Tóm tắt Luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
1.1. Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại được tạo nên bởi những  
thế hệ nhà thơ kế tiếp. Bắt đầu từ thế hệ nổi tiếng trong Phong trào  
Thơ Mới (1930-1945) như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy  
Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính,..; đến thế hệ xuất hiện và trưởng  
thành trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) như Nguyễn Đình  
Thi, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, ....  
Đặc biệt, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ,  
cứu nước (1955-1975) đã ra đời một thế hệ các nhà thơ trẻ, sớm bộc  
lộ tài năng và cá tính sáng tạo, có mặt ở khắp cả hai miền đất nước.  
Đó là Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Vũ  
Quần Phương, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo,  
Nguyễn Duy,v.v. Và không thể không kể đến Bằng Việt “một trong  
những trụ cột của thời thơ này” góp phần "kiến tạo lên cái toà đại  
bảo tháp của thi ca thế hệ chống Mỹ, cứu nước thế kỷ XX" [36].  
Cho đến nay, trước yêu cầu đổi mới và hội nhập, Bằng Việt  
vẫn xứng danh là một trong những nhà thơ khẳng định được vị trí  
hàng đầu của mình trong nền thơ Việt Nam đương đại.  
1.2. Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, Bằng Việt đã in 8 tập  
thơ và 3 tuyển tập, với trên 300 bài thơ đã công bố; đó là chưa kể đến  
số lượng thơ dịch của mấy chục nhà thơ nổi tiếng của thế giới mà  
Bằng Việt đã giới thiệu với bạn đọc Việt Nam.  
Với công sức sáng tạo ấy, Bằng Việt đã được tặng nhiều giải  
thưởng trong và ngoài nước: Giải nhất về thơ của Hội Văn học Nghệ  
2
(2001), Giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (2002), Giải  
thưởng văn học ASEAN cho tập thơ Ném câu thơ vào gió  
(2003)… Những kết quả ấy đã khẳng định đóng góp rất đáng ghi  
nhận của Bằng Việt vào nền văn học của thủ đô Hà Nội nói riêng  
và nền văn học cả nước nói chung. Vì vậy, đi sâu tìm hiểu Cái tôi trữ  
tình trong thơ Bằng Việt không chỉ để hiểu thêm một phong cách thơ,  
mà qua đó còn cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của một thời thơ, một  
thế hệ nhà thơ trưởng thành từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh vệ  
quốc. Thiết nghĩ việc làm này cũng sẽ đem lại bài học bổ ích góp  
phần định hướng cho sự phát triển của nền thơ nước ta trước công  
cuộc đổi mới và hội nhập đang diễn ra hiện nay.  
1.3. Đồng thời, Bằng Việt còn là một tác giả có tác phẩm được  
tuyển chọn đưa vào dạy và học trong chương trình Ngữ Văn ở nhà  
trường phổ thông. Thực hiện đề tài này không chỉ giúp người học,  
người nghiên cứu hiểu sâu về thơ Bằng Việt mà còn hiểu hơn về thơ  
ca hiện đại Việt Nam.  
2. Lịch sử vấn đề  
2.1. Những bài viết cảm nhận chung về Bằng Việt và thơ  
Bằng Việt  
- G.S Lê Đình Kỵ: Hương cây- Bếp lửa- Đất nước và đời ta  
nêu nhận xét Bằng Việt là "Một tâm hồn nhiều suy nghĩ và  
rung động tinh tế.  
- G.S Nguyễn Văn Hạnh Đọc thơ Bằng Việt cho rằng: "Phong  
cách thơ Bằng Việt hình thành từ sớm”.  
- Năm 1984, trong công trình Nhà thơ Việt Nam hiện đại, G.S  
Nguyễn Xuân Nam nêu cảm nhận: “Bằng Việt có tiếng nói riêng sâu  
lắng và trong sáng của lớp thanh niên trí thức mới … Cảm giác gần  
gũi, thân thiết ấy là một nét hấp dẫn trong thơ Bằng Việt.”  
3
- Nhà thơ Anh Ngọc khẳng định vị trí của Bằng Việt: “có một vị  
trí quan trọng trong nền thơ chống Mỹ” trong bài viết Hồn thơ thế kỷ  
- Năm 2010, nhà thơ Dương Kiều Minh trong bài viết Nhà thơ  
Bằng Việt và cái nhìn hiện thực bằng “ánh mắt xanh ngăn ngắt” của  
thi sĩ, khẳng định “Bằng Việt là trụ cột của thế hệ nhà thơ trưởng  
thành trong kháng chiến chống Mỹ”  
- Chứng minh cho việc làm mới để “không chịu “lưu ban” trở  
thành một Bằng Việt của thế kỉ mới” là ý kiến của nhà thơ Nguyễn  
Thụy Kha trong Bằng Việt “Bếp lửa” còn ấm mãi  
- Nhà phê bình Phạm Khải nêu những nét cơ bản vừa ổn định  
vừa phát triển trong thơ Bằng Việt: "cách diễn đạt trang nhã, kín  
đáo, không ồn ào"; "Sau đổi mới vẫn là mạch suy tưởng” trong bài  
Giọt nước sôi trên tay không cùng màu song bể”  
Các bài viết về thơ Bằng Việt ở trên, chúng ta có thể nhận thấy  
các tác giả chủ yếu tập trung theo hai hướng tiếp cận: một là điểm  
một số nét độc đáo trong một/ một vài tập thơ; hai là điểm một số  
phương diện nội dung và nghệ thuật có tính ổn định và chuyển biến  
trong các tập thơ. Đây là những gợi ý quý báu cho đề tài mà tác giả  
luận văn sẽ thực hiện.  
