Tóm tắt Luận án Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH  
BỘ TÀI CHÍNH  
LÊ THỊ MAI ANH  
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT  
KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng  
Mã số: 09.34.02.01  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ  
HÀ NỘI – 2019  
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Tài chính  
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS,TS. Ngô Trí Long  
2. PGS,TS. Phạm Thị Thanh Hoà  
Phản biện 1: ………………………………………………………  
………………………………………………………..  
Phản biện 2: ………………………………………………………  
………………………………………………………..  
Phản biện 3: ………………………………………………………  
………………………………………………………..  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại  
Học viện Tài chính  
vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm 20….  
Có thể tìm hiểu Luận án tại:  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;  
- Thư viện Học viện Tài chính.  
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu  
Trong hoạt động xuất khẩu của nước ta hiện nay, thủy sản là một trong những  
sản phẩm xuất khẩu chủ lực, với vị trí thứ 4 trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu  
chính sau dầu thô, dệt may và giày dép. Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn,  
tận dụng được điều kiện tự nhiên xã hội đất nước, hoạt động xuất khẩu thuỷ sản  
đã có sự phát triển to lớn, hàng năm đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn  
phục vụ tái đầu tư thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Có được  
những thành tựu đó là nhờ sự góp phần của các chính sách tài chính của Chính  
phủ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản . Tuy nhiên, hiện  
nay một số chính sách tài chính đang tồn tại một số hạn chế như: hệ thống chính  
sách chưa phát triển kịp tiến trình hội nhập chung, các chính sách hỗ trợ tuy nhiều  
nhưng chưa nhất quán, và chưa hiệu quả. Vì vậy, thật cần thiết phải có một nghiên  
cứu tổng thể đánh giá các chính sách tài chính hiện tại, từ đó có được các chính  
sách khuyến khích hỗ trợ phù hợp để khai thác lợi thế và khắc phục hạn chế nhằm  
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam. Nếu các  
chính sách tài chính này được nghiên cứu đầy đủ sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu cho  
các nhà tạo lập chính sách điều chỉnh hệ thống chính sách hiện hành, ban hành  
các chính sách mới phù hợp, giúp các doanh nghiệp thuỷ sản có thể phát huy được  
lợi thế, chủ động hội nhập, hướng đến xuất khẩu bền vững. Trước thực tiễn đó,  
việc nghiên cứu các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản nước ta một cách bền vững mà không vi phạm các cam  
kết quốc tế là hoàn toàn cấp thiết. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn:  
“Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận án.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án  
Tác giả chọn lọc và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước mà  
luận án có so sánh, kế thừa và phát triển theo 2 nhóm:  
- Một là nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu của các  
doanh nghiệp thuỷ sản: Lĩnh vực thuỷ sản đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài  
nước đề cập trên nhiều quan điểm, theo nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau, từ  
khía cạnh khoa học kỹ thuật đối với tạo giống mới, đến các khâu khai thác, nuôi  
trồng, chế biến, và xuất khẩu thuỷ sản. Đối với các nghiên cứu nước ngoài, đa  
phần các nghiên cứu của FAO, UNCTAD chủ yếu thông kê dữ liệu hoạt động  
khai thác và xuất khẩu thuỷ sản thế giới. Một số các nghiên cứu khác thì khẳng  
định tầm quan trọng của việc bảo vệ các nguồn lợi thuỷ hải sản, chú trọng phát  
triển nguồn cung thuỷ sản bền vững. Đối với các nghiên cứu trong nước, nhiều tác  
giả quan tâm chú ý tới nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh  
tranh và các giải pháp thúc đẩy thương mại xuất khẩu thuỷ sản. Tuy nhiên, hiện  
nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của các DN  
thuỷ sản Việt Nam theo chuỗi giá trị.  
- Hai là nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách tài chính nhằm thúc  
đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản: Các công trình nghiên  
cứu về chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thuỷ sản còn hạn chế. Phần lớn các nghiên cứu ở nước ngoài thiên về các  
hoạt động bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên biển, các chính sách khuyến khích phát  
triển thuỷ sản bền vững và đưa ra một số các thống kê về vốn đầu tư của một số  
quốc gia cho ngành thuỷ sản phục vụ xuất khẩu, cũng như đánh giá mối quan hệ  
giữa trợ cấp của chính phủ đối với ngành thuỷ sản. Trong khi đó, các công trình  
nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu xây dựng các giải pháp để thúc đẩy phát triển  
ngành thuỷ sản theo các lĩnh vực khác nhau như khai thác, nuôi trồng, chế biến  
thuỷ sản. Một số nghiên cứu chỉ nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu thuỷ  
sản của một địa phương, hoặc tại khoảng thời gian trước khi Việt Nam gia nhập  
WTO, vì vậy thực trạng cũng như giải pháp của nghiên cứu đó không còn phù  
hợp với xu thế phát triển hiện tại về hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp  
thuỷ sản ở Việt Nam.  
