Tóm tắt Luận án Phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hoá trong bối cảnh biến đổi khí hậu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ  
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN  
PHẠM THỊ DIỆU LINH  
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG  
TỈNH THANH HOÁ TRONG BỐI CẢNH  
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển  
Mã số  
: 9310105  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ  
HÀ NỘI, 2021  
Công trình được hoàn thành tại:  
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN  
Người hướng dẫn khoa học:  
1. GS. TS NGÔ THẮNG LỢI  
2. TS. TRẦN HỒNG QUANG  
Phản biện 1: .......................................................  
Phản biện 2: .......................................................  
Phản biện 3: .......................................................  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án  
cấp cơ sở họp tại Viện Chiến lược phát triển  
Vào hồi: ngày tháng năm 2021  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Quốc gia  
- Thư viện Viện Chiến lược phát triển  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Ở các tỉnh của Việt Nam cũng như ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng,  
tuy chính quyền các cấp đã quan tâm đến phát triển nông nghiệp bền  
vững, theo đó đã triển khai rất nhiều chương trình, đề án phát triển  
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thực thi nhiều giải pháp ứng  
phó với biến đổi khí hậu… nhưng nông nghiệp vẫn bị thiệt hại lớn  
từ biến đổi khí hậu, từ dịch bệnh gia súc, gia cầm… Cho đến nay  
thành tựu về phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến  
đổi khí hậu ở các tỉnh đang đạt được ở mức hạn chế (lúc thì dư thừa  
thanh long, dưa hấu, chuối; lúc thì thiếu thịt lợn, thiệt hại do thiên tai  
và dịch bệnh xảy ra ở khắp các nơi. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng  
phải kể đến việc lúng túng trong thực tiễn vì còn nhiều vấn đề lý luận  
về phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu  
chưa được làm rõ; các nơi lúng túng khi hoạch định chính sách và  
tìm giải pháp để nông nghiệp phát triển bền vững.  
Thanh Hóa có tiềm năng phát triển nông sản hàng hóa đa dạng và  
với khối lượng lớn nhưng sản xuất nông nghiệp đang còn ít nông sản  
hàng hóa, sản xuất chưa có hiệu quả và chưa bền vững. Thanh Hóa có  
địa hình, điều kiện tự nhiên có nhiều nét giống như đối với cả nước và  
giống nhiều tỉnh như có biển, đồng bằng, trung du miền núi.  
Việt Nam có 28 tỉnh ven biển, trong đó có nhiều địa phương giống  
như Thanh Hóa. Nếu nghiên cứu thành công vấn đề phát triển nông  
nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa thì  
có thể tham khảo cho những tỉnh có điều kiện tương đồng dọc ven biển  
của nước ta từ Quảng Ninh vào tới Bình Thuận.  
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Phát triển nông  
nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu”  
làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển  
với mong muốn góp phần làm rõ thêm những vấn đề cần thiết để phát  
triển nông nghiệp bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của  
tỉnh này một cách có hiệu quả.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững  
tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu đến năm 2025 một  
cách có căn cứ khoa học.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
2
Để đạt được mục tiêu đề ra luận án phải bám sát ba từ khóa: Phát  
triển nông nghiệp bền vững, tỉnh Thanh Hoá, bối cảnh biến đổi khí  
hậu. Tỉnh Thanh Hóa là địa bàn nghiên cứu và thực hiện thành công  
những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:  
(1). Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp  
bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu đối với một tỉnh, tạo cơ sở  
lý thuyết phục vụ nghiên cứu luận án. Đối với nhiệm vụ này phải làm  
sáng tỏ vấn đề cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là gì?  
(2). Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh  
Thanh Hóa trong giai đoạn 2011 - 2019 (nhiệm vụ này phải làm rõ mặt  
được, mặt chưa được và nguyên nhân của những thành công, hạn chế  
trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến  
đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là gì. Đồng thời cần phân tích  
rõ cơ quan quản lý nhà nước đã làm gì để phát triển nông nghiệp bền  
vững tỉnh Thanh hóa).  
(3). Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp bền  
vững tỉnh Thanh Hóa đến 2025 trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Nhiệm  
vụ này cần xác định các giải pháp gì cần thực thi để phát triển nông  
nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa.  
3. Khung nghiên cứu  
Khung nghiên cứu cho biết quy trình các bước cùng nội dung  
nghiên cứu phát triển bền vững nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi  
khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa.  
1.Tổng quan  
3.Nghiên cứu các yếu tố  
ảnh hưởng đến PTNNBV  
trong bối cảnh BĐKH trên  
địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
2. Nghiên cứu lý  
thuyết và khảo cứu  
5.Nghiên cứu định  
kinh nghiệm thực  
hướng và giải pháp  
tiễn về PTNNBV  
4.Nghiên cứu thực  
trạng PTNNBV  
trong bối cảnh  
PTNNBV trong bối  
cảnh BĐKH trên địa  
bàn tỉnh Thanh Hóa  
đến 2025  
trong bối cảnh  
BĐKH, toàn cầu  
hóa, cách mạng  
công nghiệp 4.0  
BĐKH trên địa bàn  
tỉnh Thanh Hóa  
Hình 1.1: Sơ đồ Khung nghiên cứu của luận án  
3
Ghi chú: PTNNBV: Phát triển nông nghiệp bền vững; BĐKH: biến  
đổi khí hậu;  
Giải thích:  
Mối quan hệ chi phối;  
Mối quan hệ tương tác  
4. Quan điểm, phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  
4.1. Quan điểm chỉ đạo nghiên cứu  
Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả tuân thủ các quan điểm  
chỉ đạo chủ yếu sau đây:  
Bám sát tư tưởng, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của  
chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình đi tìm bản chất của phát triển  
nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa  
tác giả bám sát tư tưởng phát triển vì người dân, do người dân của Chủ  
tịch Hồ Chí Minh và bám sát quan điểm phát triển kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng cộng sản Việt Nam.  