2.2. Những bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn  
- Năm 2001, Đỗ Thuận An trong luận văn thạc sĩ Thế giới  
nghệ thuật trong thơ Bằng Việt đã đóng góp một suy nghĩ mang tính  
chất nhận xét chung: "Được sáng tạo theo những nguyên tắc tư tưởng  
riêng của chủ thể trữ tình, thế giới thơ Bằng Việt là một thế giới mới  
mẻ thống nhất”.  
- Luận văn Phong cách nghệ thuật thơ Bằng Việt của Nguyễn  
Bạch Linh. Tác giả luận văn đã chứng minh sự thống nhất ổn định  
của thơ Bằng Việt về quan niệm thẩm mỹ, hệ thống hình tượng và  
4
những phương tiện biểu hiện.  
- Năm 2011, trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm thơ Bằng Việt  
của Mai Ngọc Lệ có nhận xét: "... những cảm hứng sâu sắc về đất  
nước, con người, thế sự, tình yêu đó đã cho ta hình dung một cái tôi  
trữ tình Bằng Việt tài hoa, nhạy cảm, giàu tình yêu thương và có  
trách nhiệm với cuộc sống, với thơ ca".  
Với những mức độ và hướng tiếp cận khác nhau, các tác giả  
luận văn đã trực tiếp chọn những đặc điểm tư tưởng và nghệ thuật  
của thơ Bằng Việt để nghiên cứu. Tuy vậy, qua tìm hiểu chúng tôi  
được biết cho đến nay vẫn chưa có một luận văn nào tập trung nghiên  
cứu đặc điểm cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình  
trong thơ Bằng Việt.  
Tiếp thu và kế thừa ý kiến của những người đi trước, chúng  
tôi thực hiện luận văn với ý nghĩ: "không chiếm lĩnh được những  
đặc điểm của cái tôi trữ tình" thì "rất khó đột phá vào thế giới  
sáng tạo của thơ ca".  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu đặc điểm cái tôi trữ tình  
trong thơ Bằng Việt.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Các tập thơ của Bằng Việt, đặc biệt tập trung vào tập thơ tuyển  
Bằng Việt - Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội Nhà văn, 2010.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp: Phương pháp  
tiếp cận hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát, phân  
loại, phương pháp phân tích, tổng hợp ...  
5
5. Đóng góp của luận văn  
- Qua thơ Bằng Việt hiểu thêm về nhà thơ và cả một thế hệ  
nhà thơ đến nay vẫn chưa đánh giá hết.  
- Nghiên cứu chân dung tâm hồn của nhà thơ Bằng Việt góp  
phần định hướng cho thơ trẻ và sự phát triển thơ ca hiện nay.  
- Đề tài cung cấp thêm tư liệu có ý nghĩa thiết thực, hữu ích  
trong việc giảng dạy tác phẩm văn học ở trường phổ thông.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành các  
chương như sau:  
Chương 1. Nhìn lại hành trình sáng tác của Bằng Việt  
Chương 2. Khái niệm “Cái tôi trữ tình” và những nét nổi bật  
của cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt.  
Chương 3. Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ  
Bằng Việt  
CHƢƠNG 1  
NHÌN LẠI HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA BẰNG VIỆT  
1.1. ĐÔI NÉT TIỂU SỬ  
Bằng Việt sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941 tại thành phố Huế,  
nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.  
Tuổi thơ Bằng Việt vang động những sự kiện của cuộc Cách mạng  
tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp. Học xong bậc trung  
học tại Hà Nội và được cử đi học Đại học Luật ở Liên Xô là điều  
kiện để Bằng Việt mở rộng tầm nhìn và được tiếp xúc tích lũy vốn  
kiến thức của nhiều danh nhân văn hóa trên thế giới. Hoàn cảnh sống  
và học tập đã ảnh hưởng rất lớn đến phong cách sáng tác và dịch  
thuật của nhà thơ.  
6
Năm 1965 tốt nghiệp khoa Pháp lý, Bằng Việt về nước và công  
tác tại Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Năm  
1968, sau khi tập thơ đầu tay Hương cây – Bếp lửa in chung cùng Lưu  
Quang Vũ ra đời. Năm 1969, Bằng Việt chuyển sang làm công việc  
biên tập tại nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam.  
