Luận văn Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN VĂN LONG  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIÊN CHỨC  
GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,  
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH  
Hà Nội, 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN VĂN LONG  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIÊN CHỨC  
GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,  
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG  
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính  
Mã số: 8.38.01.02  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH  
Hà Nội, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu  
trong Luận văn là trung thực. Những kết luận của Luận văn chưa được công bố  
trong bất kỳ công trình nào khác.  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Trần Văn Long  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1  
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ  
NUỚC VỀ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC........................................................... 7  
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về viên chức giáo dục .... 7  
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về viên chức giáo dục.................................. 16  
1.3. Hình thức, biện pháp quản lý nhà nước về viên chức giáo dục............... 24  
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về viên chức giáo dục....... 27  
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN  
CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ CHÂN,  
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ........................................................................ 32  
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về viên chức giáo dục tại quận Lê  
Chân, thành phố Hải Phòng ............................................................................ 32  
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với viên chức giáo dục tại quận Lê  
Chân, thành phố Hải Phòng ............................................................................ 37  
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về viên chức tại quận Lê Chân,  
thành phố Hải Phòng....................................................................................... 49  
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN  
LÝ VỀ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN QUẬN LÊ  
CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .......................................................... 54  
3.1. Các định hướng tăng cường quản lý nhà nước về viên chức................... 54  
3.2. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về viên chức giáo dục........ 57  
KẾT LUẬN.................................................................................................... 57  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Chủ nghĩa xã hội:  
CNXH  
GD-ĐT  
GD&ĐT  
QLNN  
THCS  
Giáo dục- Đào tạo :  
Giáo dục và đào tạo:  
Quản lý nhà nước:  
Trung học cơ sở:  
Ủy ban nhân dân:  
Xã hội chủ nghĩa:  
UBND  
XNCN  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Giáo dục và đào tạo là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách  
mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam. Tầm quan trọng của ngành  
giáo dục và đào tạo đã được Đảng nhiều lần nêu ra trong các văn kiện. Nghị  
quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục nhấn mạnh: “ Đổi  
mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là  
nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba đột phá chiến lược và khẳng  
định trọng tâm “ Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống  
xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ,  
năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”. Như vậy, có thể  
thấy con người là nhân tố quyết định cho sự thành công của mọi hoạt động,  
đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Với sứ mệnh trồng người, ngành giáo dục  
đang từng ngày khẳng định tầm quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của  
đất nước, trong đó không thể không nói đến vai trò của các viên chức giáo  
dục. Với truyền thống “ Tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam, người giáo  
viên luôn được coi là hình tượng mẫu mực, là người dạy học trò tri thức và  
nhân cách. Đó là trách nhiệm cao quý mà mỗi người làm nghề giáo dục phải  
gánh vác, vì mỗi hành động của họ dù nhỏ đến đâu đều có ảnh hưởng nhất  
định đến sự nghiệp trồng người.  
Nhận thức được tầm quan trọng của viên chức ngành giáo dục những  
năm qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tạo điều kiện cho việc xây dựng,  
hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức giáo  
dục. Bên cạnh đó, việc đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội  
ngũ viên chức giáo dục đang là đòi hỏi bức thiết của xã hội trong giai đoạn  
hiện nay.  
1
Trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng  
nói chung và quận Lê Chân nói riêng đã từng bước trưởng thành và đạt được  
những thành quả đáng khích lệ. Song, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và phát  
triển kinh tế xã hội hiện nay, cần phải tăng cường hơn nữa chất lượng nguồn  
nhân lực và phát huy tối đa sức mạnh của đội ngũ viên chức giáo dục. Quan  
trọng nhất là cần khai thác, sử dụng, quản lý nguồn nhân lực này như thế nào  
để đạt được hiệu quả cao nhất.  
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đến nay hệ thống thể chế quản lý viên  
chức vẫn chưa đầy đủ, chưa tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động thực  
thi nghiệp vụ của viên chức giáo dục. Do đó vẫn chưa thể đáp ứng được yêu  
cầu trong thời đại mới. Trong những nguyên nhân dẫn đến thực tế trên thì  
phải kể đến công tác quản lý nhà nước về viên chức vẫn chưa đáp ứng được  
những yêu cầu mà xã hội đề ra, không bắt kịp với sự phát triển của đất nước  
trong giai đoạn hiện nay.  
