Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại Tuyên Quang

phần nghiên cứu  
TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ SUY DINH DƯỠNG  
Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI TUYÊN QUANG  
Lưu Thị Mỹ Thục*, Nguyễn Anh Vũ**, Hoàng Thế Kỷ***  
* Bệnh viện Nhi Trung ương; ** Tổ chức tầm nhìn thế giới;  
*** Tư vấn độc lập về y tế, dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ & trẻ em  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố và tình trạng suy dinh dưỡng của  
trẻ. Đối tượng: Gồm cặp trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ của những trẻ này. Phương pháp  
nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang. Kết quả: Trẻ thuộc HGĐ nghèo thì xác suất bị SDD nhẹ  
cân cao gấp 1,6 lần và nguy cơ SDD thấp còi cao gấp 1,8 lần so với nhóm trẻ thuộc HGĐ  
khá/giàu. Trẻ là con của các bà mẹ có TĐHV dưới cấp 3 thì nguy cơ bị SDD thấp còi cao gấp  
1,4 lần so với trẻ là con của bà mẹ có TĐHV cao hơn. Bà mẹ có kiến thức và thực hành nuôi  
dưỡng trẻ chưa tốt có xác suất con bị SDD thấp còi cao tương ứng là gấp 2,3 và 2,6 lần so  
với nhóm bà mẹ có kiến thức, thực hành tốt. Kết luận: Có mối liên quan giữa tình trạng SDD  
với một số yếu tố như nghề nghiệp của mẹ, TĐHV của mẹ, kinh tế HGĐ, kiến thức và thực  
hành về chăm sóc dinh dưỡng và phòng bệnh cho trẻ của các bà mẹ.  
Từ khóa: Suy dinh dưỡng, yếu tố nguy cơ.  
Chữ viết tắt: SDD (suy dinh dưỡng); HGĐ (hộ gia đình), TĐHV (trình độ học vấn); ABS (ăn  
bổ sung); NVS (nhà vệ sinh).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
khác biệt về sự phát triển của trẻ em đến 5 tuổi  
bị ảnh hưởng nhiều bởi dinh dưỡng, cách nuôi  
dưỡng, môi trường và chăm sóc sức khỏe hơn  
so với yếu tố di truyền hoặc dân tộc [2]. SDD  
trẻ em có liên quan chặt chẽ đến nhóm tuổi của  
trẻ, nhóm tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất là 6-24  
tháng [3]. Phân bố SDD ở Việt Nam không đồng  
đều, khu vực miền núi cao, vùng đồng bào dân  
tộc thiểu số, SDD trẻ em luôn cao hơn hẳn các  
vùng khác. Na Hang là một huyện miền núi  
nghèo, nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang.  
Hiện nay huyện Na Hang đang bước vào năm  
đầu của giai đoạn thực hiện chương trình phát  
triển vùng (CTPTV) năm 2015-2018 với mục tiêu  
Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực  
trong những năm gần đây nhưng suy dinh  
dưỡng (SDD) vẫn là một trong những vấn đề y  
tế công cộng hàng đầu ở các nước đang phát  
triển. Trên toàn thế giới SDD thấp còi vẫn tăng,  
ảnh hưởng hơn 186 triệu trẻ dưới 5 tuổi [1]. Việt  
Nam là một trong những nước có tỷ lệ SDD ở trẻ  
dưới 5 tuổi thể nhẹ cân giảm với mức trung bình  
mỗi năm là 1,5%, SDD thể thấp còi giảm bình  
quân 1,3% mỗi năm và được các tổ chức quốc tế  
đánh giá cao. Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân  
chiếm 60% SDD trẻ em. Thiếu dinh dưỡng có thể  
xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng  
tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả hai. Theo UNICEF, tiến hành những can thiệp nhằm làm giảm tỷ lệ SDD  
29  
tạp chí nhi khoa 2016, 9, 2  
cho trẻ dưới 5 tuổi đặt dưới mục tiêu của dự án  
Dinh dưỡng. Vì vậy để thiết kế được những can  
thiệp dinh dưỡng có hiệu quả, chúng tôi tiến  
hành đề tài: “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ suy  
dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Na Hang,  
Tuyên Quang” nhằm mục tiêu: Tìm hiểu mối liên  
quan giữa một số yếu tố và tình trạng suy dinh  
dưỡng của trẻ <5 tuổi.  