Năm 1970 và năm 1973, hai lần tác giả được vào công tác tại chiến  
trường Bình Trị Thiên. Thực tế chiến trường là những trải nghiệm quý  
báu cho nhà thơ về cuộc chiến của dân tộc, đồng thời khơi sâu mạch  
suy nghiệm cho hồn thơ.  
Sau chiến tranh, Bằng Việt đảm trách những vị trí quan trọng  
ở Hội Văn nghệ Hà Nội, Hội Liên hiệp Văn học- Nghệ thuật Hà Nội.  
1.2. HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC  
Bằng Việt xuất hiện lần đầu trong thơ vào năm 1961 với bài  
Qua Trường Sa. Cũng từ đó, thơ Bằng Việt đi cùng với tiến trình thơ  
Việt Nam hiện đại. Để đi đến nhận diện cái tôi trữ tình trong thơ  
Bằng Việt, trước hết ta cần tìm hiểu những chặng đường sáng tác của  
thơ ông trên hành trình phát triển của nền thơ Việt Nam hiện đại.  
1.2.1. “Những rung động đầu đời” (1959-1964)  
Gồm một số bài thơ của Bằng Việt đã in chung với Lưu Quang  
Vũ trong tập thơ đầu lòng: Hương cây-Bếp lửa. Đó là những rung  
động đầu đời về thiên nhiên, đất nước, con người và tình yêu của tuổi  
hoa niên.  
Với đất nước “Đường giải phóng mới đi một nửa” (Tố Hữu),  
Bằng Việt vui mừng, hân hoan trước sự hồi sinh của cuộc sống hòa  
bình xây dựng trên miền Bắc nhưng cũng không quên nhắc bạn và  
cũng tự nhắc mình phải có trách nhiệm với non sông đất nước, phải  
biết căm phẫn tội ác trong thế kỉ bạo tàn. Khát được nghìn lần ra  
trận- Trả thù cho nơi lơ đãng đi qua! là khát vọng của nhà thơ khi  
7
đang ở giảng đường đại học.  
Những rung động tinh tế trước cảnh sắc thiên nhiên của làng  
quê đất Bắc; những rung động đầu đời với bao cảm xúc hiện hữu  
thành kỷ niệm về tuổi thơ đi học, về cảm xúc bạn bè, về tiếng lòng  
của chính mình của “thuở đầu lưu luyến ấy” là những khúc nhạc lòng  
bằng thơ đầu đời của Bằng Việt .  
Bằng Việt- một hồn thơ tinh tế, dạt dào cảm xúc đã mãi mang  
theo những rung động đầu đời để đón nhận và tin yêu cuộc sống.  
Những cảm xúc này đã hình thành nên thể chất thơ Bằng Việt mà sau  
này dù có nỗi buồn, có xót xa trước sự đổi thay của con người của  
cuộc đời thì nhà thơ vẫn không ngừng khát khao và tin yêu cuộc đời.  
1.2.2. “Tột cùng gian truân, tột cùng hạnh phúc” (1964-  
1973)  
Những năm tháng Tột cùng gian truân, tột cùng hạnh phúc đã  
được Bằng Việt ghi lại trong hai tập thơ Những gương mặt, những  
khoảng trời và Đất sau mưa.  
Những bài thơ ra đời trong thời kì này không chỉ đã ghi lại  
“chứng tích một thời”, mà còn biểu hiện được những cung bậc tình  
cảm, xúc động mãnh liệt và sâu lắng của tâm hồn nhà thơ trước sức  
chịu đựng “tột cùng gian truân” mà cũng “tột cùng hạnh phúc” của  
đất nước và nhân dân anh hùng.  
Sức sống bình thản đến kỳ lạ của nhân dân và tuổi trẻ đất nước  
trước sự hủy diệt khủng khiếp của quân thù đã làm nên sức mạnh hồi  
sinh kỳ diệu hàn gắn vết thương chiến tranh. Đó là chiều sâu cảm  
xúc, phản ánh hiện thực để đi đến nhận định khái quát: “tột cùng gian  
truân” mà “tột cùng hạnh phúc” của nhân dân và đất nước của tác giả.  
Chặng đường này, Bằng Việt còn đan xen nhiều khúc tình ca  
với nhiều cách biểu đạt bất ngờ, sâu lắng hòa quyện tình cảm và trí  
8
tuệ làm xao xuyến người đọc. Tình cảm ấy thể hiện hình ảnh cái tôi  
trữ tình hòa quyện riêng chung của cả một thế hệ, nối tiếp những  
rung động đầu đời nhưng đã trưởng thành qua một “thời lá đỏ” và  
“trải nghiệm’ trong hành trình thơ Bằng Việt.  
1.2.3. “Thơ tình viết muộn”- “Những trải nghiệm” (1973-  
2008)  
Gồm những bài thơ được tuyển chọn từ tập Đất sau mưa đến  
tập Nheo mắt nhìn ra thế giới.  
