Tài liệu Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA  
KỸ THUẬT  
TRỒNG VÀ CHĂM SÓC  
CÂY đậu tương  
ThS. Phạm Thị Xuân (Chủ biên), TS. Trần Danh Sửu,  
TS. Bùi Thị Thu Huyền, TS. Trần Thị Trường,  
ThS. Hà Minh Loan, TS. Dương Trung Dũng  
Hà Nội, 2017  
LỜI NÓI ĐẦU  
Cây đậu tương hay đỗ tương, đậu nành [Glycine max (L.) Merrill] là  
loại cây họ đậu (Fabaceae), có nguồn gốc từ Trung Quốc và hiện nay  
được trồng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đậu tương là cây  
trồng cạn ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao và có khả năng cải tạo đất  
tốt. Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí hợp lý sẽ góp phần tăng  
năng suất cả hệ thống cây trồng và giảm chi phí cho việc bón phân.  
Hạt đậu tương được dùng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho  
gia súc, nguyên liệu trong chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm, dược  
liệu và hàng xuất khẩu.  
Cuốn sách “Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương” được xuất  
bản nhằm giúp cho người đọc dễ dàng áp dụng những kiến thức cơ  
bản về cây đậu tương. Nội dung cuốn sách giúp cho cán bộ kỹ thuật  
ở địa phương và bà con nông dân nắm được kỹ thuật trồng, chăm sóc  
và quản lý sâu bệnh hại trên cây đậu tương một cách hiệu quả và an  
toàn cho con người và môi trường.  
Nhóm tác giả đã rất cố gắng trong quá trình tổng hợp và biên soạn  
tài liệu nhưng chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Rất mong được  
tiếp nhận các đóng góp của bạn đọc để nội dung cuốn sách ngày  
càng hoàn thiện và trở thành tài liệu hữu ích cho sản xuất cây đậu  
tương nói riêng và nông nghiệp nói chung.  
Nhóm tác giả  
3
I. KỸ THUẬT TRỒNG  
VÀ CHĂM SÓC  
CÂY ĐẬU TƯƠNG  
1.1. CHỌN ĐẤT VÀ CHUẨN BỊ ĐẤT  
a) Chọn đất  
Đậu tương là cây không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất  
khác nhau, nhưng để có năng suất cao thì tốt nhất là loại đất có  
thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, giữ ẩm và thoát nước tốt:  
đất thịt nhẹ, đất cát pha, phù sa ven sông, thích hợp nhất trên đất  
thịt pha cát. Ruộng cần bố trí nơi đất chủ động tưới tiêu nước, đặc  
biệt là trong vụ Đông ở các tỉnh phía Bắc.  
b) Làm đất, lên luống  
Đất phải được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại.  
Đất bãi ven sông và đất chuyên màu áp dụng kỹ thuật gieo trồng  
trên nền đất khô, đất có thể cày, bừa, lên luống hoặc san phẳng mặt,  
rạch thành hàng để gieo đậu.  
Đối với đất chuyên cho cây trồng cạn: Lên luống rộng 100 cm, cao  
20 - 25 cm, rạch 2 hàng. Khoảng cách giữa 2 hàng là 40 cm. Rãnh  
thoát nước rộng 30 - 35 cm.  
Trên chân đất vàn cao: Yêu cầu làm đất phải đảm bảo tơi xốp, bằng  
phẳng, sạch cỏ dại, xử lý đất trước khi gieo hạt bằng vôi bột. Lên  
luống rộng 1,0 - 1,2 m, rãnh rộng 30 - 35 cm, sâu 15 - 20 cm. Mặt  
luống được chia làm 2 - 3 hàng dọc theo chiều dài luống, rạch sâu  
2 - 3 cm, hàng cách hàng 30 - 40 cm.  
Trên đất sau lúa mùa: Áp dụng biện pháp không làm đất, gieo hạt vào  
gốc rạ hoặc gieo vãi có làm đất; yêu cầu ruộng thoát nước, cày tạo  
rãnh thoát nước với băng rộng 2 - 3 m.  