Trong đó:  
n (Cỡ mẫu tối thiểu); Z21-α/2 (hệ số tin cậy với  
độ tin cậy là 95% thì Z21-α/2 = 1,96); p = 0,178 (tỷ  
lệ SDD nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Na  
Hang - số liệu báo cáo năm 2014 của trung tâm  
y tế huyện Na Hang); d (sai số mong muốn 5%  
(0,05)); DE (Hiệu lực thiết kế = 2). Ước tính tỷ lệ bỏ  
cuộc khoảng 5% thì số mẫu cần thu thập là: 450  
+ 5%*450= 475 cặp bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi  
(thực tế điều tra được 483 cặp).  
2. ĐỐITƯỢNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm trẻ em dưới 5  
tuổi và các bà mẹ của những trẻ này  
- Phương pháp chọn mẫu:  
+ Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 30/43 cụm dân cư  
của 5 xã huyện Na Hang.  
2.2. Thời gian: Tháng 11-12/2015  
2.3. Địa điểm nghiên cứu: 5 xã dự án thuộc  
chương trình phát triển vùng gồm xã: Yên Hoa,  
Đà Vị, Sơn Phú, Năng Khả và Thanh Tương thuộc  
huyện Na Hang- Tuyên Quang.  
+ Bước 2: từ 30 cụm được chọn (ở bước 1),  
lập danh sách bà mẹ - trẻ dưới 5 tuổiở các cụm  
và chọn ngẫu nhiên đơn các cặp bà mẹ - trẻ vào  
nghiên cứu.  
2.4. Phương pháp nghiên cứu  
2.4.3. Thu thập số liệu  
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt  
ngang.  
Các điều tra viên được tập huấn trước khi tiến  
hành điều tra;  
Đối với nghiên cứu định lượng bộ câu hỏi  
phỏng vấn bà mẹ và người chăm sóc trẻ nhằm để  
thu thập các thông tin để tìm hiểu một số yếu tố  
nguy cơ SDD.  
- Tính cân nặng của trẻ: Cân Nhơn Hòa với độ  
chính xác đến 100g (lấy chính xác 1 đơn vị sau  
phần thập phân).  
Các số liệu về kích thước nhân trắc của trẻ dưới  
5 tuổi cũng đã được thu thập (cân nặng, chiều  
cao) và phân loại tình trạng dinh dưỡng dựa theo  
WHO 2005.  
- Đo chiều cao của trẻ: Đo chiều cao với độ  
chính xác 0,1cm.  
+ Tuổi của trẻ được tính toán dựa theo ngày  
sinh trong giấy khai sinh hoặc phiếu tiêm chủng.  
+ Bộ câu hỏi phỏng vấn các bà mẹ và người  
chăm sóc trẻ được tiến hành để thu thập các  
thông tin chung về hộ gia đình và thực hành  
của bà mẹ/ người chăm sóc trẻ về dinh dưỡng và  
chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em.  
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu  
- Cỡ mẫu được tính theo phương pháp tính cỡ  
mẫu cho một cuộc điều tra cắt ngang:  
2
Z
× P×(1− P)  
1− x 2  
n =  
× DE  
2
e
30  
phần nghiên cứu  
+ Đội điều tra gồm có 16 cán bộ điều tra viên  
(cán bộ y tế xã và y tế thôn, trung tâm y tế huyện)  
và 3 giám sát viên là những cán bộ từ Tổ chức tầm  
nhìn thế giới, Bệnh viện Nhi TW được chia thành  
4 nhóm để tiến hành điều tra tại các xã.  
2.5. Phân tích số liệu  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Kết quả nghiên cứu được phân tích dựa trên  
483 cặp đối tượng nghiên cứu là trẻ < 5 tuổi và bà  
mẹ của trẻ tại 5 xã thuộc huyện Na Hang, Tuyên  
Quang từ tháng 11/2015 đến 12/2015.  