Quán triệt quan điểm đổi mới và phát triển bền vững của Đảng và  
Nhà nước đối với nông nghiệp. Trong nhiều văn kiện Đảng cộng sản  
Việt Nam khẳng định phát triển bền vững vừa là mục tiêu vừa là phương  
cách để đạt mục tiêu kinh tế - xã hội trong cả trước mắt và lâu dài.  
Tuân thủ quan điểm phát triển tổng hợp lãnh thổ, không tách rời  
phát triển nông nghiệp với phát triển các ngành khác. Phát triển nông  
nghiệp bền vững phải coi trọng tổ chức sản xuất tiên tiến.  
4.2. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu  
Tác giả tiếp cận đề tài nghiên cứu theo các hướng chính:  
Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận nông nghiệp với tư cách là một hệ  
thống, xem xét các mặt, các khía cạnh của sự phát triển nông nghiệp  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Không xem nông nghiệp như một hệ  
thống tự thân mà phải xem nông nghiệp như một hệ thống luôn luôn  
vận động và phát triển trong mối quan hệ tương tác chặt chẽ với các  
ngành khác.  
Tiếp cận từ lý thuyết đến thực tiễn: từ nghiên cứu lý thuyết đến phân  
tích thực tiễn phát triển nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trên  
cơ sở làm rõ những vấn đề lý thuyết tác giả tiến hành phân tích thực trạng,  
đề xuất định hướng rồi đi đến xác định giải pháp phát triển nông nghiệp  
bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.  
Tiếp cận liên ngành - liên vùng: Nông nghiệp quan hệ tương tác  
với các ngành khác như với công nghiệp, dịch vụ, tiêu dùng, xuất khẩu  
4
nên việc nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp phải cùng xem xét với  
sự phát triển dân số, thị trường, công nghiệp chế biến nông sản, cung  
cấp vật tư nông nghiệp.... Nông nghiệp của Thanh Hóa có quan hệ mật  
thiết với nông nghiệp của các tỉnh khác mà không thể khép kín trong  
một địa phương. Vì thế, xem xét sự phát triển nông nghiệp của Thanh  
Hóa phải cùng xem xét sự phát triển nông nghiệp của các địa phương  
khác trong quan hệ cạnh tranh.  
Tiếp cận theo nguyên lý nhân - quả: Theo lý thuyết mỗi kết quả có  
nguyên nhân của nó, trong quá trình phân tích phát triển nông nghiệp  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ tìm ra các nguyên nhân làm cho  
nông nghiệp của Thanh Hóa phát triển chưa được như mong muốn.  
4.3. Phương pháp nghiên cứu  
Để hoàn thành luận án, tác giả sử dụng phổ biến các phương pháp  
chủ yếu như:  
Phương pháp phân tích hệ thống: được sử dụng để phân tích nông  
nghiệp như một hệ thống kinh tế - kỹ thuật, và đến lượt nó thì phân  
tích nông nghiệp như một bộ phận của nền kinh tế của tỉnh Thanh Hóa.  
Khi xây dựng bộ chỉ tiêu phân tích kết quả và hiệu quả đối với phát  
triển nông nghiệp thì mỗi chỉ tiêu được xem xét dưới góc độ nó phản  
ánh một mặt của phát triển nông nghiệp.  
Phương pháp phân tích thống kê: sử dụng để phân tích hiện trạng  
và dự báo định lượng về tương lai phát triển nông nghiệp. Trong khi  
sử dụng phương pháp phân tích thống kê, tác giả kết hợp sử dụng các  
phương pháp bản đồ, biểu bảng và đồ thị: được sử dụng để trợ giúp  
trong quá trình phân tích và đưa ra những kết luận hay nhận định nào  
đó. Các biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ giúp minh chứng cho các nhận định  
trong quá trình phân tích các vấn đề cần thiết. Để có số liệu tính toán  
tác giả sẽ phải thu thập thêm số liệu thống kê bằng nhiều cách và xử  
lý thành bộ số liệu tinh phục vụ yêu cầu nghiên cứu.  
Phương pháp chuyên gia: Sử dụng để bổ sung thêm thông tin và  
giúp thẩm định các kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. Tác giả  
luận án đã lập phiếu điều tra để lấy thêm ý kiến của các nhà khoa học,  
các nhà quản lý, chuyên gia chuyên ngành nông nghiệp về các yếu tố  
ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững và xin ý kiến đánh giá  
5
về bộ chỉ tiêu phân tích phát triển nông nghiệp bền vững mà tác giả đã  
đề xuất. Kết quả là tác giả đã thu được 121 ý kiến trả lời.  
Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh các năm với nhau,  
so sánh Thanh Hóa với các đối sánh khác trong quá trình phân tích  
phát triển nông nghiệp Thanh Hóa ở các thời kỳ.  
Phương pháp dự báo: sử dụng để dự báo các chỉ tiêu, mục tiêu và  
định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2025. Mỗi chỉ tiêu/ mục  
tiêu được dự báo theo các biến riêng phù hợp với yêu cầu cụ thể.  
Phân tích theo mô hình toán: Theo quan điểm của tác giả Trần Thọ  
Đạt phương pháp phân tích tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành  
nông nghiệp (cụ thể là phương pháp véc - tơ đề xuất bởi tác giả Moore  
J. vào năm 1978 (trong bài viết “A Measure of Structural Change in  
Output”: xác định cos và ) cho các năm hoặc thời kỳ thuộc giai  
đoạn từ 2010 đến 2019.  