Nhận thức được vấn đề nêu trên, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài  
“Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ thực tiễn quận Lê Chân,  
thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Luật Hiến pháp và  
Luật Hành chính của mình.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Quản lý viên chức không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có  
tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp. Đã có nhiều công trình nghiên  
cứu tiếp cận vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu  
đã công bố chủ yếu là những vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn  
trong đó có thể kể đến một số công trình:  
Ths. Lê Minh Hương (2012), “Một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng và  
quản lý viên chức theo Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính phủ”, Tạp chí Tổ  
chức nhà nước, (số 5). Bài viết làm rõ một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng  
2
và quản lý viên chức theo Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính phủ. Ngoài ra,  
bài viết còn làm rõ một số vấn đề về thực trạng tuyển dụng, sử dụng và quản  
lý viên chức ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng  
cao hiệu lực, hiệu quả của Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính Phủ.  
Nguyễn Thành Bắc (2016), Quản lý nhà nước về đội ngũ giáo viên  
trung học phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ  
Quản lý công, Học viện Hành chính, Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu  
khoa học tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng và đánh giá công tác  
QLNN về đội ngũ giáo viên trong các trường trung học phổ thông công lập  
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tinh thần Nghị quyết hội nghị Trung  
ương lần thứ 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; từ  
đó đề xuất những giải pháp nhằm quản lý hiệu quả đội ngũ giáo viên trong các  
trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh.  
Vũ Hoàng Quỳnh (2016), QLNN đối với viên chức ngành y tế từ thực  
tiễn bệnh viện Phổi trung ương, Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và luật Hành  
chính, Học viện Hành chính, Hà Nội. Luận văn nghiên cứu về quản lý nhà  
nước đối với viên chức ngành y tế. Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý  
luận, pháp lý về quản lý viên chức ngành y tế gắn với thực tiễn Bệnh viện  
Phổi trung ương, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng  
cao chất lượng quản lý viên chức ngành y tế trong giai đoạn hiện nay.  
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác cũng liên quan như:  
Vũ Tiến Dũng (2011), QLNN về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ VC  
tại các bệnh viện công - Từ thực tiễn bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, Luận văn  
Thạc sỹ quản lý hành chính công.  
Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), “Quản lý nhà nước đối với viên chức y  
tế ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện  
Hành chính Quốc gia.  
3
Vũ Tiến Dũng (2015), “Kinh nghiệm QLNN về bồi dưỡng công chức,  
viên chức của một số quốc gia trên thế giới - kinh nghiệm cho Việt Nam”,  
Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia.  
Nguyễn Thị Hiền (2014), QLNN về viên chức trong các trường phổ  
thông trung học từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ ngành Luật hiến  
pháp và luật hành chính, Học viện Khoa học xã hội.  
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các công trình khoa học, đề tài  
nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo trong chừng mực nhất định đã góp  
phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về quản lý cán  
bộ, công chức, viên chức ở nước ta.  
Mặc dù vậy, trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc nghiên cứu một cách toàn diện về  
quản lý cán bộ, công chức nói chung, quản lý viên chức nói riêng là vấn đề  
mang tính thời sự cấp thiết cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn  
thiện. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề  
quản lý viên chức giáo dục dưới góc độ tiếp cận là một luận văn Thạc sĩ Luật  
Hiến pháp và Luật Hành chính. Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang  
ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối  
với viên chức ngành giáo dục.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích của luận văn  
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà  
nước về viên chức giáo dục nói chung quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng  
nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà  
nước về viên chức giáo dục trong giai đoạn hiện nay.  
3.2. Nhiệm vụ của luận văn  
4
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý viên chức giáo dục như: Khái  
niệm, đặc điểm viên chức; khái niệm, đặc điểm viên chức giáo dục; khái niệm  
quản lý viên chức giáo dục; nội dung, vai trò của quản lý viên chức giáo dục  
và các yếu tố tác động đến việc quản lý viên chức giáo dục.  
- Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những kết quả đạt được và  
những hạn chế; chỉ ra các nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn  
chế trong quản lý viên chức ngành giáo dục tại quận Lê Chân, thành phố Hải  
Phòng.  
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước  
đối với viên chức giáo dục từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà  
nước đối với viên chức ngành giáo dục gắn với thực tiễn tại quận Lê Chân,  
thành phố Hải Phòng.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với viên chức ngành giáo  
dục tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến nay.  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp luận  
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luật chủ nghĩa duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí  
Minh và quán triệt các Nghị quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ  
IX, X, XI, XII về đổi mới công tác cán bộ, công chức và hoàn thiện việc quản  
lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
5
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra  
các khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước, viên chức, viên chức giáo dục và  
quản lý nhà nước về viên chức giáo dục. Đồng thời, khái quát nội dung của  
quản lý nhà nước về viên chức giáo dục  
Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, tổng  
hợp, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ  
thực tiễn tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.  
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp để rút ra  
những định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về viên  
chức giáo dục.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
Về lý luận, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về  
viên chức giáo dục nói chung và quản lý nhà nước về viên chức giáo dục tại  
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nói riêng.  
Về thực tiễn, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu cung cấp cho việc  
nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước về viên chức giáo dục. Luận văn  
cũng sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cụ thể cho công tác quản lý viên  
chức giáo dục tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt và danh mục tài  
liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết.  
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về viên chức  
giáo dục  
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về viên chức giáo dục tại quận  
Lê Chân, thành phố Hải Phòng  
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về  
viên chức giáo dục tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng  
6
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA  
QUẢN LÝ NHÀ NUỚC VỀ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC  
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về viên chức  
giáo dục  
1.1.1. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước  
1.1.1.1. Quản lý  
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về quản lý. Có quan niệm cho rằng,  
quản lý là hành chính, là cai trị; hay quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ  
huy… Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, quản lý được định nghĩa là: “Tổ  
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [47, tr.69].  
Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ  
chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay  
một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất  
trong bối cảnh và các điều kiện nhất định.  
Nếu xem xét quản lý dưới góc độ chính trị- xã hội thì: Quản lý là sự tác  
động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt  
động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và  
phù hợp với quy luật khách quan.  
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, quản lý có thể được hiểu như  
sau: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản  
lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định.  
1.1.1.2. Quản lý nhà nước  
Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo  
dục và đào tạo: “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi  
quyền lực nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy  
7
nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các  
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân  
công pháp (công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để  
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho  
trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân”.  
[46, tr. 40]  
Như vậy, QLNN là một hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước,  
được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.  
QLNN được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ  
hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp  
và cả hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp, QLNN không bao gồm hoạt động  
lập pháp và tư pháp của nhà nước, mà đó là hoạt động điều hành công việc  
hàng ngày của hệ thống bộ máy hành chính nhà nước.  
1.1.2. Khái niệm viên chức và viên chức giáo dục  
1.1.2.1. Viên chức  
Trong quá trình phát triển của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Việt  
Nam khái niệm về viên chức ngày càng được hoàn thiện. Tại điều 2, Luật  
Viên chức 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng  
theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp  
đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo  
quy định của pháp luật”. Theo đó, viên chức được xác định theo các tiêu chí:  
được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc;  
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là những người  
mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người  
dân như: giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hoá,  
nghệ thuật, thể dục, thể thao… Những hoạt động này không nhân danh quyền  
8
lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước  
mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn.  
Trên cơ sở đó, viên chức có những đặc điểm sau:  
-Viên chức là người mang quốc tịch Việt Nam, được ký kết hợp đồng  
làm việc theo vị trí việc làm tại đơn vị sự nghiệp công lập và hưởng lương từ  
nguồn thu của đơn vị;  
-Viên chức là những người làm những công việc thuần túy về chuyên  
môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông  
tin… tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác  
quản lý nhà nước;  
-Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp  
những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm “phi vật  
chất”, dựa trên “kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghiệp vụ cao”.  
- Lao động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp mang tính phục vụ,  
không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên  
hết, nhằm cung cấp cho người dân các nhu cầu cơ bản, thiết yếu… Phạm vi  
của các hoạt động nghề nghiệp tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y  
tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, lao động, việc làm, an sinh xã  
hội… Mức độ cung cấp mà Nhà nước có trách nhiệm thực hiện tùy thuộc vào  
mức độ phát triển của mỗi quốc gia.  