Trước hết, thơ Bằng Việt đã biểu hiện niềm vui hồi sinh của đất  
nước sau chiến thắng, những rung động buổi chiều trong hoàn cảnh đất  
nước thanh bình được đi thăm nhiều vùng đất một “thời lá đỏ”. Những  
vần thơ viết trong hoàn cảnh này gây xúc động cho người đọc.  
Nhận ra, cả nước sau niềm vui lại phải đang bước vào cuộc  
chiến không kém phần cam go đó là cuộc chiến với cái đói, cái  
nghèo, cái lạc hậu để đem lại no ấm, hạnh phúc cho mỗi phận người.  
Người đọc dễ dàng bắt gặp trong thơ Bằng Việt ở chặng đường này  
những trăn trở, băn khoăn, âu lo đầy trách nhiệm về cuộc đời để tự  
nhắc mình về trách nhiệm của thơ ca, và nhắc bạn đọc về cách nghĩ,  
cách xử sự trước cuộc sống đầy phức tạp của buổi giao thời  
“Đọc lại Nguyễn Du”, “Nhớ Trịnh” trong “Lặng lẽ”, thơ Bằng  
Việt vẫn thủy chung với vẻ đẹp nhân văn và ngày càng sâu lắng với  
những tầm nhìn, tầm nghĩ mới đầy trách nhiệm trước cuộc đời và con  
người. Hòa vào thế giới “tiềm thức” ấy người đọc sẽ càng hiểu thêm  
những suy ngẫm của nhà thơ về đất nước, về cuộc đời, về tình yêu và  
ý nghĩa của sự sống, về sáng tạo nghệ thuật và thơ ca trong đời sống  
của con người.  
9
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1  
Tóm lại, đi cùng đời thơ của Bằng Việt từ tập Hương cây- Bếp  
lửa đến tập Nheo mắt nhìn ra thế giới chúng ta dễ nhận ra hành  
trình sáng tác của nhà thơ trong tiến trình vận động của lịch sử, văn  
học. Giai đoạn đầu là những rung động đầu đời về đất nước, trước  
thiên nhiên và những cảm xúc về tuổi thơ, tình yêu. Giai đoạn thứ  
hai cho thấy một hồn thơ Bằng Việt điềm tĩnh, sâu sắc khi hiểu sức  
sống trầm tĩnh, sức mạnh phi thường của nhân dân trong cuộc chiến  
tranh ác liệt chống giặc Mỹ để đúc rút chân lí “tột cùng gian truân-  
tột cùng hạnh phúc” của dân tộc, đất nước. Sau chiến tranh là sự  
đúc kết những suy ngẫm trải nghiệm đậm chất triết lí nhân văn của  
nhà thơ về cuộc đời, về chính mình và nghệ thuật. Đó là một hành  
trình thơ “được coi là chứng tích và trải nghiệm cho cả một một  
thời và một đời của người sáng tác và cũng là lời tự bạch của một  
con người đặt trong mối quan hệ tương hỗ với mọi người xung  
quanh” [79, tr. 14] mà Bằng Việt những mong muốn gửi đến bạn  
đọc “của tin gọi một chút này làm ghi”.  
Tiếp cận hành trình lao động sáng tạo nghệ thuật thi ca hơn  
nửa thế kỷ qua các tập thơ của Bằng Việt đã xuất bản, người đọc sẽ  
cảm nhận được những đặc điểm nổi bật của cái tôi trữ tình trong thơ  
Bằng Việt và những đóng góp đáng ghi nhận của thơ Bằng Việt vào  
nền thơ hiện đại Việt Nam.  
10  
CHƢƠNG 2  
KHÁI NIỆM “CÁI TÔI TRỮ TÌNH” VÀ NHỮNG NÉT  
NỔI BẬT CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ  
BẰNG VIỆT  
2.1. KHÁI NIỆM CÁI TÔI TRỮ TÌNH  
Cái tôi trữ tình là “sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc  
đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ  
thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra  
một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo, mang tính thẩm mỹ...". Cái  
tôi trữ tình "vừa là một cách thế nhìn và cảm nhạn thế giới của chủ  
thể, lại vừa chính là một điểm nhìn nghệ thuật của chủ thể" [3, tr. 36-  
39]  
Hơn bất kì thể loại văn học nào khác, thơ biểu lộ đậm nét tính  
chủ quan của người nghệ sĩ, thông qua ngôn từ, người đọc dễ dàng  
nhận ra cái tôi chủ thể của nhà thơ.  
Cái tôi trữ tình trong thơ thường được thể hiện ở 3 dạng thức:  
tác giả trực tiếp thể hiện cái tôi của chính mình; cái tôi trữ tình xuất  
hiện gián tiếp, nhà thơ mượn sự việc, cảnh vật, nhân vật trong thơ để  
biểu hiện cảm xúc của tâm hồn mình; cái tôi trữ tình nhập vai, nhà  
thơ không xuất hiện trực tiếp mà thông qua một nhân vật khác để bày  
tỏ thái độ, cảm xúc của chính mình- là sự vận dụng quy luật điển  
hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật.  