Phương pháp phân tích mô hình SWOT: sử dụng để xác định điểm  
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với các lựa chọn định hướng phát  
triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu.  
Phương pháp điều tra khảo sát: Tác giả không có điều kiện để tiến  
hành điều tra xã hội học (theo cách lập phiếu điều tra và gửi đến các  
đối tượng cần thiết); do đó đã chọn cách khảo sát chuyên gia tại xã  
Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân và tại hợp tác xã Thọ Lâm liên kết với  
Công ty mía đường Lam Sơn trồng dưa Kim Hoàng Hậu, dưa lưới ứng  
dụng công nghệ cao (với diện tích 5.000 m2).  
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp phân nhóm và tổng  
hợp hóa, khái quát hóa các ý kiến của các học giả trong quá trình tổng  
quan các công trình khoa học; đồng thời sử dụng thêm phương pháp  
diễn giải, phương pháp quy nạp trong quá trình phân tích, đánh giá  
thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển nông nghiệp  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở tỉnh Thanh Hóa.  
5. Những đóng góp mới của luận án  
5.1. Về mặt lý luận và học thuật  
Luận án đã chỉ ra bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững ở  
tỉnh trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các yếu tố ảnh hưởng tới phát  
triển nông nghiệp bền vững, kiến nghị phương cách phát triển nông  
6
nghiệp bền vững (hình thành chuỗi giá trị nông sản, tổ hợp nông - công  
nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao…). Đồng thời, xác  
định các chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững trong bối  
cảnh biến đổi khí hậu đối với tỉnh ở Việt Nam.  
5.2. Về mặt thực tiễn  
Luận án cung cấp căn cứ khoa học cho chính quyền tỉnh, huyện, xã  
ở Thanh Hóa trong việc nhìn nhận đúng đắn thực trạng phát triển nông  
nghiệp bền vững, nguyên nhân của những thành công cũng như của  
những hạn chế và có căn cứ khoa học để hoạch định phương hướng  
đến 2025, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hóa  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đồng thời, giúp những người tham  
gia sản xuất nông nghiệp ở tỉnh này có thêm hiểu biết, có thêm thông  
tin cần thiết để cân nhắc tốt hơn việc phát triển cây trồng, vật nuôi gắn  
với các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tiên tiến.  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC  
LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN  
VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
1.1. Tổng quan về phát triển nông nghiệp bền vững  
Có nhiều học giả đề cập nhiều đến phát triển nông nghiệp bền vững  
theo quan điểm chung như phát triển bền vững đối với nền kinh tế mà  
Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa. Đó là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu  
của các thế hệ hiện tại không gây phương hại đến việc thỏa mãn nhu cầu  
của thế hệ tương lai. Một vài học giả đưa ra quan điểm phát triển nông  
nghiệp bền vững phải dựa trên có sở ứng dụng công nghệ cao.  
1.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới phát triển nông nghiệp  
bền vững  
Một số học giả đề cập phát triển nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn  
từ biến đổi khí hậu. Việc phát triển bền vững nông nghiệp không thể  
coi thường ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh biến đổi  
khí hậu xảy ra mạnh và gay gắt đối với Việt Nam thì việc phát triển  
nông nghiệp bền vững nhất thiết phải tính tới biến đổi khí hậu và nước  
biển dâng.  
1.3. Tổng quan đánh giá phát triển bền vững đối với nông nghiệp  
7
Một số ít học giả đề cập vấn đề này và họ cho rằng, đánh giá phát  
triển nông nghiệp bền vững cũng giống như đánh giá phát triển bền  
vững đối với cả nền kinh tế hoặc có học giả đề cập phát triển bền vững  
đối với một số cây trồng cụ thể.  
Từ những kết quả tổng quan, tác giả luận án rút ra những nhận định  
quan trọng sau đây:  
1.3.1. Những điểm có thể kế thừa cho việc nghiên cứu của luận án  
Tư tưởng và quan điểm về phát triển bền vững nói chung mà nội  
hàm cơ bản của nó là phát triển có sự bền vững trong quá trình diễn  
ra. Một số cơ quan chính phủ đã đưa ra bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển  
bền vững đối với nền kinh tế quốc gia. Tuy chưa phải là các chỉ tiêu  
đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững nhưng trong số đó có chỉ  
tiêu có thể tham khảo tốt cho luận án, cụ thể như năng suất lao động,  
GDP/ người, mức độ ổn định kinh tế vĩ mô.  
Sự phát triển bền vững của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố,  
trong đó các học giả đã chỉ ra như yếu tố thị trường, công nghệ, nhân  
lực. Đồng thời, họ đã chỉ ra bản chất của phát triển bền vững đối với  
nền kinh tế là sự phát triển ổn định, có hiệu quả và có khả năng thích  
ứng với bên ngoài. Đó là tư tưởng, quan điểm đúng mà luận án có thể  
tham khảo.  
1.3.2. Những vấn đề luận án sẽ phải đi sâu nghiên cứu  
Qua kết quả tổng quan cho thấy, luận án cần đi sâu nghiên cứu làm  
rõ một số vấn đề quan trọng để làm cơ sở lý luận phục vụ việc nghiên  
cứu của luận án. Đó là những vấn đề chủ yếu sau đây:  
Quan niệm rõ ràng hơn về phát triển nông nghiệp, phát triển nông  
nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu; các yếu tố ảnh hưởng  
đến phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu;  
Ý nghĩa đánh giá và hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá phát  
triển bền vững đối với nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu để  
ứng dụng vào việc nghiên cứu ở Việt Nam.  