Có thể thấy, hiện tại vẫn còn thiếu những nghiên cứu đánh giá về chính sách  
tài chính khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản. Chính  
vì vậy, đề tài luận án là công trình khoa học hoàn toàn mới, đáp ứng yêu cầu lý  
luận và thực tiễn.  
3. Mục đích nghiên cứu của luận án  
Đề tài vận dụng các kiến thức lý luận, đối chiếu với thực tiễn chính sách tài  
chính đã tác động đến chuỗi hoạt động xuất khẩu của các DN thủy sản Việt Nam  
trong thời gian qua và kinh nghiệm một số nước, để từ đó có những đề xuất hoàn  
thiện các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thủy sản của Việt Nam sang các nước trong điều kiện hội nhập và thực  
hiện các cam kết quốc tế.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án  
Về đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách tài chính đối với hoạt động  
xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản.  
Về phạm vi nghiên cứu  
+ Về nội dung:  
Vấn đề sử dụng các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản rất  
đa dạng, phức tạp với nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau. Do vậy, luận án chỉ tập trung  
nghiên cứu chính sách tài chính có tác động mạnh mẽ nhất, đó là chính sách tài  
chính từ phía Nhà nước bao gồm chi NSNN, tín dụng, thuế và bảo hiểm. Các chủ  
thể khác tuy có hỗ trợ nhưng sự hỗ trợ này không đáng kể, cho nên luận án không  
đề cập đến.  
Luận án phân tích chính sách tài chính của Nhà nước nhằm hỗ trợ chuỗi giá  
trị hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản. Do Việt Nam đã trở thành  
thành viên của WTO và các hiệp định thương mại tự do, chính vì vậy, chính sách  
tài chính hỗ trợ của Nhà nước đa phần tác động vào khâu tạo nguồn nguyên liệu  
(khâu sản xuất) của chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ  
sản.  
+ Thời gian nghiên cứu:  
Từ năm 2013 đến 2017 tại Việt Nam. Đây là giai đoạn ngành thuỷ sản xuất  
khẩu có nhiều biến động, và Nhà nước cũng ban hành rất nhiều chính sách tài  
chính mới mang tính bước ngoặt cho ngành thuỷ sản xuất khẩu.  
Các giải pháp đề xuất đến năm 2025, tầm nhìn 2030.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để thu  
thập thông tin, dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm các phương  
pháp luận chung, phương pháp nghiên cứu cụ thể, Phương pháp tiếp cận hệ thống,  
và phương pháp tiếp cận theo chuỗi giá trị ứng dụng lý thuyết chuỗi giá trị của  
Michael Porter. Phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, dự báo, phương pháp  
chuyên khảo so sánh. Luận án cũng sử dụng phương pháp chuyên gia để tranh thủ  
kỹ năng, sự hiểu biết và kinh nghiệm của các chuyên giả giỏi liên quan tư vấn,  
định hướng và góp ý về nội dung, và giải pháp…Bên cạnh đó, luận án sử dụng  
phương pháp mô hình SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách  
thức đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam, từ  
đó để xuất các giải pháp để hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản một cách phù hợp.  
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án  
Về lý luận  
Luận án thực hiện hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản. Đồng thời, tác giả xây dựng khung lý thuyết các nội  
dung của chính sách tài chính và các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoạch định chính  
sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản theo  
chuỗi giá trị.  
Về thực tiễn  
Luận án phân tích, đánh giá thực trạng một cách có hệ thống tác động của  
chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của DN thuỷ sản theo  
chuỗi giá trị. Từ nghiên cứu thực tiễn cũng như tham khảo các ý kiến chuyên gia  
về các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt  
Nam, đề tài đánh giá những mặt tích cực, hạn chế, và nguyên nhân của những hạn  
chế để đưa ra các giải pháp chung và cụ thể cho từng chính sách và khuyến nghị  
nhằm hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các  
doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam sao cho phù hợp với các quy định và cam kết  
quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
7. Câu hỏi nghiên cứu  
- Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ  
sản là gì? Những nhân tố tác động vào việc hoạch định chính sách tài chính nhằm  
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của DN thuỷ sản.  
- Nội dung của các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu  
của các DN thuỷ sản bao gồm những nội dung gì?  
- Thực trạng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các  
DN thuỷ sản ở Việt Nam giai đoạn 2013 -2017 như thế nào? Những tồn tại trong  
chính sách tài chính đó là gì?  
- Hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các  
DN thuỷ sản ở Việt Nam là hoàn thiện những nội dung nào? Quan điểm, định  
hướng và giải pháp về việc hoàn thiện này là gì?  
8. Kết cấu của luận án  
- Chương 1: Lý luận về chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất  
khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản.  
- Chương 2: Thực trạng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất  
khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam.  
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam.  
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM THÚC  
ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỶ  
SẢN  
1.1Khái quát về hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
1.1.1 Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản là xuất khẩu sản phẩm thuỷ  
sản, dịch vụ thuỷ sản, trong đó thêm những lợi thế so sánh về lao động kết tinh  
trong sản phẩm giữa các quốc gia thông qua trao đổi hàng hoá thuỷ sản.  
Trong chuỗi giá trị của hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản thì lợi  
nhuận thu được ở công đoạn sản xuất là thấp nhất, khâu thương mại xuất khẩu là  
cao nhất. Đây chính là nguyên nhân mà thông thường rất ít nhà đầu tư bỏ vốn vào  
sản xuất mà chỉ tập trung cho thu mua và thương mại xuất khẩu. Do vậy, chính  
sách tài chính của chính phủ nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thuỷ sản cần phải theo hướng hỗ trợ theo chuỗi giá trị tạo ra mặt hàng thuỷ  
sản xuất khẩu từ các yếu tố ngoài chuỗi đến các yếu tố trong chuỗi.  
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản  
Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản mang tính thời  
vụ do thuỷ sản là hàng hoá mang tính thời vụ, phụ thuộc vào thời tiết, ngư  
trường…  
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản đòi hỏi tính liên  
ngành cao, có mỗi liên hệ chặt chẽ đồng bộ các khâu: khai thác, nuôi trồng, chế  
biến, xuất khẩu.  
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản chịu sự kiểm soát  
chặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định về bảo vệ môi trường.  
Thứ tư, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản chứa đựng độ rủi  
ro cao.  
Thứ năm, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản phải chịu mức  
độ cạnh tranh khá cao.  
1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản trong  
nền kinh tế  
- Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản góp phần thúc đẩy  
nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá nền kinh tế.  
- Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản làm tăng nguồn thu ngoại  
tệ, góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.  
- Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản tạo công ăn việc làm cho  
người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp của đất nước.  
- Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản đóng góp vào việc chuyển  
dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.  
- Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sản góp phần mở rộng và thúc  
đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế.  
- Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản góp phần thúc đẩy cải tiến  
cơ chế quản lý, chính sách kinh tế của nhà nước cho phù hợp với luật pháp và  
thông lệ quốc tế.  
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp  
thuỷ sản  
1.1.4.1 Các nhân tố khách quan  
Một là, cầu của thị trường các nước nhập khẩu  
Hai là, môi trường cạnh tranh  
Ba là, các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước  
1.1.4.2 Các nhân tố chủ quan  
Một là, giá cả và chất lượng  
Hai là, yếu tố về sản xuất và chế biến  
Ba là, chất lượng nguồn nhân lực  
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ  
sản  
Thứ nhất, giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
Thứ hai, thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
Thứ ba, cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật  
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực.  
Thứ năm, trình độ khoa học công nghệ.  
1.2 Chính sách tài chính đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp  
thuỷ sản  
1.2.1 Quan điểm về chính sách tài chính  
Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp  
thuỷ sản được xác định gồm các yếu tố sau:  
Thứ nhất, mục tiêu của chính sách: Nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản theo chuỗi giá trị một cách bền vững, không vi phạm  
các cam kết quốc tế.  
Thứ hai, chủ thể của chính sách: Nhà nước là chủ thể của chính sách tài chính  
nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản. Nhà nước và  
các cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành các chính  
sách để tác động, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ  
sản.  
Thứ ba, đối tượng của chính sách: Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản được thể hiện dưới hình thức là hệ  
thống các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính nhằm quy định,  
hướng dẫn áp dụng cho các đối tượng thực thi chính sách, bao gồm các chủ thể  
nằm trong chuỗi giá trị của hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản: Bộ nông  
nghiệp và phát triển nông thôn, các sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, các  
hộ khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản.  
Thứ tư, các giải pháp của chính sách: là các giải pháp hay các công cụ mà  
Nhà nước sử dụng để tác động nhằm đạt được mục tiêu chính sách trong những  
điều kiện cụ thể về không gian và thời gian xác định, chủ yếu bao gồm: các quy  
định trình tự, thủ tục và phương thức đầu tư, các chế độ ưu đãi, khuyến khích hỗ  
trợ cho các đối tượng thụ hưởng (các đối tượng nằm trong chuỗi giá trị hoạt động  
xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản).  