2.2. NHỮNG NÉT NỔI BẬT CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH  
TRONG THƠ BẰNG VIỆT  
2.2.1. Cái tôi trữ tình thống nhất, hài hòa riêng chung  
Khác với cái tôi trữ tình ở những thời kì văn học trước, sự hòa  
quyện giữa riêng và chung, giữa cái tôi và cái ta là một đặc điểm nổi  
11  
bật biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ nhà thơ Việt Nam xuất hiện  
và trưởng thành trong những năm chống Mỹ, cứu nước (1955-1975).  
Ngay từ bài thơ đầu tiên trình làng- Qua Trường Sa, Bằng Việt  
đã thể hiện ý thức hòa quyện một cách rất tự nhiên giữa cái tôi và cái  
ta mà vẫn giữ được nét riêng của mình; Tư thế sẵn sàng ra trận: Thôi  
từ giã tuổi thơ!/ Xốc hành lý lên vai/ Ta tính nốt những chặng đường  
đánh Mỹ (Từ giã tuổi thơ) là gương mặt tâm hồn và phẩm chất cùng  
chung lí tưởng của Bằng Việt hòa cùng dàn đồng ca thế hệ.  
Cái tôi trữ tình trong những kỉ niệm tuổi thơ, tình cảm riêng tư  
về gia đình nhỏ luôn đặt trong hoàn cảnh đất nước. Kể cả khi tâm sự  
cùng con, nhà thơ cũng không quên nhắc nhở con về ý thức trách  
nhiệm với Tổ quốc. Vì thế, cái tôi cá thể của nhà thơ đã gắn bó hữu  
cơ với hơi thở, nhịp sống của đất nước.  
Từ tình cảm gia đình gắn bó mật thiết với cộng đồng tạo nên  
sự kết hợp giữa cái tôi trữ tình riêng tư và cái tôi sử thi là một đặc  
điểm thống nhất trong thơ Bằng Việt. Cái tôi trữ tình này tiếp tục  
được thể hiện ở những kỉ niệm của người trí thức trẻ tuổi yêu nước  
trong chiến tranh chống Mỹ. Đọc những vần thơ về tuổi trẻ của nhà  
thơ, ta khó có thể nhận ra đâu là kỉ niệm của riêng nhà thơ bởi cái tôi  
riêng của tác giả đã hòa vào cái tôi thế hệ- cái tôi tuổi trẻ cả nước  
trong kháng chiến chống Mỹ.  
Trang thơ viết về tình yêu của Bằng Việt cũng là minh chứng  
cho cái tôi hòa trong cái ta. Không chỉ là tình yêu, khỏe khoắn, giàu  
niềm tin yêu của những người cùng lí tưởng, cùng đi trên một con  
đường mà độc đáo hơn tình yêu đó luôn gắn với cộng đồng- từ không  
gian gặp gỡ, thời gian xa cách và cả biểu hiện của tình yêu.  
Như vậy, đi cùng trang thơ của Bằng Việt chúng ta có được  
nhiều kỉ niệm về tuổi thơ, gia đình, tuổi trẻ và tình yêu của nhà thơ  
12  
nhưng tất cả đều gắn kết, hài hòa cùng nhịp sống, cuộc đấu tranh của  
đất nước  
2.2.2. Cái tôi trữ tình thiên hƣớng chính luận mà sâu  
lắng cảm xúc  
Ngay từ tập thơ đầu tay Hương cây- Bếp lửa ( in chung với thơ  
Lưu Quang Vũ) thơ Bằng Việt đã đã hình thành cái tôi trữ tình thiên  
hướng chính luận và sâu lắng cảm xúc.  
Trước hết là những cảm xúc và suy tư, chiêm nghiệm về đất  
nước, con người. Cùng viết về đề tài Tổ quốc, nhân dân trong chặng  
đường lịch sử 1955- 1975, Bằng Việt có cách khám phá riêng để  
khẳng định vị trí, phong cách của mình. Từ thực tế chiến trường phải  
hứng chịu ngàn vạn tấn bom tàn phá của kẻ thù nhưng vẫn hồi sinh,  
phát triển, vươn mình đón nhận ánh sáng, sự sống nhà thơ suy tư,  
khái quát về đất nước: Đất nước ủ trong mình lòng kiên nhẫn bền  
lâu/ Làm đằm lại hết mọi điều dữ dội... (Đất nước).  