CHƯƠNG 2  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP  
BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN  
8
Căn cứ vào kết quả tổng quan và phân tích thực tiễn phát triển nông  
nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam và ở một số nơi,  
chương 2 làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp  
bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và tập trung nghiên cứu  
những nội dung cơ bản dưới đây:  
2.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1. Phát triển nông nghiệp bền vững đối với tỉnh trong bối cảnh  
biến đổi khí hậu  
Tác giả đã làm rõ nội dung, bản chất vấn đề nông nghiệp và phát  
triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chỉ rõ  
khi sản xuất các nông sản chủ lực, các sản phẩm sử dụng công nghệ  
cao có sự phát triển bền vững thì nông nghiệp cũng sẽ có được sự  
phát triển bền vững. Phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh  
biến đổi khí hậu chính là quá trình làm thay đổi về số lượng và chất  
lượng của hệ thống sản xuất nông nghiệp một cách tiến bộ, ổn định  
lâu dài có tính tới các yếu tố biến đổi khí hậu, thị trường và quản lý  
nhà nước đối với nông nghiệp và tổ chức sản xuất nông nghiệp theo  
lãnh thổ.  
2.1.2. Phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi  
khí hậu  
Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu là phát triển nông  
nghiệp có được sự phát triển có hiệu quả, gia tăng hiệu quả với trạng  
thái tương đối ổn định trong thời gian tương đối dài để đem lại nhiều  
lợi ích kinh tế cho cả người sản xuất, người tiêu thụ nông sản, góp  
phần quan trọng cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội (mang lại  
lợi ích cho địa phương) của tỉnh và thông qua đó góp phần phát triển  
bền vững của cả nước.  
Phát triển nông nghiệp bền vững phải dựa trên cơ sở có sự phát  
triển hài hòa, nhịp nhàng, cân đối, thích ứng với thị trường và biến đổi  
khí hậu cùng với phát triển có hiệu quả. Không nhất thiết, không phải  
lúc nào tất cả các lĩnh vực, sản xuất các loại nông sản đều có được sự  
phát triển bền vững nhưng nhất thiết việc sản xuất các sản phẩm chủ  
lực phải được phát triển có hiệu quả, thu được lợi nhuận ổn định.  
9
Bảng 2.1: Các dấu hiệu của phát triển nông nghiệp bền vững  
Dấu hiệu  
Hàm ý nội dung  
1. Hài hòa  
Các phân ngành trong nông nghiệp phát triển trong mối  
quan hệ tương tác mật thiết với nhau.  
Nông nghiệp phát triển cân đối với các ngành khác và lĩnh  
vực khác (nhất là với các lĩnh vực ngoài nông nghiệp).  
Đảm bảo công bằng lợi ích giữa các chủ thể trực tiếp  
tham gia phát triển nông nghiệp.  
2. Nhịp nhàng Các phân ngành nông nghiệp phát triển với tốc độ và quy  
mô phù hợp với nhau và với lĩnh vực công nghiệp chế  
biến nông sản.  
Nông nghiệp phát triển phù hợp với các lĩnh vực sản xuất  
phân bón, vật tư, hóa chất, máy móc thiết bị, nghiên cứu  
khoa học công nghệ nông nghiệp... phục vụ nông nghiệp.  
3. Cân đối  
Phát triển nông nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường  
và các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.  
Đảm bảo quan hệ mật thiết với công nghiệp chế biến.  
4. Thích ứng Phát triển phù hợp với thị trường và với biến đổi khí hậu.  
5. Hiệu quả Đạt được các yêu cầu về lợi ích kinh tế cho những người liên  
quan một cách công bằng, công khai minh bạch.  
Nguồn: Tác giả  
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp bền vững  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu đối với tỉnh  
Tác giả cho rằng, phát triển nông nghiệp bền vững đối với tỉnh phụ  
thuộc vào rất nhiều yếu tố. Mỗi yếu tố có vai trò riêng và có vị trí quan  
trọng khác nhau trong mỗi thời kỳ phát triển. Ở mỗi vùng lãnh thổ cụ  
thể các yếu tố và ảnh hưởng của chúng tới phát triển nông nghiệp bền  
vững không giống nhau. Chẳng hạn, ở vùng ven biển thì xâm nhập  
mặn ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp mạnh hơn, ở khu vực miền  
núi thì lũ lụt, ngập úng về mùa mưa lại ảnh hưởng nhiều hơn tới phát  
triển nông nghiệp. Ở các vùng nam Trung Bộ, Tây Nguyên khô hạn  
về mùa khô ảnh hưởng lớn tới phát triển nông nghiệp... Trong quá  
trình phát triển nông nghiệp, số lượng và vị trí các yếu tố ảnh hưởng  
đến phát triển nông nghiệp sẽ thay đổi.  
Để dễ hình dung các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp  
bền vững, tác giả sơ đồ hóa như hình dưới đây:  
10  
2. Lợi nhuận,  
Thị trường  
1. Các chủ thể  
tham gia  
3. Tổ chức  
SXNN  
6. Yếu tố tự  
nhiên và  
BĐKH  
Phát triển nông  
nghiệp bền  
vững  
5. KCHT  
4. KHCN và  
TT  
Hình 2.1: Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp bền  
vững  
Nguồn: Tác giả  
Ghi chú: NS&VTMM: nông sản và vật tư, máy móc nông nghiệp;  
SXNN: sản xuất nông nghiệp; BĐKH: biến đổi khí hậu; KHCN và TT:  
khoa học công nghệ và thông tin; KCHT: Kết cấu hạ tầng.  