1.2.2 Các chính sách tài chính đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thuỷ sản  
1.2.2.1 Chi ngân sách nhà nước  
Cơ chế tác động của chi NSNN đến quá trình hoạt động xuất khẩu của DN  
thuỷ sản là vừa tạo nguồn vốn thực hiện, vừa định hướng, vừa lôi kéo tham gia  
đầu tư của toàn xã hội.  
- Chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật phục vụ hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản  
- Chi NSNN đầu tư phương tiện khai thác thuỷ sản, và đẩy mạnh nghiên cứu  
khoa học công nghệ trong nuôi trồng và chế biến thuỷ sản xuất khẩu.  
- Chi NSNN cho hoạt động xúc tiến thương mại  
1.2.2.2 Chính sách tín dụng  
Tín dụng nhà nước có tác dụng đối với việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của  
DN thuỷ sản không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn mà còn khuyến khích các chủ thể  
muốn sử dụng nguồn vốn TDNN phải chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động sản  
xuất kinh doanh để có thể hoàn trả được vốn và lãi.  
Chính sách tín dụng hỗ trợ đóng mới tàu thuyền  
Chính sách tín dụng ưu đãi cho nuôi trồng thuỷ sản  
Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu  
1.2.2.3 Chính sách thuế  
Một mức thuế suất hợp lý đối với hoạt động xuất khẩu của DN thuỷ sản, sẽ  
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản trên thị trường  
quốc tế, dẫn tới tăng kim ngạch xuất khẩu của các DN thuỷ sản. Nhà nước có thể  
tiến hành ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ  
sản thông qua công cụ thuế suất, thông qua việc áp dụng chế độ miễn, giảm thuế  
1.2.2.4 Chính sách bảo hiểm  
Chính sách bảo hiểm được thực hiện thông qua việc Nhà nước hỗ trợ kinh  
phí mua bảo hiểm cho các đối tượng trong chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản.  
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
1.2.3.1 Các nhân tố thuộc về chủ thể của chính sách tài chính  
- Quan điểm chính sách hỗ trợ của nhà nước  
- Khả năng về các nguồn lực của nhà nước và các tổ chức để thực hiện chính  
sách tài chính  
1.2.3.2 Các nhân tố thuộc về đối tượng của chính sách tài chính  
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản  
- Khả năng tiếp nhận hỗ trợ từ các chính sách tài chính của các chủ thể sản  
xuất mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu  
1.2.3.3 Các nhân tố khách quan  
- Các điều kiện về cầu đối với mặt hàng thuỷ sản  
- Áp lực cạnh tranh ngày càng nhiều hơn  
- Vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế  
- Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế.  
1.3 Kinh nghiệm sử dụng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động  
xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở một số nước và bài học cho  
Việt Nam  
Qua khảo cứu các kinh nghiệm của ba quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn  
trên thế giới có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:  
- Về chi NSNN, Chính phủ cần chi đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, chi đầu  
tư phục hồi nguồn lợi thuỷ sản, chi khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong  
nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, chi quy hoạch không gian bền vững cho chuỗi  
giá trị hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản  
- Về thuế, miễn các loại thuế liên quan đến nông nghiệp nhiều hơn.  
- Về tín dụng: tích cực cho vay hỗ trợ tổn thất trong nuôi trồng thuỷ sản, nâng  
cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp  
- Về chính sách bảo hiểm: khuyến khích phát triển bảo hiểm xuất khẩu thuỷ  
sản, đổi mới đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm.  
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM THÚC  
ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM  
2.1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt  
Nam  
2.1.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp  
thuỷ sản  
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất thủy sản đã được quan tâm đầu tư nhưng  
chưa đáp ứng yêu cầu (nhất là đối với hạ tầng phục vụ khai thác như cảng cá, bến  
cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; hạ tầng vùng sản xuất giống và nuôi tập  
trung…).  