Viết về nhân dân- những con người làm nên gương mặt đất  
nước “chẳng đăm chiêu” “sau nhiều từng trải”, nhà thơ không chuyên  
về những “người anh hùng” mà viết về những con người “không ai  
nhớ mặt đặt tên”. Đó là những người lính “băng qua khắp đất nước  
hầm hào”, những cô giao liên “chạy hậm hà hậm hụi”, những người  
mẹ “âm thầm lặng lẽ”, những em thơ “biết đưa em xuống hầm” và  
“mỗi năm lên một lớp”. Họ anh dũng, kiên tâm, bản lĩnh, bền bỉ, hồn  
hậu trong cuộc chiến đấu khốc liệt, đầy cam go, gian khó. Cũng như  
viết về đất nước, tả, kể không phải là chủ ý hướng tới của nhà thơ mà  
cái đích là chiêm nghiệm, suy tư và tâm tình. Suy tư về những con  
người làm nên lịch sử, Bằng Việt đã nói lên cảm xúc chân thành của  
mình: Mỗi gương mặt bình thường, sau nghìn lần sống chết/ Rọi ánh  
sáng vào tôi, cùng những khoảng trời cao! (Những gương mặt,  
13  
những khoảng trời). Từ trải nghiệm, suy ngẫm về đất nước, nhân  
dân, cái tôi trữ tình Bằng Việt đi đến khái quát, triết lí: Tột cùng gian  
truân, tột cùng hạnh phúc!  
“Vẫn tiếp tục mạch suy tưởng- vốn là thế mạnh của thơ anh  
thời trẻ”, sau đổi mới, cái tôi trữ tình nhà thơ tiếp mạch cảm xúc đã  
cho ra đời những vần thơ suy tư về thế sự- nhân sinh, về nghệ thuật  
thơ ca. Sâu lắng nhưng không tránh khỏi sự xót xa trước thế thái  
nhân tình “Mọi giá trị thuở xưa, quen đo bằng sống chết/ Thì hôm  
nay gắn chặt với giàu nghèo”!, trước xu hướng thơ trẻ “Nhiều sexy,  
ít nghĩ về hạnh phúc, nhà thơ tâm sự với người mà cũng nói với  
mình, điểm xuất phát đầu tiên cũng là cái đích cần đến của mọi nền  
nghệ thuật đấy là nói “ thân phận con người”. Thật là một tình cảm  
lớn lao, một lí tưởng cao đẹp!  
Không chỉ suy tư, triết luận về cuộc đời, về con người và nghệ  
thuật mà nhà thơ còn cảm nhận và suy tư, chiệm nghiệm về chính  
mình. Ở dạng thức cái tôi trữ tình trực tiếp khi tự bạch về tuổi trẻ, tình  
yêu Bằng Việt không dừng lại ở kỉ niệm, ở lưu dấu hình ảnh những nơi  
đã đi qua mà còn có ý thức nhìn nhận, suy ngẫm về sự nhận thức của  
chính bản thân ở từng thời điểm. Từ giã từ tuổi thơ thấy dung mạo như  
còn giống nhưng tầm cao đã khác rồi, qua nhận thức đã qua trải  
nghiệm cuộc đời chưa bao giờ tôi trải hết cuộc đời/Chỉ càng lớn tôi  
càng chăm chút nó đến “ngày đã đứng trưa” thức nhận Cát đã qua lò  
nay hóa thủy tinh cho thấy cái tôi trữ tình thiên hướng chính luận mà  
dạt dào, sâu lắng cảm xúc trong thơ Bằng Việt.  
Những nhân tố nào góp phần làm nên đặc điểm cái tôi trữ tình  
thiên hướng chính luận mà sâu lắng cảm xúc ở Bằng Việt? Đó chính  
là thể chất thơ, tri thức kiến văn và kiến thức luật học.  
2.2.3. Cái tôi trữ tình của một hồn thơ giàu vẻ đẹp kiến văn  
14  
Đọc thơ Bằng Việt, giới nghiên cứu- phê bình có người đã  
nhận xét rằng, Bằng Việt đã làm nên một giọng thơ riêng “có học và  
sang trọng”, “tài hoa và lịch lãm” với nhiều dấu ấn của tri thức sách  
vở khá rõ nét.  
Điều ấy trước hết biểu hiện ở niềm tự hào về lịch sử, sự nâng  
niu giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được vận dụng vào thơ rất  
nhuần nhị. Viết về nhân dân, đất nước trong chiến tranh chống Mỹ,  
cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt đã cất lên tiếng thơ tự hào gợi dậy  
truyền thống đánh giặc ngoại xâm của Thăng Long- Hà Nội anh  
hùng, về công sức của bao thế hệ đã làm nên lịch sử. Nhà thơ còn  
đưa người đọc về với cội nguồn, nếp sống, nếp nghĩ, và cả phong tục  
tập quán của dân tộc lam làm, thảo lảo bao đời mà phải rầu lòng,  
mím môi phẫn nộ sau những phút bao dung. Nhưng dù hoàn cảnh  
nào, con người Việt Nam vẫn giữ sắc đỏ tươi của nghĩa tình thắm đỏ.  
Sự gặp gỡ, đồng điệu trong cảm xúc và tư duy thơ trữ tình –  
chính luận về đất nước từ chiều sâu văn hóa lịch sử là một đóng góp  
đáng ghi nhận của cái tôi trữ tình Bằng Việt trong dàn đồng ca thế hệ.  