2.1.4. Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh trong bối cảnh  
biến đổi khí hậu  
Sau khi nêu yêu cầu đánh giá, ý nghĩa của việc đánh giá, tác giả  
xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu.  
Các chỉ tiêu phải được xem xét trong trạng thái gia tăng hoặc giảm  
tương đối ổn định trong thời kỳ nghiên cứu. Cụ thể đó là:  
2.1.4.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững đối  
với tỉnh  
(1). Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững theo phương diện  
sản xuất  
Chỉ tiêu 1: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân năm (hay  
tính theo giá trị sản xuất nông nghiệp);  
Chỉ tiêu 2: Năng suất lao động nông nghiệp;  
Chỉ tiêu 3: Năng suất đất nông nghiệp;  
11  
Chỉ tiêu 4: Tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất nông  
nghiệp;  
Chỉ tiêu 5: Tỷ suất hàng hóa nông sản;  
Chỉ tiêu 6: Tỷ lệ thiệt hại do thiên tai;  
Chỉ tiêu 7: Tỷ lệ hộ nông dân nghèo.  
(2). Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững theo phương diện  
tiêu thụ nông sản  
Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng;  
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp tồn kho;  
2.1.4.2. Nhóm chỉ tiêu sử dụng để phân tích nguyên nhân của tình  
trạng phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu  
đối với tỉnh  
Chỉ tiêu 1: Phân tích cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp;  
Chỉ tiêu 2: Phân tích tỷ trọng nông sản chủ lực trong tổng giá trị  
sản xuất nông nghiệp;  
Chỉ tiêu 3: Phân tích tỷ trọng sản phẩm nông sản ứng dụng công  
nghệ cao trong tổng giá trị sản lượng nông nghiệp;  
Chỉ tiêu 4: Phân tích cơ cấu đầu tư phát triển nông nghiệp;  
Chỉ tiêu 5: Phân tích cơ cấu lao độnglàm việc trong ngành nông nghiệp;  
Ngoài 5 chỉ tiêu nêu trên, trong thực tế còn phải đánh giá mức độ  
đúng/ sai của chính sách nhà nước đối với phát triển nông nghiệp.  
Đánh giá chính sách nông nghiệp thông qua kết quả, hiệu quả phát  
triển nông nghiệp cũng như thông qua phản biện của người dân (nhất  
là của người nông dân và của doanh nghiệp).  
2.2. Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững  
trong bối cảnh biến đổi khí hậu  
Tác giả tổng quan kinh nghiệm thực tiễn phát triển nông nghiệp  
bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam và một số nơi  
trên thế giới rồi rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa để xây  
dựng định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững trong  
bối cảnh biến đổi khí hậu. Cụ thể là:  
Phát triển nông nghiệp bền vững là hướng đi đúng đắn để làm giàu  
cho nông dân và góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc gia,  
nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và thế giới đang đứng  
12  
trước nguy cơ mất an ninh lương thực, thực phẩm đi kèm theo thiếu  
nước và năng lượng.  
Phát triển nông nghiệp bền vững phải đặc biệt chú ý đến tiềm năng,  
lợi thế về tài nguyên đất, nước cũng như phải chú ý đến biến đổi khí  
hậu và tiến bộ khoa học công nghệ. Trong quá trình phát triển nông  
nghiệp phải coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp chứ không chỉ ham mê  
công nghiệp hóa giản đơn.  
Phát triển nông nghiệp bền vững phải coi trọng yếu tố toàn cầu hóa,  
nhất là toàn cầu hóa về chất lượng nông sản và công nghệ canh tác và  
chế biến nông sản. Khi phân tích yếu tố toàn cầu hóa phải gắn với yếu  
tố thị trường nông sản (nhất là nhu cầu xuất khẩu tại chỗ và nhu cầu  
nông sản của các thành phố, khu công nghiệp).  
Thành bại của công cuộc phát triển nông nghiệp bền vững phải do  
sự quyết tâm của cả Nhà nước, chính quyền tỉnh và các “nhà” có liên  
quan. Đối với nhà nước hay chính quyền tỉnh nếu chỉ sử dụng mệnh  
lệnh hành chính hoặc hô hào chung chung thì không thể phát triển bền  
vững nền nông nghiệp ở cấp quốc gia cũng như ở cấp địa phương. Giai  
đoạn đầu phát triển, thậm chí ở giai đoạn chuẩn bị bứt tốc Nhà nước  
có vai trò quan trọng hàng đầu đối với phát triển nông nghiệp bền  
vững. Nhà nước cần dành đầu tư thích đáng hỗ trợ cho việc nghiên  
cứu tạo giống, nghiên cứu quy trình và công nghệ canh tác, chế biến,  
xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp cũng như có chính sách khuyến  
khích thỏa đáng để phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực và xuất khẩu.  
CHƯƠNG 3  
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG  
TỈNH THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2019  
3.1. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp bền  
vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu của tỉnh Thanh Hóa  
3.1.1. Các chủ thể tham gia sản xuất nông nghiệp  
Ở tỉnh Thanh Hoá cũng như các tỉnh khác, tham gia phát triển nông  
nghiệp đều có các chủ thể: chính quyền các cấp, người nông nhân, nhà  
công nghiệp chế biến, nhà khoa học, ngân hàng, bảo hiểm.  
Chính quyền các cấp ở tỉnh Thanh Hoá đã chú ý đến phát triển nông  
nghiệp. Họ cụ thể hoá luật pháp và chính sách về phát triển nông  
13  
nghiệp của nhà nước đồng thời ban hành các chủ trương và giải pháp  
đặc thù để phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Trong  
đó nổi bật là các cấp chính quyền đã triển khai quy hoạch phát triển  
nông nghiệp đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh nói chung và trên địa bàn  
huyện xã nói riêng.  