2.1.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản theo  
chuỗi giá trị  
2.1.2.1 Về khâu cung ứng đầu vào  
Nguồn nguyên liệu cung cấp cho hoạt động chế biến xuất khẩu của doanh  
nghiệp thuỷ sản vẫn từ hai nguồn chính là nuôi trồng thuỷ sản, khai thác thuỷ sản  
và một phần nhập khẩu từ nước ngoài. Sản lượng NTTS luôn chiếm trên 50%  
tổng sản lượng thủy sản của cả nước với các đối tượng chủ lực là tôm thẻ và cá  
tra, nhuyễn thể. Năm 2017, tổng sản lượng thủy sản trong nước đạt 7.279 nghìn  
tấn trong đó sản lượng nuôi trồng thủy đạt 3.858 nghìn tấn, chiếm 53%, sản lượng  
khai thác thủy sản đạt 3.421 nghìn tấn, chiếm 47%. Tình trạng thiếu nguyên liệu  
cho chế biến xuất khẩu khiến các doanh nghiệp thuỷ sản của Việt Nam phải nhập  
khẩu nguyên liệu thuỷ sản từ 70 nước với giá trị liên tục tăng. Đến năm 2010,  
khối lượng nguyên liệu thuỷ sản nhập khẩu là 130,2 nghìn tấn, trị giá 325,375  
triệu USD. Năm 2017, Việt Nam nhập khẩu 1,43 tỷ USD.  
2.1.2.2 Về khâu thu mua  
Hầu hết nguồn nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến sử dụng đều thu  
mua qua các nậu vựa. Hiện nay, chưa có doanh nghiệp nào đầu tư thiết lập hệ  
thống tổ chức thu mua nguyên liệu trực tiếp từ ngư dân.  
2.1.2.3 Về khâu chế biến của các doanh nghiệp thuỷ sản  
Tính đến năm 2017, cả nước có 636 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy  
sản quy mô công nghiệp đạt chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm và đủ điều  
kiện xuất khẩu và các thị trường. Có 300 nhà máy chế biến thủy sản tập trung  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong vùng nguyên liệu tôm, cá tra và hải sản. Số  
lượng nguyên liệu thủy hải sản được đưa vào chế biến đạt 70%, tương đương trên  
4 triệu tấn. Công suất chế biến trung bình được sử dụng đạt 65%.  
2.1.2.4 Về khâu thương mại, xuất khẩu  
- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam  
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua  
từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%/năm. Trong năm 2017, sản phẩm  
thủy sản được XK sang 167 nước và vùng lãnh thổ.  
- Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam Các  
sản phẩm thủy sản chủ lực của Việt Nam là tôm, cá tra và một số nhóm đối  
tượng/sản phẩm quan trọng khác như: mực và bạch tuộc, cá biển và nghêu đông  
lạnh và hàng khô. Trong đó, tôm và cá tra vẫn là hai mặt hàng chính của xuất  
khẩu thủy sản, đây là hai mặt hàng chủ lực của Việt Nam.  
- Cơ cấu thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam  
Trong giai đoạn 2013-2017, XKTS vẫn tập trung vào 3 thị trường chính EU,  
Mỹ và Nhật Bản, đồng thời mở rộng các thị trường khác như Hàn Quốc, các nước  
thuộc Asean, Trung Quốc và Hồng Kông.  
2.1.3 Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
ở Việt Nam.  
Những kết quả đạt được  
Một là, giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản ngày càng tăng.  
Hai là, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng. Đến nay, sản phẩm thủy sản  
của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay được tiêu thụ ở hơn 172 thị trường ở 5  
châu lục.  
Những hạn chế  
- Năng lực cạnh tranh về giá của hàng thủy sản Việt Nam chưa cao. Chi phí  
nhân công, nhiên liệu, và nhập khẩu nguyên liệu ngày càng tăng làm giảm sức  
cạnh tranh về giá của doanh nghiệp xuất khẩu  
- Chất lượng nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu chưa ổn định. Hàng  
thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn một số lô hàng bị cảnh báo về mức độ  
an toàn.  
- Trình độ khoa học cộng nghệ còn nhiều hạn chế. Vẫn còn 40% số nhà máy  
chế biến quy mô nhỏ với máy móc, thiết bị đã cũ và lạc hậu, công nghệ nghèo  
nàn, chủ yếu là sơ chế, không đáp ứng được yêu cầu vệ sinh thực phẩm.  
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thuỷ sản chưa được đồng bộ. Hệ thống cơ sở hạ tầng  
nghề cá, hệ thống thuỷ lợi,… chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa nghề cá và chưa tương xứng với tiềm năng thủy sản và yêu cầu phát triển  
bền vững.  
- Nguồn nhân lực hiện chưa theo kịp yêu cầu hoạt động xuất khẩu của các  
doanh nghiệp thuỷ sản. Tình trạng thiếu lao động cả về số lượng và chất lượng  
cũng như tính bất ổn về lao động đang hạn chế rất nhiều năng lực cạnh tranh của  
doanh nghiệp xuất khẩu.  