3.1. Đặc điểm chung của nhóm trẻ tham gia  
nghiên cứu (n=483)  
Số liệu được làm sạch và nhập vào máy tính  
bằng chương trình SPSS 20.0  
0-5 tháng  
48-59 tháng  
17,0%  
6-11 tháng  
5,0%  
12,6%  
36-47 tháng  
20,5%  
12-23 tháng  
24,4%  
24-35 tháng  
20,5%  
Biểu đồ 1. Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=483)  
Biểu đồ 1 cho thấy trẻ trong nghiên cứu được phân thành 6 nhóm tuổi, trẻ 12-23 tháng tuổi có tỷ  
lệ cao nhất (24,4%) và nhóm trẻ 0-5 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất (5%).  
Bảng 1. Mức độ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm tuổi (n=483)  
Nhẹ cân  
Thấp còi  
Gầy còm  
Chỉ số  
SDD độ II  
SDD độ I  
(%)  
SDD độ II  
SDD độ I  
(%)  
SDD  
độ II (%)  
SDD độ I  
(%)  
(%)  
(%)  
Dưới 6 tháng  
8,3  
1,6  
1,7  
2,0  
8,1  
4,9  
3,9  
4,2  
6,6  
8,3  
4,9  
8,3  
4,2  
1,6  
1,7  
1,0  
1,0  
1,2  
1,4  
4,2  
1,6  
3,4  
4,0  
2,0  
6,1  
3,5  
6-11 tháng  
21,3  
22,9  
30,3  
34,3  
30,5  
27,1  
12-23 tháng  
24-35 tháng  
36-47 tháng  
48-59 tháng  
Chung (0-59)  
14,4  
19,2  
21,2  
17,1  
15,7  
11,0  
12,1  
11,1  
7.3  
9,7  
31  
tạp chí nhi khoa 2016, 9, 2  
Kết quả bảng 1 cho thấy với SDD thể nhẹ cân,  
trẻ 0-5 tháng có tỷ lệ SDD mức II cao nhất (8,3%),  
thấp nhất là nhóm trẻ 6-11 tháng (1,6%). SDD  
thấp còi: trẻ 24-35 tháng có tỷ lệ SDD mức II cao  
nhất (12,1%) và thấp nhất là nhóm 6-11 tháng  
(4,9%). Ở thể gầy còm, nhóm trẻ 0-5 tháng có tỷ  
lệ SDD mức II cao nhất (4,2%) và thấp nhất là trẻ  
> 24 tháng.  
3.2. Yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng  
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài: tuổi trung  
bình của các bà mẹ tham gia nghiên cứu: 26,4  
5,6 (Min=16, Max=48), 22,8% (110/483) hộ gia  
đình (HGĐ) bị thiếu lương thực, thực phẩm (LTTP)  
trong năm qua. Thời gian thiếu LTTP của các là  
2,2 1,4 tháng (Min=0,3; Max=6,0).  
3.2.1. Ăn bổ sung và chăm sóc khi trẻ bệnh  
Biểu đồ 2. Kiến thức của các bà mẹ về việc cho trẻ ABS và chăm sóc khi trẻ bị ốm  
Có 46,2% các bà cho rằng nên cho trẻ ABS trước 6 tháng khiến trẻ cứng cáp hơn. 9,9% các bà mẹ  
cho rằng khi trẻ ốm chỉ cần uống thuốc nam, lá.  
32  
phần nghiên cứu  
Biểu đồ 3. Các chỉ số về đa dạng chế độ ăn cho trẻ 6-23 tháng tuổi (n=179)  
Từ biểu đồ 3 ta thấy chỉ có 35,2% trẻ có chế độ ăn đa dạng; 91,6% trẻ ăn đủ bữa (tùy theo độ tuổi);  
34,7% trẻ ăn đủ bữa và đa dạng chế độ ăn và 77,7% trẻ ăn thực phẩm giàu sắt.  