Chính quyền các cấp đã chú ý đến tích tụ ruộng đất để phát triển  
nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, vì thiếu các chính sách cụ thể nên  
chưa thu hút được doanh nghiệp đầu tư và lĩnh vực nông nghiệp ứng  
dụng công nghệ cao. Mặt khác, chính quyền các cấp chưa đưa ra định  
hướng thị trường và hướng dẫn tổ chức sản xuất nông nghiệp một cách  
khoa học nên nhìn chung sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu là phát  
triển truyền thống. Do đó năng suất và chất lượng chưa cao.  
Người nông dân vừa thiếu thông tin vừa thiếu kiến thức về khoa  
học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lại thiếu thông tin  
về thị trường nên đang trong tình trạng tự phát vẫn là chủ yếu.  
Các nhà khoa học, ngân hàng, bảo hiểm, các nhà phân phối chưa  
gắn bó chặt chẽ với người nông dân.  
3.1.2. Lợi nhuận và thị trường  
Trong những năm vừa qua, đây là yếu tố còn tương đối mờ nhạt trong  
quá trình nhận thức phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thanh Hoá.  
Các cơ quan chính quyền chưa tổ chức nghiên cứu vấn đề lợi nhuận và  
thị trường để cung cấp thêm thông tin cho người nông dân. Người nông  
dân thì loay hoay và tự phát tìm kiếm lợi nhuận và thị trường nên họ gặp  
nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nông sản hàng hoá. Tuy nhiên, càng  
ngày vấn đề lợi nhuận và thị trường càng trở nên như các yếu tố quyết  
định đến phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hoá.  
3.1.3. Tổ chức sản xuất nông nghiệp  
Đây là lĩnh vực còn tương đối yếu của tỉnh Thanh Hoá. Tuy đã xuất  
hiện một số hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tiên tiến như: nông  
nghiệp ứng dụng công nghệ cao (trồng dưa lưới, dưa kim hoàng hậu,  
…) nhưng đang ở quy mô nhỏ chưa có nhiều tác động đến phát triển  
nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thanh Hoá.  
3.1.4. Khoa học Công nghệ và thông tin  
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá khoa học công nghệ nông nghiệp tuy  
đã được chú ý nhưng mới phát triển ở một số nơi, ví dụ công ty mía  
14  
đường Lam Sơn, ở một số trang trại phát triển nông sản hàng hoá  
nhưng đang còn trong tình trạng nhỏ và phân tán. Khoa học công nghệ  
và thông tin chưa trở thành yếu tố mang tính quyết định đối với người  
nông dân như ở Lâm Đồng, Sơn La, Bắc Giang…  
3.1.5. Kết cấu hạ tầng  
Đây là yếu tố đã được tỉnh, huyện, xã chú trọng nên phát triển khá  
tốt. Mạng lưới đường giao thông kết nối từ các khu sản xuất nông sản  
hàng hoá tới trung tâm tỉnh lị và các khu du lịch ven biển đã được hình  
thành. Song về kết cấu hạ tầng viễn thông, hệ thống chợ nông sản, sàn  
nông sản thì chưa được phát triển ở mức cần thiết.  
3.1.6. Các yếu tố tự nhiên và biến đổi khí hậu  
Tài nguyên đất nông nghiệp tuy nhiều nhưng phần lớn diện tích đất  
nông nghiệp thuộc loại ít màu mỡ. Diện tích đất sử dụng cho nông  
nghiệp khoảng 26,8 vạn ha, chiếm khoảng 22% diện tích đất tự nhiên  
của tỉnh. Trong tổng diện tích đang và sẽ sử dụng cho phát triển nông  
nghiệp thì diện tích đất dốc và đất bạc màu ven biển có tới khoảng 7  
vạn ha (chiếm khoảng 27% so tổng diện tích đất nông nghiệp); đất cát  
ven biển chiếm khoảng 19%. Quỹ đất nông nghiệp thuận lợi cho phát  
triển nông nghiệp chỉ có khoảng 73%.  
Cũng như các tỉnh ở Bắc Trung Bộ, ở tỉnh Thanh Hoá biến đổi khí  
hậu ngày càng phức tạp và gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời  
sống. Tình trạng xâm nhập mặn gia tăng. Năm 2019 xâm nhập mặn đã  
vào sâu tới khoảng 30km, diện tích bị ảnh hưởng từ xâm nhập mặn có  
khoảng 11 nghìn ha.  
3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thanh Hóa  
3.2.1. Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá  
giai đoạn 2011 - 2019  
Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa chưa có  
những đổi mới mạnh mẽ, phát triển chậm, kỹ thuật và công nghệ mới  
chưa được phát triển mạnh nên về cơ bản nền nông nghiệp của Thanh  
Hóa phát triển chưa bền vững. Trong thời gian vừa qua lại bị ảnh  
hưởng xấu từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng nên chưa có những  
biến chuyển rõ nét. Thanh Hóa có khoảng 3,4 triệu dân và tiếp đón  
khoảng 5-6 triệu khách du lịch hàng năm nên có nhu cầu lớn về nông  
15  
sản thực phẩm, nhất là nông sản thực phẩm sạch, chất lượng cao. Riêng  
khách du lịch nước ngoài đã có khoảng hơn 1 triệu người (con số này  
còn tăng trong những năm tới). Nếu có biện pháp nâng cao chất lượng  
phát triển của nông nghiệp thì Thanh Hóa không những đáp ứng được  
nhu cầu to lớn đó mà còn có thể xuất khẩu tại chỗ với quy mô lớn  
(phục vụ khách du lịch quốc tế).  