1.1.2.2. Viên chức giáo dục  
Trên cơ sở quan niệm về viên chức nói chung, có thể hiểu, viên chức  
giáo dục là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc  
tại các cơ sở giáo dục công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương  
từ quỹ lương của cơ sở giáo dục công lập theo quy định của pháp luật”.  
Viên chức giáo dục gắn liền với tên gọi về chức danh nghề nghiệp. Viên  
chức giáo dục bao gồm viên chức làm công tác quản lý, viên chức giáo viên  
9
và những nhân viên. Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ  
quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc  
một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công  
chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. Viên chức giáo viên là những  
người chỉ thực hiện công tác mang tính chuyên môn nghiệp vụ (giảng dạy)  
trong các cơ sở giáo dục công lập. Ngoài ra, viên chức giáo dục còn là những  
nhân viên trong cơ sở giáo dục công lập như: thủ quỹ, kế toán, văn phòng,  
nhân viên phòng thí nghiệm…).  
Viên chức giáo dục phần lớn là giáo viên, nhân tố quyết định đến chất  
lượng giáo dục, đào tạo  
1.1.2.3. Vị trí, vai trò của viên chức giáo dục  
Đội ngũ viên chức giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng trong quá  
trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh, là lực lượng cốt cán biến  
mục tiêu giáo dục thành hiện thực. Vai trò của viên chức giáo dục là người  
khuyến khích, cổ vũ, định hướng, tổ chức, điều chỉnh và trực tiếp quản lý cả  
về phương diện học tập và tình cảm người học đúng theo phương châm “Xây  
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Để làm được điều đó, đội ngũ  
viên chức giáo dục, những người lao động trí óc chuyên nghiệp phải nắm  
vững kiến thức bộ môn giảng dạy và các kiến thức bổ trợ khác về kỹ năng  
quản lý giáo dục, nắm vững quy luật phát triển tâm lý của học sinh để hình  
thành nhân cách của các em theo từng cấp học. Viên chức giáo dục có vai trò  
quan trọng thể hiện ở các mặt như sau:  
Một là, viên chức giáo dục là người trang bị những tri thức cơ bản về  
văn hóa, khoa học nhằm phát triển tiềm năng trí tuệ của học sinh. Đó là thế hệ  
mới, thế hệ tương lai của đất nước. Vậy, yêu cầu đặt ra đối với thế hệ tương  
lai phải là người có hệ thống tri thức được đúc kết từ trong lịch sử đến hiện  
tại; là người phát triển toànn diện về trí dục, thể dục, thẩm mỹ, mỹ dục và kỹ  
10  
thuật tổng hợp. Nền giáo dục đào tạo XHCN là nơi hình thành các thế hệ  
tương lai đó, mà vai trò của quản lý là nhân tố quyết định. Vì vậy với việc trang  
bị những tri thức và kỹ năng về văn hóa, khoa học sẽ giúp học sinh có thái độ tôn  
trọng kỷ luật, học tập theo lối khoa học, chủ động và sáng tạo, có ý thức khắc  
phục khó khăn, chuyên cần tự giác trong học tập và vận dụng các kiến thức đã  
học và thực tế cuộc sống phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.  
Hai là, trang bị, bồi dưỡng cho học sinh những tri thức cơ bản về đạo  
đức, pháp luật, dân chủ và những giá trị truyền thống của lịch sử dựng nước  
và giữ nước, bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc, tình cảm, tư tưởng, lối sống  
phù hợp với thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa mà cốt lõi là  
nghĩa vụ và trách nhiệm với Tổ quốc, đối với nhân dân, đối với sự nghiệp  
cách mạng dân tộc thông qua các môn học Văn học, Lịch sử, Giáo dục công  
dân. Từ đó góp phần hình thành ở các em nhân cách tốt, lối sống, cách ứng xử  
có văn hóa để trở thành con người có đạo đức, có tấm long nhân ái; giúp các  
em hiểu và sử dụng đúng quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với xã hội, biết  
tôn trọng pháp luật, chấp hành pháp luật của nhà nước và nội quy của nhà  
trường. Vấn đề này đã được Hồ Chí Minh khẳng định: người mà có tài mà  
không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài làm gì cũng khó.  