3.2.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố và tình trạng SDD của trẻ  
Bảng 2. Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi và một số yếu tố  
Tình trạng SDD thể nhẹ cân  
Chỉ số  
OR (95% CI)  
Giá trị P  
SDD  
(%)  
Bình thường  
(%)  
Chung  
(%)  
Giới tính trẻ  
Nam  
Nữ  
50 (20,4)  
45 (18,9)  
195 (79,6)  
193 (81,1)  
245 (100,0)  
238 (100,0)  
1,1 (0,7-1,7)  
2,1 (1,1-5,1)  
0,8 (0,5-1,3)  
1,9 (1,1-3,4)  
1,6 (1,1-2,6)  
0,6  
Nghề nghiệp mẹ  
Nông nghiệp  
Nghề khác  
90 (21,0)  
5 (9,1)  
338 (79,0)  
50 (90,9)  
428 (100,0)  
55 (100,0)  
0,04*  
0,5  
Trình độ học vấn (TĐHV) của mẹ  
Dưới cấp III  
41 (18,4)  
54 (20,8)  
182 (81,6)  
206 (79,2)  
223 (100,0)  
260 (100,0)  
Từ cấp III trở lên  
Thời gian ở nhà của bố  
Vắng nhà  
21 (29,6)  
74 (18,0)  
50 (70,4)  
71 (100,0)  
0,02*  
0,03*  
Ở nhà  
338 (82,0)  
412 (100,0)  
Kinh tế HGĐ  
Nghèo  
36 (25,5)  
59 (17,3)  
105 (74,5)  
283 (82,7)  
141 (100,0)  
342 (100,0)  
TB/Khá/Giàu  
*: ý nghĩa mức <0,05  
**: ý nghĩa mức <0,01  
***: ý nghĩa mức: <0,001  
33  
tạp chí nhi khoa 2016, 9, 2  
Kết quả bảng 2: không thấy mối liên quan thống kê (OR=2,1; 95%CI=1,1-5,1; p < 0,05). Trẻ  
giữa SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi với một số dưới 5 tuổi là con của những HGĐ có bố vắng  
yếu tố như: giới tính của trẻ, trình độ học vấn nhà trong thời gian sinh trẻ thì xác suất bị SDD  
(TĐHV) của mẹ. Tuy nhiên, nghiên cứu lại tìm cao gấp 1,9 lần nhóm trẻ có bố thường xuyên  
thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp của người ở nhà một cách có ý nghĩa thống kê (OR=1,9;  
mẹ; thời gian bố vắng nhà và tình trạng kinh tế 95%CI=1,1-3,4; p < 0,05). Tương tự như vậy,  
HGĐ với tình trạng SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới những trẻ thuộc HGĐ nghèo thì xác suất bị SDD  
5 tuổi. Những bà mẹ có làm nghề nông nghiệp cao gấp 1,6 lần so với nhóm trẻ thuộc HGĐ khá/  
thì có khả năng con bị SDD cao gấp 2,1 lần giàu có ý nghĩa thống kê (OR=1,6; 95%CI=1,1-  
so với nhóm bà mẹ làm nghề khác có ý nghĩa 2,6; p < 0,05).  