3.2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thanh Hóa  
Theo công thức tính toán các chỉ tiêu đã trình bày ở chương 2 và  
trên cơ sở số liệu thu thập được tác giả tiến hành phân tích thực trạng  
phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thanh Hóa. Nhìn chung nông  
nghiệp tỉnh Thanh Hóa có bước phát triển nhưng hiệu quả đang ở mức  
thấp và chưa có được sự bền vững cần thiết. Điều đó thể hiện ở những  
dấu hiệu chủ yếu dưới đây:  
3.2.2.1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp  
Giai đoạn 2016-2019 tốc độ tăng GTGT nông nghiệp chỉ khoảng  
3,3%/ năm (của giai đoạn trước đạt khoảng 4,1%/ năm). Tốc độ tăng  
trưởng nông nghiệp ngay trong những năm có sự phát triển tương đối  
ổn định (không bị ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt, ngập úng) thì mức  
gia tăng nông nghiệp cũng chỉ được khoảng 0,03 điểm %/ năm.  
3.2.2.2. Năng suất lao động nông nghiệp  
Năng suất lao động nông nghiệp thấp, tăng chậm. Tốc độ tăng  
năng suất lao động nông nghiệp trong giai đoạn 2015-2019 giảm so  
với giai đoạn 2011-2015 (chỉ tăng khoảng 3,2%/ năm so với mức  
khoảng 4,5%/ năm trước đó). Cũng vì thế mà khả năng cạnh tranh của  
nông sản hàng hóa thấp. Nhìn chung nông sản hàng hóa của tỉnh Thanh  
Hóa chưa có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước.  
3.2.2.3. Năng suất đất nông nghiệp  
Năng suất đất nông nghiệp tuy có tăng về số tuyệt đối, từ mức  
khoảng 38,2 triệu đồng lên khoảng 45,1 triệu đồng (giá 2010). Song  
tốc độ tăng thì giảm, từ mức khoảng 3,1%/ năm trong giai đoạn 2011-  
2015 xuống khoảng 1,7%/ năm ở giai đoạn 2016-2019.  
3.2.2.4. Tỷ suất nông sản hàng hóa  
Nhìn chung cho đến 2019, tỷ suất hàng hóa nông sản của tỉnh  
Thanh Hóa đang ở mức thấp (chỉ đạt khoảng 15%) và hầu như không  
tăng; đó cũng là nguyên nhân góp phần làm cho thu nhập của người  
16  
nông dân thấp và bị hạn chế. Điểm này cho thấy sức cạnh tranh của  
nông sản của tỉnh Thanh Hóa nhìn chung đang còn thấp.  
3.2.2.5. Tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp  
Theo số liệu thống kê của tỉnh Thanh Hóa thì chỉ số này đạt khoảng  
43-44% và có xu thế không tăng trong giai đoạn 2016-2019. Tốc độ  
tăng giá trị gia tăng nông nghiệp giảm từ 3.2%/ 1 năm (giai đoạn 2011-  
2015) xuống còn 3.1%/ 1 năm (giai đoạn 2016-2019). Đây có thể xem  
là mức thấp. Tuy nhiên theo tác giả thì chỉ số này có lẽ bị nhiễu bởi  
một số yếu tố như giá trị của đất, tiền chi cho việc lấy nước tưới tính  
chưa hết phần giá trị đích thực của nước tưới cho sản xuất nông nghiệp  
mà mới tính cho phần chi phí của việc bơm nước. Đồng thời việc gây  
ô nhiễm môi trường đất do bón phân hóa học và sử dụng thuốc trừ sâu  
cũng chưa được tính toán vào giá thành của sản xuất nông nghiệp...  
Nếu tính toán hết những khoản đó vào thì giá thành nông sản của tỉnh  
này sẽ cao hơn và tổng giá trị gia tăng sẽ ít đi nhiều. Khi đó tỷ trọng  
giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng sẽ thấp đi.  
3.2.2.6. Tỷ lệ hộ nông dân nghèo  
Trong giai đoạn 2011 - 2019 tỷ lệ hộ nông dân nghèo giảm tương  
đối rõ (từ mức 16,4% xuống còn khoảng 6-7%) nhưng thực tế thu nhập  
của người nông dân thông qua chỉ tiêu giá trị gia tăng nông nghiệp  
bình quân đầu người tăng chưa nhiều, bình quân chỉ khoảng 2,9%/  
năm. Về lý thuyết nếu GDP tăng 4% và dân số tăng khoảng 1% thì đời  
sống ít được cải thiện. Đối với Thanh Hóa, trong khi dân số nông  
nghiệp tăng khoảng 1,2% và GTGT nông nghiệp tăng khoảng 3,1%  
thì có thể xem đời sống của người nông dân cũng ít được cải thiện.  
3.2.2.7. Tỷ lệ thiệt hại do thiên tai  
Với số liệu có được, nếu so với tổng GRDP thì thiệt hại hàng năm  
do thiên tai cũng chiếm khoảng 0,9%. (Con số này thấp hơn chút đỉnh  
so mức trung bình của cả nước 0,98%) nhưng ở Thanh Hóa lại tập  
trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, đời sống của người dân thấp.  
Đồng thời, tuy chưa có số liệu phản ánh về sự sụt giảm năng suất cây  
trồng, sản lượng con vật nuôi do thiếu nước, xâm nhập mặn về mùa  
khô và thiệt hại do ngập lụt về mùa mưa bão nhưng qua làm việc với  
nhiều người nông dân và các nhà quản lý ở nhiều xã thì mức thiệt hại  
17  
đó cũng không phải là nhỏ, có thể nhiều hơn mức thiệt hại do thiên tai  
mà cơ quan chức năng của tỉnh đo đếm được.  