Đất dốc phải thiết kế thành băng chống xói mòn, phải lên luống tạo  
rãnh thoát nước kịp thời khi mưa to (mặt luống rộng 1,0 - 1,2 m, cao  
15 - 20 cm, rãnh rộng 25 - 30 cm).  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
6
1.2. THỜI VỤ  
a) Vụ Xuân  
Vùng đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc: Gieo từ 15/1 đến  
15/3, không nên gieo muộn để tránh giai đoạn làm quả gặp mưa và  
nắng to; riêng Đồng bằng sông Hồng tốt nhất là gieo 20/2 - 10/3.  
Vùng Bắc Trung bộ: Gieo từ 20/1 đến 10/2 để tránh gió Tây cuối  
tháng 4.  
Vùng Tây Bắc Bắc bộ: Gieo từ 1/3 đến 20/3.  
Vùng Nam Trung bộ: Gieo từ 10/1 đến 30/1.  
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Gieo cuối tháng 2, đầu tháng 3.  
b) Vụ Hè  
Các tỉnh phía Bắc:  
- Trên đất màu: Gieo từ 25/5 đến 20/6 đối với giống ngắn ngày.  
Vụ này nên sử dụng các giống có thời gian sinh trưởng ngắn  
như: ĐT12, DT99…  
- Trên đất 2 lúa: Gieo từ 25/5 đến 15/6.  
Các tỉnh miền Đông Nam bộ: Gieo từ 25/4 đến 10/5.  
c) Vụ Hè Thu  
Các tỉnh miền núi phía Bắc: Gieo từ 10/7 đến 25/7.  
Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế: Gieo từ 15/6  
đến 10/7.  
Các tỉnh miền Đông Nam bộ: Tranh thủ gieo trong mùa mưa, gieo từ  
1/8 đến 15/8, thu hoạch cuối tháng 10 đầu tháng 11 (ở thời điểm  
này trùng với thời tiết khô hanh nên rất thuận lợi cho việc thu hoạch).  
Vùng Tây Nguyên, Nam bộ: Gieo từ 15/5 đến 31/5.  
7
d) Vụ Đông  
Các tỉnh Đồng bằng sông Hồng: Gieo từ 1/9 đến 5/10, nhưng tốt  
nhất nên gieo trước 15/9. Nếu sử dụng các giống trung ngày, chịu  
rét có thể gieo đến 10/10.  
Chú ý: Gặt lúa Mùa xong tranh thủ gieo đậu tương ngay để tận  
dụng những điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, ẩm độ của đầu vụ,  
đậu tương Đông càng gieo muộn cây sinh trưởng càng kém và  
năng suất càng thấp.  
Các tỉnh Duyên hải miền Trung: Đối với đất chuyên trồng màu và đất  
bãi ven sông, sau khi nước rút có thể gieo sớm, từ 15/9 đến 20/9.  
Trên đất ruộng cao kết thúc gieo trong tháng 10.  
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Gieo chủ yếu vào mùa khô, trong  
tháng 12.  
1.3. MẬT ĐỘ, KHOẢNG CÁCH  
Gieo ở mật độ 25 - 50 cây/m2 tuỳ theo hình thức gieo, giống và vụ  
gieo trồng. Khoảng cách gieo: Hàng cách hàng 60 - 65 cm; cây cách  
cây 15 cm.  
Vụ Đông thời tiết lạnh và ngày ngắn nên gieo dày hơn; tiếp đó là Vụ  
Xuân; vụ Hè cây phát triển, phân cành mạnh nên gieo thưa hơn.  
Giống có thời gian sinh trưởng ngắn (70 - 90 ngày) gieo dày: 35 - 50  
cây/m2; giống có TGST trung bình (90 - 100 ngày) gieo mật độ vừa  
phải: 25 - 40 cây/m2; giống có TGST dài (trên 100 ngày) gieo thưa  
hơn: 20 - 35 cây/m2.  
Gieo theo luống trên nền đất khô: Lượng giống 55 - 60 kg/ha, hàng  
cách hàng 30 - 40 cm, gieo 2 hạt/hốc, hốc cách hốc 7 - 8 cm.  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
8
1.4. CÁCH GIEO  
Gieo vãi: Áp dụng với ruộng cao, đất chỉ cần cày lên là có thể gieo  
vãi. Lượng giống 80 - 90 kg/ha, khi gieo đất phải đủ ẩm (ướt như đất  
chuẩn bị gieo mạ). Chia hạt cho từng luống hoặc băng để rắc cho đều,  
sau khi gieo tiến hành phủ hạt và chuẩn bị lối thoát nước cho ruộng.  