Bảng 3. Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi và một số yếu tố  
Tình trạng SDD thể thấp còi  
Chỉ số  
OR (95% CI)  
Giá trị P  
SDD  
(%)  
Bình thường  
(%)  
Chung  
(%)  
Giới tính trẻ  
Nam  
Nữ  
106 (43,3)  
72 (30,3)  
139 (56,7)  
166 (69,7)  
245 (100,0)  
238 (100,0)  
1,7 (1,2-2,5)  
2,9 (1,4-5,9)  
1,4 (1,05-2,1)  
1,7 (1,2-2,4)  
1,2 (0,7-2,0)  
1,5 (1,1-2,2)  
1,8 (1,2-2,7)  
2,3 (1,5-3,8)  
2,6 (1,6-4,2)  
0,003**  
0,002**  
0,04*  
Nghề nghiệp mẹ  
TĐHV của mẹ  
Dân tộc  
Nông nghiệp  
Nghề khác  
168 (39,3)  
10 (18,2)  
260 (60,7)  
45 (81,8)  
428 (100,0)  
55 (100,0)  
Dưới cấp III  
92 (41,3)  
86 (33,1)  
131 (58,7)  
174 (66,9)  
223 (100,0)  
260 (100,0)  
Từ cấp III trở lên  
Dao  
Tày  
101 (43,0)  
77 (31,0)  
134 (57,0)  
171 (69,0)  
235 (100,0)  
248 (100,0)  
0,007**  
0,4  
Thời gian ở nhà của bố  
Loại nhà vệ sinh (NVS)  
Vắng nhà  
Ở nhà  
29 (40,8)  
42 (59,2)  
71 (100,0)  
149 (36,2)  
263 (63,8)  
412 (100,0)  
Không có NVS đủ tiêu chuẩn  
Có NVS đủ tiêu chuẩn  
124 (40,1)  
54 (31,0)  
185 (59,9)  
120 (69,0)  
309 (100,0)  
174 (100,0)  
0,04*  
Kinh tế HGĐ  
Nghèo  
66 (46,8)  
75 (53,2)  
141 (100,0)  
342 (100,0)  
0,004**  
<0,001***  
<0,001***  
TB/Khá/Giàu  
112 (32,7)  
230 (67,3)  
Kiến thức nuôi dưỡng của bà mẹ  
Chưa tốt  
150 (41,4)  
28 (23,1)  
212 (58,6)  
93 (76,9)  
362 (100,0)  
121 (100,0)  
Tốt  
Thực hành nuôi dưỡng của bà mẹ  
Chưa tốt  
Tốt  
153 (41,7)  
25 (21,6)  
214 (58,3)  
91 (78,4)  
367 (100,0)  
116 (100,0)  
*: ý nghĩa mức <0,05  
**: ý nghĩa mức <0,01  
***: ý nghĩa mức: <0,001  
34  
phần nghiên cứu  
Kết quả bảng 3 đã tìm ra mối liên quan mạnh miền núi phía Bắc cả nước (30,7%, năm 2014) và  
giữa tình trạng SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi với tỉnh Tuyên Quang (26,1%). Tỷ lệ thể SDD thấp còi  
các yếu tố như: giới tính trẻ; nghề nghiệp của mẹ; được coi là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của xã  
TĐHV mẹ, dân tộc; loại NVS sử dụng, kinh tế HGĐ hội, phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo  
và kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ dài hoặc SDD trong quá khứ làm cho trẻ bị còi  
của người mẹ. Trẻ nam có nguy cơ bị SDD cao gấp cọc. Đây cũng là chỉ số đánh giá hậu quả của sự  
1,7 lần trẻ nữ (OR=1,7, 95%CI =1,2-2,5, p<0,01). đói nghèo. Hiện nay, SDD thể thấp còi đang là vấn  
Trẻ là con của các bà mẹ có TĐHV dưới cấp 3 thì đề phổ biến tại tất cả các vùng sinh thái trên cả  
nguy cơ bị SDD cao gấp 1,4 lần trẻ là con của bà  
mẹ có TĐHV cao hơn (OR=1,4; 95%CI=1,1-2,1;  
p<0,05). Trẻ dân tộc Dao có nguy cơ bị SDD cao  
gấp 1,7 lần trẻ dân tộc Tảy (OR=1,7; 95%CI=1,2-  
2,4; p <0,01). HGĐ sử dụng nhà tiêu không HVS  
thì trẻ có nguy cơ bị SDD cao gấp 1,5 lần so với trẻ  
của HGĐ có nhà tiêu HVS (OR=1,5; 95%CI=1,1-2;  
p<0,05). Tương tự như vậy thì trẻ ở HGĐ nghèo có  
nguy cơ bị SDD cao gấp 1,8 lần so với HGĐ khá/  
giàu (OR=1,8; 95%CI=1,2-2,7; p<0,01). Trong khi  
đó nhóm bà mẹ có kiến thức chưa tốt có xác suất  
con bị SDD thấp còi cao gấp 2,3 lần so với nhóm  
bà mẹ kiến thức tốt, có ý nghĩa thống kê (OR=2,3;  
95%CI=1,5-3,8; p<0,001). Nhóm bà mẹ có thực  
hành chưa tốt xác suất có con bị SDD thấp còi cao  
gấp 2,6 lần so với nhóm bà mẹ có thực hành tốt  
(OR=2,6; 95%CI=1,6-4,2, p<0,001).  