Ba là, trang bị những kiến thức cơ bản về thể chất và an ninh quốc  
phòng nhằm phát triển thể lực phục vụ yêu cầu của đất nước. Quá trình công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng đất nước trước xu thế toàn cầu hóa đòi  
hỏi nguồn nhân lực không chỉ có trình độ mà phải có sức khỏe, chịu được thử  
thách, áp lực công việc. trí tuệ minh mẫn, tính năng động sáng tạo phụ thuộc  
rất nhiều về sức khỏe, cơ thể khỏe mạnh. Giáo dục phải đáp ứng các nội dung  
cơ bản là thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục và phải gắn chặt với nhau làm nền  
tảng cho sự phát triển con người.  
1.1.3. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về viên chức giáo dục  
11  
1.1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nước về viên chức giáo dục  
Quản lý viên chức giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.  
Theo nghĩa hẹp, quản lý viên chức giáo dục là việc cơ quan có thẩm quyền  
quản lý nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thực hiện  
văn bản quy phạm pháp luật; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,  
khen thưởng, kỷ luật; báo cáo tổng kết, đánh giá công tác quản lý nhà nước về  
viên chức giáo dục. Theo nghĩa rộng, quản lý viên chức giáo dục là việc cơ  
quan có thẩm quyền quản lý nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp  
luật; tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; thanh tra, kiểm tra, giải  
quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật; báo cáo tổng kết, đánh giá công  
tác quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục; quản lý đối với nguồn nhân lực, tổ  
chức bộ máy, nguồn tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ trong  
lĩnh vực giáo dục. Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục là một bộ phận  
cấu thành hoạt động quản lý nhà nước đối với viên chức nói chung bảo đảm  
cho hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả  
Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục có những đặc điểm sau:  
- Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục mang tính quyền lực đặc biệt,  
tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của cơ quan có thẩm quyền  
quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục. Tính quyền lực ấy là đặc điểm để  
phân biệt hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động quản lý khác và phân biệt  
hoạt động quản lý nhà nước về viên chức giáo dục với hoạt động quản lý nhà  
nước về viên chức khác. Tính quyền lực này bắt nguồn từ quyền lực của nhà  
nước vì cơ quan quản lý nhà nước về viên chức giáo dục là một trong những  
cơ quan cấu thành bộ máy nhà nước ta hiện nay.  
- Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục có mục tiêu, chiến lược, chương  
trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Trong hoạt động quản lý, mục tiêu bao giờ  
cũng được đề ra đầu tiên và cơ bản. Mỗi một hoạt động quản lý đều đề ra một  
12  
mục tiêu khác khác nhau, do vậy hoạt động quản lý nhà nước về viên chức giáo  
dục cũng có mục tiêu riêng, để thực hiện được mục tiêu này cần phải thiết lập  
một hệ thống các chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn…  
- Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục mang tính chủ động, sáng tạo,  
liên tục và chuyên môn hóa nghề nghiệp cao, linh hoạt trong việc điều hành,  
phối hợp, huy động mọi lực lượng để đạt được mục tiêu, kế thừa những thành  
tựu và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trong hoạt động quản lý để áp dụng  
quản lý viên chức giáo dục cho phù hợp.  
- Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục mang tính thứ bậc chặt chẽ,  
không có sự cách biệt giữa người quản lý và người bị quản lý, không vì lợi  
nhuận và nhân đạo. Tính thứ bậc được thể hiện trong quản lý nhà nước về  
viên chức giáo dục ngay từ khi xây dựng hệ thống viên chức giáo dục. Do  
vậy, xét ở phạm vi hẹp, vị trí này là người quản lý, nhưng cũng vị trí đó, trong  
phạm vi rộng hơn lại là người bị quản lý của tổ chức cao hơn nên không có sự  
cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội giữa người quản lý và người bị quản lý trong  
lĩnh vực giáo dục. Hoạt động quản lý nhà nước về viên chức giáo dục nhằm  
phục vụ cộng đồng. Do vậy, xét về tổng thể cùng mục tiêu chung của các cơ  
quan nhà nhà nước khác là phục vụ nhân dân, đặc biệt không chỉ phục vụ cho  
những người tuyệt đối trung thành với tổ quốc và có tinh thần xây dựng và  
bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa và còn bảo đảm cho những nhu cầu tối thiếu  
của các đối tượng đi ngược lại mục tiêu xây dựng và bảo vệ Nhà nước Việt  
Nam xã hội chủ nghĩa. Do vậy, quản lý nhà nước về viên chức giáo dục còn  
mang tính nhân đạo xuất phát từ bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.  