Nhìn sự vật, con người từ góc độ văn hóa và cũng từ góc nhìn ấy bản  
sắc văn hóa Việt hiện lên với vẻ đẹp giao hòa giữa truyền thống và  
hiện đại. Qua thơ người đọc cũng có thể biết được nhà thơ đã đi đến và  
am hiểu phong tục tập quán của nhiều miền quê trên đất nước, và  
chính vẻ đẹp văn hóa của mỗi vùng quê mà tác giả nâng niu ấy đã tạo  
nên nguồn chất liệu đầy cảm hứng cho thơ.  
Chính vì mang trong mình sự trân trọng nâng niu bao giá trị  
văn hóa nên khi đất nước chuyển mình sang thiên niên kỉ mới đầy  
biến động, cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt không giấu được nỗi  
buồn trước những vẻ đẹp truyền thống bị phôi pha.Trân trọng, nâng  
niu giá trị văn hóa- lịch sử, nhìn nhận văn hóa ở nhiều góc độ đã tạo  
15  
nên chiều sâu tri thức cho hồn thơ Bằng Việt.  
Cùng với niềm say mê, tự hào với vẻ đẹp của truyền thống văn  
hóa dân tộc, cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt cũng rộng mở đón  
nhận đầy ắp những giá trị văn hóa văn minh tinh thần của nhân loại.  
Một ấn tượng độc đáo nhưng đồng thời cũng là khoảng cách  
nhất định khi người đọc tiếp thơ Bằng Việt đấy chính là những hình  
ảnh cảm xúc thơ được gợi hứng từ nhiều nghệ sỹ, nhiều địa danh trên  
thế giới. Nhưng nếu lắng mình nghe tiếng lòng của tác giả về những  
đối tượng mới mẻ này thì chúng ta sẽ thấy được cái hay của văn  
chương, cái sang của hồn thơ Bằng Việt  
Lấy văn của “nhà văn bị đóng đinh trên cây thánh giá của văn  
xuôi”- Pautopxki, nhạc Beethoven, nghệ thuật múa Ba lê và rất nhiều  
địa danh, đất nước, con người văn hóa- lịch sử trên thế giới làm nền  
mạch cảm xúc, cho cảm hứng thơ ca và đối tượng trữ tình cho thấy  
Bằng Việt có vốn văn hóa sâu rộng về nhiều lĩnh vực.  
Sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử, văn hóa, văn học không chỉ ở  
trong nước mà còn ở nhiều nước trên thế giới làm nên nét nổi bật của  
cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt.  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2  
Truyền thống văn hóa lịch sử dân tộc và những giá trị văn hóa  
tinh thần của nhân loại trong thơ Bằng Việt không chỉ làm nên cái tôi  
trữ tình “sang trọng, lịch lãm” cho nhà thơ mà còn tạo sự phong phú  
cho đời sống văn học dân tộc. Vốn là một người giàu cảm xúc, có tài  
năng thiên bẩm về thơ, lại có điều kiện giao lưu, học tập ở nước  
ngoài nên Bằng Việt có được một năng lượng tinh thần đặc biệt trong  
sáng tác thơ ca. Cùng với hồn thơ giàu vẻ đẹp kiến văn, cái tôi trữ  
tình hài hòa thống nhất riêng- chung; triết lí, khái quát mà vẫn sâu  
16  
lắng trong cảm xúc đã làm nên chân dung tinh thần tự họa của nhà  
thơ. Thơ Bằng Việt sẽ sống mãi cùng thời gian bởi những giá trị về  
văn hóa, thái độ sống, lí tưởng sống và ý thức nghề nghiệp… mang ý  
nghĩa nhân sinh sâu sắc.  
CHƢƠNG 3  
NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH  
TRONG THƠ BẰNG VIỆT  
3.1. CẤU TỨ THƠ  
Cấu tứ là một phương diện quan trọng của hoạt động sáng tác  
văn học. Nó thể hiện quá trình suy ngẫm của tác giả để định hình, tổ  
chức cả hai mặt nội dung và nghệ thuật một tác phẩm. Nó đóng vai  
trò tạo nên phong cách nghệ thuật, biểu hiện tư tưởng, quan niệm  
nghệ thuật về con người và cuộc sống của nhà văn.  
3.2.1. Cấu tứ dựa trên dòng suy tƣởng  
Cấu tứ dựa trên dòng suy tưởng là cấu tứ theo mạch "toàn bài  
xuất phát từ một cảm xúc chung, một ấn tượng chung rồi dẫn dắt ra  
những dòng suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng [57, tr. 286].  
Đây là lối kết cấu phổ biến trong thơ Bằng Việt. Bài thơ  
thường được bắt đầu bằng một ấn tượng, một sự kiện hay một tâm  
trạng cụ thể để mở ra dòng suy tưởng, cuối cùng nêu lên một ý khái  
quát, triết lí. Có thể kể đến các bài thơ: Beethoven và âm vang hai  
thế kỷ, Những gương mặt- những khoảng trời, Đích, Giao hưởng số  
9, Mẹ, Đỉnh Prômêtê, Đất nước...  