nước. Như vậy, chứng tỏ tỷ lệ trẻ SDD ở nước ta  
còn cao và có sự khác biệt giữa các vùng miền,  
đặc biệt là vùng miền núi cao, dân tộc thiểu số  
và vùng xa. Điều này được lý giải bởi sự bất cập  
trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ dân trí  
và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa  
khu vực nông thôn, miền núi so với các thành phố  
lớn và các khu đô thị. Trong kết quả nghiên cứu  
của chúng tôi (bảng 2; 3) thấy có mối liên quan  
giữa SDD với một số yếu tố như nghề nghiệp của  
người mẹ (bà mẹ làm nghề nông nghiệp thì có  
khả năng con bị SDD nhẹ cân cao gấp 2,1 lần so  
với nhóm bà mẹ làm nghề khác), thời gian bố  
vắng nhà và tình trạng kinh tế HGĐ ( trẻ thuộc  
HGĐ nghèo thì xác suất bị SDD nhẹ cân cao gấp  
1,6 lần và nguy cơ SDD thấp còi cao 1,8 lần so với  
nhóm trẻ thuộc HGĐ khá/giàu)...  
Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc trẻ đóng  
vai trò quan trọng dẫn tới SDD ở trẻ em. Điều  
4. BÀN LUẬN  
Dựa trên kết quả phân tích của 483 trẻ dưới 5 này phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ  
tuổi tại 5 xã dự án thuộc CTPTV, tỷ lệ SDD chung và thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Nhìn  
của cả 3 thể (bảng 1) là 61,4% cao hơn so với chung, năng lượng trong chế độ ăn ở trẻ em  
kết quả của Lê Phán (2008) trên trẻ em dân tộc nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực  
thiểu số huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa (57,8%) [6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ  
[4] và của Nguyễn Minh Tuấn (2008) tại vùng 2,3) có tỷ lệ cao 46,2% cho rằng nên cho trẻ  
đồng bào dân tộc Sán Chay tỉnh Thái Nguyên là ABS trước 6 tháng tuổi và 9,9% cho rằng ốm thì  
41,6%[5]. SDD thể thấp còi (CC/T) trung bình là cần uống thuốc nam và chỉ có 34,7% trẻ được  
36,8% cao hơn trung bình của khu vực trung du ăn đủ bữa và chế độ ăn đa dạng. Thời gian bắt  
35  
tạp chí nhi khoa 2016, 9, 2  
đầu ABS theo khuyến cáo chung là khi trẻ tròn gian người cha vắng nhà khi sinh trẻ và điều kiện  
6 tháng tuổi. ABS được coi là hợp lý khi trẻ ăn  
được các loại thức ăn cung cấp đủ năng lượng  
(có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết  
hợp với số lượng của mỗi bữa ăn) và đủ chất  
dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp đúng,  
đủ các nhóm thực phẩm bổ sung cho trẻ). Việc  
cho ABS sớm và không đúng cách đã góp phần  
làm tăng tỷ lệ SDD cho trẻ dưới 2 tuổi. Theo  
tác giả Nguyễn Thị Hải Anh thấy trẻ ABS không  
hợp lý có nguy cơ SDD tăng 2,7-4 lần [7]. Lê  
Phán nghiên cứu thấy có đến 68,8% trẻ ABS  
trước 4 tháng tuổi bị SDD và 59,8% trẻ SDD do  
ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày [4].  