Việc quản lý nhà nước về viên chức giáo dục được thực hiện trên cơ sở các  
nguyên tắc sau:  
Thứ nhất, phải bảm đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự thống nhất quản lý  
của Nhà nước đối với đội ngũ viên chức giáo dục.  
13  
Thứ hai, bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.  
Thứ ba, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức giáo dục  
được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và  
căn cứ vào hợp đồng làm việc. Vị trí việc làm là căn cứ xác định số lượng  
người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và  
quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.  
Thứ tư, thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước  
đối với viên chức giáo dục là người có tài năng, người dân tộc thiểu số, người  
có công với cách mạng, viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo,  
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội  
đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước đối với viên  
chức giáo dục.  
1.1.3.2. Vai trò của quản lý nhà nước về viên chức giáo dục  
QLNN về viên chức giáo dục có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hoạt  
động, đến sự vận hành của cơ sở giáo dục, cung cấp môi trường làm việc lành  
mạnh, minh bạch và hiệu quả cho đội ngũ viên chức giáo dục. QLNN về viên  
chức giáo dục nhằm lựa chọn những người có năng lực, trình độ, đáp ứng  
được yêu cầu và sắp xếp đúng với nguyện vọng cũng như khả năng của mỗi  
người. QLNN về viên chức giáo dục nhằm hướng hoạt động của viên chức  
giáo dục thực hiện nhiệm vụ của mình theo chủ trương, đường lối lãnh đạo  
của Đảng, chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước và sự chỉ đạo của  
các cơ quan nhà nước cấp trên. Sự QLNN đối với viên chức giáo dục dựa trên  
cơ sở các tiêu chuẩn, các chuẩn mực chung và sự cưỡng chế của luật pháp để  
sàng lọc cho các cơ sở giáo dục công lập những viên chức vừa có đức, có tài,  
loại bỏ những người không đáp ứng yêu cầu, không có năng lực và trình độ  
yếu kém.  
14  
Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về viên chức giáo dục thông qua  
việc ban hành chính sách pháp luật nhằm tạo ra các quy tắc xử sự chung và có  
các biện pháp xử lý các hành vi đi ngược lại các chính sách của Đảng, vi  
phạm pháp luật. Ngoài ra, nhà nước còn có các chế tài nhằm phát triển và đào  
tạo đội ngũ viên chức giáo dục, có các chính sách hỗ trợ viên chức giáo dục  
trong hoạt động nghề nghiệp. QLNN về viên chức giáo dục có vai trò quan  
trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện và khuyến khích phát  
triển đội ngũ viên chức giáo dục.  
QLNN về viên chức giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Đây  
là quá trình tác động và điều chỉnh của nhà nước đến việc quản lý viên chức  
giáo dục nhằm: Đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc quản lý viên chức giáo dục;  
đảm bảo cho việc quản lý viên chức giáo dục được thực hiện một cách thống  
nhất, quy củ, đúng quy định, góp phần cho quản lý viên chức giáo dục được  
bình đẳng, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu của tình hình hiện nay;  
giám sát chặt chẽ khâu tuyền dụng, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng viên chức  
giáo dục, xử lý các vi phạm phát sinh nhằm hạn chế, ngăn chặn các tiêu cực  
trong đội ngũ viên chức giáo dục  
Với mục tiêu: “ Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn  
bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa  
và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện,  
gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành,  
năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực  
chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và  
xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ  
hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”  
(Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính  
phủ phê duyệt “ Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020”), việc  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 13780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_vien_chuc_giao_duc_tu_thuc_tien.pdf