2.2 Thực trạng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu  
của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam  
Trong phạm vi đề tài sẽ tập trung nghiên cứu đánh giá ở một số chính sách  
tài chính : Chi NSNN, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách bảo hiểm  
có tác động đến chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
bao gồm: khâu cung ứng nguyên liệu đầu vào (khai thác thuỷ sản và nuôi trồng  
thuỷ sản), khâu chế biến xuất khẩu, và xúc tiến thương mại.  
2.2.1 Chính sách chi ngân sách nhà nước  
2.2.1.2 Chi Ngân sách nhà nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật thúc đẩy  
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.  
- Chi NSNN cho quy hoạch và bảo vệ nguồn lợi để khai thác thuỷ sản: Trong  
giai đoạn 2011 - 2015, cần tổ chức thiết lập và đưa vào hoạt động 25 khu bảo tồn  
vùng nước nội địa, trong đó có 01 khu bảo tồn loài liên quốc gia. Giai đoạn 2016 -  
2020, tổ chức thiết lập và đưa vào hoạt động 15 khu bảo tồn vùng nước nội địa.  
- Chi NSNN xây dựng cơ sở hạ tầng cảng cá, khu neo đầu tránh trú bão  
phục vụ khai thác thuỷ sản. Theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 12/11/2015  
của Chính phủ, đến năm 2020, cả nước có 124 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu  
cá gồm 20 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp vùng và 104 khu neo đậu  
tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh, đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 83.960 tàu  
cá.  
- Chi ngân sách xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển vùng nuôi trồng  
thuỷ sản. Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng  
thuỷ sản đến năm 2020 tại Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 3/3/2011. Hàng năm,  
ngân sách nhà nước hỗ trợ Chương trình khoảng 500 – 600 tỷ đồng để triển khai  
các dự án cụ thể. Vì vậy, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nuôi trồng thuỷ sản (hệ  
thống đường, điện, kênh mương, đê bao và cầu cống) đã được đầu tư xây dựng,  
phục vụ sản xuất trong thời gian vừa qua.  
2.2.1.2 Chi Ngân sách nhà nước vào khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản  
- Ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cấp tàu thuyền và các trang thiết bị  
phục vụ khai thác thuỷ sản.  
Cùng với việc tăng số lượng tàu đánh bắt hải sản xa bờ thì tổng công suất các  
tàu đánh bắt hải sản xa bờ cũng không ngừng tăng lên. Năm 2010 tổng số tàu cá  
chỉ có 19.251 chiếc với công suất 4.145,4 nghìn CV, thì đến năm 2017 đã tăng lên  
32.878 chiếc, tương ứng với công suất 12.339 nghìn CV.  
- Chi ngân sách đầu tư vào khoa học công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản  
Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thuỷ sản bền vững giai đoạn 2016 –  
2020, Chi NSNN 4.300 tỷ đồng nhằm phát triển thuỷ sản bền vững, trong đó có  
đầu tư phát triển nuôi trồng thuỷ sản và giống thuỷ sản triển khai theo Nghị định  
số 67/2014/NĐ-CP:  
- Chi NSNN đầu tư phòng dịch và ứng phó thiên tai trong nuôi trồng thuỷ sản.  
Hiện nay kinh phí chi cho hoạt động quan trắc môi trường NTTS hàng năm  
rất hạn chế trong khi nhu cầu quan trắc rất lớn. Kinh phí quan trắc môi trường  
Trung tâm quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh  
thuỷ sản ở khu vực miền Bắc là 400 triệu đồng/năm, khu vực miền Trung là 530  
triệu đồng/năm, khu vực Nam bộ là 550 triệu đồng/năm, Trung tâm quốc gia quan  
trắc, cảnh báo môi trường biển là 500 triệu đồng/năm.  
- Chi Ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản  
thông qua hoạt động nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ, và xây dựng  
các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ về chế biến thuỷ sản.  
Để có thể đạt được các mục tiêu của quy hoạch phát triển chế biến thuỷ sản  
toàn quốc đến năm 2020 theo quyết định số 2310/QD-BNN-CB, tổng nhu cầu vốn  
đầu tư cho phát triển chế biến thuỷ sản cho toàn giai đoạn 2011 - 2020 là 24.547  
tỷ đồng; trong đó giai đoạn 2011 - 2015 là 13.384 tỷ đồng và giai đoạn 2016 -  
2020 là 11.163 tỷ đồng.  
2.2.1.3 Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động xúc tiến thương mại  
Vốn đầu tư cho chương trình xúc tiến thương mại đã được bổ sung trong số  
các dự án vốn đầu tư vào ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu là 1.375.000 triệu  
đồng, trong đó có 687.500 triệu đồng là Vốn từ NSNN. Giai đoạn 2016 – 2020  
Chi NSNN cho xúc tiến thương mại thuỷ sản tăng lên 29% so với giai đoạn 2011  
– 2015 là 906.250 triệu đồng.  