Hiện nay, tình trạng bà mẹ cho con ABS sớm là  
vấn đề phổ biến của nước ta. Kiến thức, thực  
hành về dinh dưỡng của bà mẹ có liên quan  
nhiều đến trình độ học vấn của bà mẹ. Trẻ là  
con của các bà mẹ có TĐHV dưới cấp 3 thì nguy  
cơ bị SDD thấp còi cao gấp 1,4 lần trẻ là con  
của bà mẹ có TĐHV cao hơn (bảng 3) và nhóm  
bà mẹ có kiến thức chưa tốt có xác suất con bị  
SDD thấp còi cao gấp 2,3 lần so với nhóm bà  
mẹ kiến thức tốt, nhóm bà mẹ có thực hành  
chưa tốt xác suất có con bị SDD thấp còi cao  
gấp 2,6 lần so với nhóm bà mẹ có thực hành  
tốt. Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của bà  
mẹ có có tính quyết định trong công tác phòng  
chống SDD trẻ em. Các can thiệp dinh dưỡng  
cần chú trọng tới việc cải thiện kiến thức, thực  
hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ của các bà mẹ.  
kinh tế HGĐ. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng tìm  
thấy mối liên quan giữa SDD thấp còi ở trẻ dưới 5  
tuổi với các yếu tố: giới tính của trẻ, nghề nghiệp  
của mẹ, TĐHV của mẹ, dân tộc, loại nhà tiêu HGĐ  
sử dụng, kinh tế HGĐ, kiến thức và thực hành về  
chăm sóc dinh dưỡng và phòng bệnh cho trẻ của  
các bà mẹ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. WHO (2010), Global Database on Child  
Growth and Malnutrition 2010.  
2. UNICEF (2009), “The state of the world’s  
children 2009”, NewYork, USA, December, pp. 122-  
128.  
3. Chu Thị Phương Mai (2014), “Đánh giá tình  
trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng  
đến dinh dưỡng của trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại  
Phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung  
ương năm 2013-2014”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ  
đa khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.  
4. Lê Phán (2008), “Đánh giá kết quả phòng  
chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc  
thiểu số tại 4 xã đặc biệt khó khăn huyện Khánh  
Vĩnh tỉnh Khánh Hòa”, Luận án Nguyễn Minh  
Tuấn chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược Huế,  
tr. 93-94  
5. Nguyễn Minh Tuấn (2009), “Huy động  
nguồn lực cộng đồng chăm sóc dinh dưỡng trẻ  
em dưới 5 tuổi dân tộc Sán Chay tại Thái Nguyên”,  
Luận án tiến sĩ y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung  
5. KẾT LUẬN  
Có mối liên quan giữa tình trạng SDD nhẹ cân  
ở trẻ dưới 5 tuổi với nghề nghiệp của mẹ, thời ương, Hà Nội.  
36  
phần nghiên cứu  
6. Lawrence H. and Smith L (2000),  
7. Nguyễn Thị Hải Anh, Lê Thị Hợp (2006),  
“Overcoming child malnutrition in developing “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên  
countries: Past achievement and future quan đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi  
choices”, IFPRI, Washington DC, USA.], tỉnh Lào Cai năm 2005”, Tạp chí Dinh dưỡng và  
thực phẩm, 2 (3+4), tr. 29-35.  
ABSTRACT  
FIND OUT SOME RISK FACTORS MALNUTRITION IN CHILDREN  
UNDER AGE 5 IN TUYEN QUANG  
Objective: To investigate the relationship between some risk factors malnutrition and the  
nutritional status of the children under 5 years old. Subjects: Couple of children under 5 years old  
and their mothers. Research methods: Cross-sectional study. Results: For Children from poor  
households, the probability of underweight was 1.6 times higher and risk of stunting was 1.8 times  
higher than the group of children in rich households.The mothers with low educational degree (under high  
school level) has children with the risk of stunting was 1.4 times higher than the others. Mothers with  
limited knowledge and practice of feeding children have the probability of child stunting 2.3 and 2.6  
times higher than the group of mothers of best knowledge, best practices, respectively. Conclusion:  
There is a relationship between the state of malnutrition with a number of factors such as the mother’s  
occupation, education level, knowledge and practice on nutritional care, as well as financial status.  
Keywords: Malnutrition, risk factors.  
37  
pdf 9 trang yennguyen 17300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_mot_so_yeu_to_nguy_co_suy_dinh_duong_o_tre_duoi_5_t.pdf