sản tư  
bản có nghĩa là để lại cho thế hệ sau một lượng tư bản (vốn) không ít hơn những gì  
mà thế hệ chúng ta có hay hình thành các quỹ bù đắp cho thế hệ tương lai. Tư bản  
cung cấp nguồn lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ bảo đảm an sinh xã hội. Nếu thế  
hệ hiện tại dành cho thế hệ tương lai một số vốn K không ít hơn số vốn mà họ đang  
10  
sở hữu, thế hệ kế tiếp có thể sử dụng vốn đó để tạo ra cùng một mức phúc lợi như  
thế hệ hiện tại có.  
Dự trữ vốn K bao gồm vốn do con người tạo ra Km (nhà xưởng, máy móc,  
đường sá, …), vốn con người Kh (kiến thức, kỹ năng) và những tài sản thiên nhiên  
Kn (đất, rừng, thủy hải sản, dầu, khí, khoáng sản, tầng ozon và chu trình sinh hóa).  
K = Km + Kh + Kn  
2.1.3. Giá trị kinh tế của tài nguyên  
Khi ra một quyết định kinh tế đòi hỏi phải có các khái niệm về giá cả, lợi ích  
và chi phí. Tuy nhiên, trong việc đánh giá tài nguyên, không phải lúc nào chúng ta  
cũng có thể có giá cả hiện hành của thị trường. Hàng hóa công cộng, những lợi ích  
của thị trường, tài nguyên thiên nhiên mang lại hầu như không có thị trường và như  
vậy giá cả không xuất hiện cho chúng ta sử dụng để đánh giá giá trị của tài nguyên.  
Theo Munasinghe (1993), tổng giá trị kinh tế (TEV) của tài nguyên là tổng  
giá trị sử dụng (UV) và giá trị không sử dụng (NUV) của tài nguyên đó.  
TEV = UV + NUV  
(2.1)  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 93 trang yennguyen 20900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý tài nguyên cát và mức sẵn lòng chi trả tiền cấp quyền khai thác cát của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_tai_nguyen_cat_va_muc_san_long_chi_tra_tien.pdf