2.2.2 Chính sách tín dụng  
- Chính sách cho vay đóng mới và nâng cấp tàu thuyền khai thác thuỷ sản  
Theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP: chính sách tín dụng cho ngư dân vay đóng  
mới tàu vỏ thép với mức cao nhất lên tới 95% tổng giá trị đầu tư đóng mới với lãi  
suất 7%/năm, trong đó chủ tàu trả 1%/năm, ngân sách Nhà nước cấp bù 6%/năm.  
- Chính sách tín dụng đối với nuôi trồng thuỷ sản  
Theo Quyết định số 540/QĐ-TTg, ngày 16-04-2014 của Thủ tướng Chính  
phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 26/2014/TT-NHNN,  
ngày 16-09-2014, quy định về việc ngân hàng thương mại Việt Nam tái cấp vốn  
đối với các tổ chức tín dụng bằng đồng Việt Nam.  
- Chính sách tín dụng xuất khẩu  
Trong thời gian qua các chính sách về tín dụng nêu trên đã tương đối góp  
phần tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp thủy  
sản Việt Nam. Tuy nhiên, kể từ 15/5/2017 đến nay, theo quy định của Chính phủ  
tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, Ngân hàng Phát triển đã dừng việc giải ngân  
cho vay tín dụng xuất khẩu để tập trung thu nợ và xử lý nợ xấu của các khoản vay  
tín dụng xuất khẩu trước đây.  
2.2.3 Chính sách thuế  
2.2.3.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp  
Chính phủ thực hiện miễn thuế thu nhập cho các hợp tác xã hoạt động trong  
lĩnh vực ngư nghiệp có thu nhập thực hiện ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội  
khó khăn và địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn; Thu nhập từ nuôi  
trồng thuỷ sản của doanh nghiệp ở địa bàn KT-XH đặc biệt khó khăn; Thu nhập  
từ hoạt động đánh bắt hải sản;  
2.2.3.2 Thuế Giá trị gia tăng  
Chính phủ bổ sung thêm các nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực thuỷ sản  
không chịu thuế GTGT: bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần  
thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản; bảo hiểm cho ngư dân; phụ tùng  
thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho  
hoạt động nghiên cứu khoa học  
2.2.3.2 Thuế xuất nhập khẩu  
Nghị định 67/2014/NĐ-CP quy định miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc,  
thiết bị, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu trong nước chưa sản xuất được để đóng  
mới, nâng cấp tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.  
Luật thuế xuất nhập khẩu 2016 quy định khi doanh nghiệp nhập khẩu máy  
móc thiết bị chuyên dùng để hình thành tài sản cố định thì được miễn thuế nhập  
khẩu.. Các quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đổi mới  
trang thiết bị.  
2.2.4 Chính sách bảo hiểm  
Mục đích của chính sách bảo hiểm là phòng chống rủi ro và hỗ trợ các hoạt  
động liên quan đến xuất khẩu thủy sản khi có rủi ro xảy ra. Chính sách bảo hiểm  
của Việt Nam hiện nay chủ yếu mới liên quan đến khâu sản xuất thuỷ sản trong  
chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản.  
2.3 Đánh giá chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của  
các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam  
2.3.1 Về chi ngân sách nhà nước  
Những kết quả đạt được:  
Một là, chi NSNN ngày càng tăng đã góp phần tạo thêm cơ sở vật chất cho  
hoạt động xuất khẩu của DN thuỷ sản.  
Hai là, chi NSNN đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh  
nghiệp thuỷ sản phát triển khá toàn diện trên tất cả các khâu của chuỗi giá trị  
Ba là, chi NSNN cho ngành thuỷ sản đã góp phần đẩy mạnh các hoạt động  
KHCN, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất ngư nghiệp, định hướng đầu tư cho  
các chủ thể khai thác những sản phẩm cho thuỷ sản mới mẻ đầy tiềm năng.  
Những hạn chế và nguyên nhân:  
Một là, chi NSNN cho thuỷ sản mặc dù tăng qua các năm nhưng vẫn ở mức  
thấp, không tương xứng với sự đóng góp của ngành thuỷ sản cho nền kinh tế quốc  
dân.  
Hai là, cơ cấu vốn đầu tư chưa hợp lý, còn dàn trải, thiếu tập trung. Kết cấu  
đầu tư mới chỉ tập trung vào kích cung và khâu trực tiếp sản xuất chứ chưa chú ý  
đến khâu bảo vệ sản xuất, sau thu hoạch và thương mại.  