Ở lối kết cấu này có những bài, xuất phát từ một ấn tượng,  
một sự kiện, một sự gợi ý, theo dòng suy tưởng, nhà thơ đi ngược  
thời gian để liên hệ về quá khứ và cuối cùng quay về hiện tại,  
17  
khẳng định hiện tại. Nghe trong trưa Bát Tràng, Những điều giản  
dị, Gương mặt, Đất này, Thăng Long- Hà Nội... là những minh  
chứng.  
Được bắt nguồn từ những vấn đề mà người viết đã trải  
nghiệm từ chính cuộc sống của đất nước, của dân tộc nên quá trình  
suy tưởng trong thơ của Bằng Việt có chiều sâu và để lại ấn tượng  
đối với độc giả.  
3.2.2. Cấu tứ theo mạch song song  
Cấu tứ theo mạch song song là cách triển khai mạch thơ theo  
mối quan hệ tương quan nhằm làm nổi bật đối tượng được nói đến.  
Quan hệ tương quan ở đây có thể được kết cấu theo lối đối  
sánh những vấn đề đối lập, theo mối quan hệ tương đồng hoặc có thể  
là những tương quan về mô hình câu có cấu trúc song hành, điệp cấu  
trúc trong bài thơ.  
Bằng Việt thường thể hiện mối tương quan giữa: gian truân và  
hạnh phúc, tình yêu và đất nước, xưa và nay, sự vật- hiện tượng với  
con người để đi đến chủ đề tư tưởng tác phẩm. Nhiều bài thơ triển  
khai mạch thơ này như: Tột cùng gian truân tột cùng hạnh phúc, tình  
yêu và báo động, Cổ rồi, Ừ thì, Tiếng ru và ngọn gió....  
“Nghệ thuật cấu tứ phản ánh quá trình tư duy, tài năng, sáng  
tạo của người nghệ sĩ” [52, trg. 286], nhận định này thật thỏa đáng  
khi đánh giá trường hợp thơ Bằng Việt.  
3.2. NGÔN NGỮ THƠ  
Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là hóa công của người  
nghệ sĩ. Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn  
thi nhân. Khi làm thơ, nhà thơ phải mượn ngôn ngữ để cụ thể hóa  
cảm xúc, suy nghĩ của mình.  
3.2.1. Ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc  
18  
Ấn tượng đầu tiên của người đọc khi tiếp xúc với ngôn từ thơ  
Bằng Việt đấy là ngôn ngữ dịu nhẹ, trong sáng, lắng sâu trong suy  
nghĩ. Chính điều này đã tạo sức hấp dẫn, cuốn hút và giữ sức sống  
tươi xanh, lâu bền cho thơ Bằng Việt. Đặc điểm này thể hiện ở các  
yếu tố: cách sử dụng từ ngữ sống động; sử dụng biện pháp so sánh,  
nhân hóa sáng tạo và cách sử dụng các cặp từ- mệnh đề tương phản.  
Với lớp ngôn ngữ trong sáng, mượt mà được dùng một cách tự  
nhiên, phù hợp với đường nét vốn có của sự vật, hiện tượng đã đem  
đến cái tươi non, cái nhựa sống trong những bài thơ viết về đất nước,  
con người và cả chính mình của nhà thơ Bằng Việt.  
Dùng từ láy chỉ tâm trạng, sử dụng biện pháp so sánh, nhân  
hóa khi ghi lại những sắc thái tình cảm, những rung động xốn xang  
trước sức sống kì diệu của sự sống và cách đặt mệnh đề tương phản ở  
nhan đề, trong câu thơ, ý thơ nhằm chuyển tải tư tưởng bài thơ là một  
phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình và chính luận trong thơ Bằng  
Việt.  
Như vậy, sử dụng từ ngữ nhẹ nhàng, hài hòa với màu sắc  
đường nét của sự vật hiện tượng đến, cách đặt các mệnh đề đối lập  
trong mối quan hệ tương quan đến các biện pháp tu từ đã làm nên sắc  
thái ngôn ngữ thơ Bằng Việt trong sáng, nhẹ nhàng, lắng sâu, thấm  
đẫm chất trữ tình.  
3.2.2. Sự tiếp nhận yếu tố tự sự vào thơ  
Sử dụng ngôn ngữ cụ thể, chân xác, sống động của chính  
đời sống làm ngôn ngữ thơ là một đặc điểm trong ngôn ngữ thơ  
Bằng Việt. Không chỉ viết về hiện thực chiến trường nóng bỏng ác  
liệt mà sau chiến tranh, để phản ánh cuộc sống khó khăn và sự thay  
đổi nhiều giá trị trong đời sống, nhà thơ cũng dùng lớp ngôn ngữ này.  
Ngôn ngữ đời thường đã đưa Bằng Việt về gần hơn với cuộc sống,  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 20920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ Bằng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_cai_toi_tru_tinh_trong_tho_bang_viet.pdf