3.2.3. Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững theo phương diện  
sản xuất và tiêu thụ nông sản  
Ở góc độ xem xét hai phương diện sản xuất và tiêu thụ nông sản  
tác giả tập trung làm rõ những điểm cụ thể dưới đây:  
3.2.3.1. Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững theo phương diện  
sản xuất nông sản  
Sản xuất có bước phát triển nhưng vẫn chưa bền vững. GTGT  
chiếm tỷ trọng trong tổng GTSX chưa lớn. Điều đó chứng tỏ hiệu quả  
phát triển nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa chưa cao và vì thế phát triển  
bền vững đạt được ở mức hạn chế.  
Cũng theo khảo sát của tác giả, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phổ  
biến phát triển nông nghiệp theo kiểu truyền thống có hiệu quả nhìn  
chung thấp và tác động nhiều đến môi trường theo chiều hướng tiêu  
cực. Doanh thu trung bình trên mỗi ha đất trồng trọt của huyện Thọ  
Xuân và huyện Thiệu Hóa chỉ đạt trung bình khoảng 60 - 62 triệu  
đồng/ năm (tỷ lệ lợi nhuận rất thấp, chỉ vào khoảng 3-5% so doanh  
thu. Điều đó chỉ ra rằng, đối với tỉnh Thanh Hóa phát triển nông nghiệp  
ứng dụng công nghệ cao đem lại hiệu quả cao hơn hẳn kiểu phát triển  
nông nghiệp như lâu nay và là phương cách để có được phát triển bền  
vững đối với nông nghiệp của tỉnh.  
Ở góc độ ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp ở Thanh  
Hóa tuy chưa có thống kê cụ thể nhưng qua khảo sát thực tế tác giả  
thấy cũng có vấn đề lớn cần có giải pháp khắc chế. Năm 2019, để phát  
triển 310 nghìn ha gieo trồng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã sử dụng  
khoảng 63 nghìn tấn phân đạm, 36 nghìn tấn phân lân, kali và khoảng  
72 vạn lít thuốc trừ sâu. Chỉ tính khoảng 10% số hóa chất dư thừa  
nhiễm vào đất và ngước ngầm thì khối lượng hóa chất nhiễm vào đất  
làm ô nhiễm đất và chảy vào các nguồn nước gây ô nhiễm nguồn nước  
là khá lớn. Tuy chưa tính toán được một cách cụ thể nhưng tác động  
là tương đối lớn vào môi trường sống. Đồng thời, hàng năm trên địa  
bàn tỉnh nuôi khoảng 83-85 vạn con lợn, 19-20 vạn con trâu, 25-26  
vạn con bò chúng thải ra môi trường khoảng 8-10 vạn tấn phân, 4-5  
vạn tấn chất thải lỏng và hầu hết số phân và nước thải này chưa được  
18  
xử lý nên cũng gây ô nhiễm môi trường rất đáng kể. Các lò giết mổ  
gia súc, gia cầm thải ra môi trường một lượng chất bẩn cũng tương đối  
lớn (nước thải bẩn và chất thải động vật). Đồng thời, tại các chợ khu  
bán cá, thịt cũng thải ra môi trường rất nhiều chất bẩn chưa được xử  
lý. Tất cả những điều vừa nêu ảnh hưởng xấu tới phát triển bền vững  
môi trường sống trên địa bàn tỉnh.  
3.2.3.2. Đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững theo phương diện  
tiêu thụ nông sản  
Trong điều kiện internet kết nối vạn vật, toàn cầu hóa phát triển  
mạnh mẽ, kinh tế số phát triển mạnh mẽ thì vấn đề nhập hoặc xuất  
nông sản phải dựa trên khả năng cạnh tranh, lợi nhuận thu được trong  
cạnh tranh. Tuy nhiên trong những năm vừa qua với điều kiện quy mô  
dân số khoảng 3,6 triệu người, việc giải quyết nhu cầu nông sản tại  
chỗ vẫn rất quan trọng đối với Thanh Hóa. Do đó việc phân tích phát  
triển nông nghiệp bền vững từ góc độ tiêu thụ nông sản cũng có ý  
nghĩa quan trọng. Các chỉ tiêu phản ánh bền vững về tiêu thụ nông sản  
cho thấy, tiêu thụ nông sản của tỉnh Thanh Hóa đang còn tương đối  
thấp và chưa thật ổn định. Chỉ có đường mía và gạo là có hàng hoá  
còn các nông sản khác đều chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nội  
tỉnh. Điều này cho thấy nông sản hàng hóa tiêu thụ tại thị trường trong  
tỉnh vẫn là chủ yếu.  
CHƯƠNG 4  
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP  
BỀN VỮNG TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2025  
4.1. Định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2025  
4.1.1. Dự báo các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển nông  
nghiệp theo hướng bền vững trong những năm tới  
4.1.1.1. Dự báo thị trường nông sản đối với tỉnh Thanh Hóa  
Dự báo khả năng tham gia thị trường nông sản là vấn đề khó nhưng  
phải làm. Vì đây là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng  
phương án phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa. Trên cơ sở  
tham khảo các chuyên gia nông nghiệp ở trung ương và ở địa phương  
cùng sự giúp đỡ của một số cán bộ của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh  
Thanh Hóa, tác giả dự báo nhu cầu nông sản mà tỉnh Thanh Hóa có  
thể tham gia cung cấp. Con số tính toán chỉ ra rằng, triển vọng thị  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 16360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hoá trong bối cảnh biến đổi khí hậu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_phat_trien_nong_nghiep_ben_vung_tinh_thanh_h.pdf