Ba là, chi NSNN thực hiện quy hoạch chưa hiệu quả, khoa học và hợp lý.  
Bốn là, chi NSNN đầu tư xúc tiến thương mại hiệu quả chưa cao. Nguyên  
nhân là do thiếu sự tham gia của các DN trong lĩnh vực này nên nhiều chương  
trình xúc tiến thương mại chưa xát với thực tế, và thiếu nguồn kinh phí. Mặt khác,  
chi phí quảng cáo, xúc tiến thương mại còn bị khống chế ở mức 15% theo Luật  
thuế TNDN sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/1/2014.  
2.3.2 Về chính sách tín dụng  
Những kết quả đạt được:  
Thứ nhất, Chính phủ đã triển khai rất nhiều chương trình hỗ trợ tín dụng  
nhằm hỗ trợ giảm thiểu rủi ro do thiên tai.  
Thứ hai, Hệ thống Ngân hàng đã tích cực triển khai kịp thời đồng bộ các cơ  
chế, chính sách một cách chủ động, linh hoạt nhằm tăng cường đầu tư vốn cho  
DN thuỷ sản.  
Những hạn chế và nguyên nhân :  
Thứ nhất, khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp thuỷ sản vẫn còn khó  
khăn. Do thủ tục vay vốn quá chặt.  
Thứ hai, chính sách tín dụng tương đối đầy đủ nhưng thiếu rõ ràng về điều  
kiện vay vốn, xử lý nợ xấu do rủi ro và thiếu nguồn lực để thực hiện.  
2.3.3 Về chính sách thuế  
Những kết quả đạt được:  
Thứ hai, việc mở rộng diện không chịu thuế giá trị gia tăng đã góp phần giảm  
chi phí sản xuất cho doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu thuỷ  
sản.  
Thứ ba, thuế xuất nhập khẩu đã đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách của  
Nhà nước về phát triển chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ  
sản theo hướng bền vững.  
Thứ ba, Thuế TNDN thông thoáng, ưu đãi cao cho doanh nghiệp thuỷ sản  
Thứ tư, về công tác quản lý thuế đã từng bước đơn giản hoá thủ tục hành  
chính cho người nộp thuế.  
Những hạn chế và nguyên nhân:  
+ Chính sách thuế trong đó có cơ chế ưu đãi thuế TNDN chưa ổn định, thay  
đổi liên tục trong thời gian ngắn, quá nhiều văn bản; thông tin đa chiều, thông tư,  
văn bản chưa hướng dẫn chi tiết, chưa rõ ràng, đôi lúc còn chồng chéo chưa nhất  
quán, gây khó khăn cho DN trong thực hiện.  
+ Việc cập nhật chính sách thuế mới của cơ quan quản lý thuế cho doanh  
nghiệp còn chậm; người kê khai thuế chưa được trang bị kiến thức đầy đủ, kịp  
thời. Việc áp dụng chính sách thuế của cán bộ thuế ở các chi cục không nhất quán  
với quy định hoặc cán bộ giải thích không rõ ràng làm DN lúng túng khi thực  
hiện.  
2.3.4 Về chính sách bảo hiểm  
Những kết quả đạt được:  
Thông qua chính sách bảo hiểm đã góp phần nâng cao ý thức, thói quen tuân  
thủ quy trình sản xuất trong chuỗi giá trị hoạt động xuất khẩu của các doanh  
nghiệp thủy sản, phần nào chia sẻ rủi ro cho các chủ thể trong chuỗi giá trị.  
Những hạn chế và nguyên nhân:  
Thứ nhất, chưa ban hành kịp thời các văn bản pháp quy trong hướng dẫn bảo  
hiểm, đến hết năm 2016 Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn cụ thể về chính sách  
bảo hiểm để DN thực hiện. Dẫn đến hầu hết các địa phương dừng hoạt động bảo  
hiểm từ đầu năm 2017 đến tháng 4/2017 mới hoạt động trở lại.  
Thứ hai, bảo hiểm tàu cá và thuyền viên còn nhiều vấn đề bấp cập  
Thứ ba, diện bảo hiểm trong chính sách bảo hiểm chưa được phủ khắp chuỗi  
giá trị hoạt động xuất khẩu của các DN thủy sản.  
Nguyên nhân chính là do nền sản xuất thuỷ sản của Việt Nam còn manh mún,  
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên khiến rủi ro cao. Quy mô sản xuất nhỏ thì  
khả năng tham gia bảo hiểm hạn chế, chi phí bảo hiểm lớn, làm cho chi phí tham  
gia bảo hiểm tăng cao.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 17900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_chinh_sach_tai_chinh_nham_thuc_day_hoat_dong.pdf