Chọn khoảng ruộng an toàn, gieo dày thêm cho mỗi héc ta khoảng  
150 - 200 m2 để dặm. Thời điểm tỉa dặm sau gieo từ 5 - 7 ngày.  
Gieo theo hàng (tra rạch): Gặt sát gốc rạ, sau đó tạo rãnh thoát nước  
bằng cày, cuốc, các rãnh cách nhau 1,5 m (bằng bề ngang luống). Tạo  
rạch ngang luống, sâu 2 - 3 cm, các rạch cách nhau 30 - 35 cm và tra  
hạt vào rạch, hạt cách hạt 3 - 5 cm.  
Gieo theo hàng và luống: Lên luống rộng 1,2 m, rãnh rộng 30 - 40 cm,  
sâu 20 - 25 cm. Dùng đòn gánh hoặc thanh gỗ nặng hình tam giác  
chém ngang luống hoặc dùng cuốc tạo thành rạch ngang sâu 2 - 3 cm,  
rạch cách nhau 30 cm. Tra hạt theo hốc 2 - 3 hạt với hốc cách hốc  
7 - 12 cm.  
- Gieo theo gốc rạ: Thu hoạch lúa xong,  
tạo rãnh thoát nước như trường hợp  
gieo vãi. Dùng tay gạt nghiêng gốc rạ,  
tra mỗi gốc rạ 1 - 2 hạt vào kẽ tiếp xúc  
giữa đất và gốc rạ, tuyệt đối không tra  
a
vào giữa gốc rạ, hạt đậu sẽ không hút  
được ẩm để nảy mầm. Bỏ cách một hàng  
rạ không gieo. Lượng giống 60 kg/ha.  
Chú ý: Không gieo hạt vào những  
ngày mưa to, hạt bị trương nước  
làm giảm sức nảy mầm; Phơi lại  
b
hạt giống trước khi gieo, phơi trên  
Hình 1. Gieo đậu tương  
nong, nia, dưới nắng nhẹ để kích  
thích hạt nảy mầm.  
(a: lên luống, gieo theo hàng;  
b: gieo theo gốc rạ)  
9
1.5. PHÂN BÓN VÀ CÁCH BÓN  
a) Lượng phân bón  
Lượng phân bón cho 1 ha đậu tương trồng thuần:  
- Phân bón hữu cơ: 10 - 12 tấn phân chuồng hoai mục, nếu được  
ủ bằng nấm Trichoderma thì rất tốt, vừa phân hủy tốt xác bã  
hữu cơ, vừa cung cấp một số chủng nấm đối kháng diệt một số  
nấm có hại trong đất trồng đậu tương; trong trường hợp không  
có phân chuồng thì dùng 1,5 - 2 tấn phân hữu cơ vi sinh.  
- Vôi bột: 400 - 500 kg.  
- Dinh dưỡng nguyên chất: 10 - 20 kg N, 30 - 60 kg P2O5, 40 - 70  
kg K2O tùy theo giống và mùa vụ.  
b) Cách bón  
Toàn bộ phân hữu cơ, phân  
lân nên trộn đều rồi ủ vài  
ngày trước khi bón để tăng  
hiệu quả sử dụng phân. Vôi  
bột bón lên mặt luống khi  
làm đất.  
- Bón lót toàn bộ phân  
chuồng hoai mục  
Hình 2. Bón thúc lần 1 cho đậu tương  
(hoặc hữu cơ vi sinh)  
+ toàn bộ phân lân +  
1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali trước lúc bừa lần cuối cùng hoặc  
bón vào hốc, vào hàng đã rạch. Trước khi gieo hạt cần phủ lớp  
đất mỏng lên phân đã bón lót, tránh để hạt tiếp xúc với phân  
bón.  
- Bón thúc lần 1: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali khi cây có 2 - 3  
lá thật.  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
10  
- Bón thúc lần 2: Số phân còn lại khi cây có 5 - 6 lá thật, kết hợp  
làm cỏ và vun xới.  
Lưu ý: Những vùng đất chua nên bón phân lân nung chảy.  
1.6. CHĂM SÓC  
Tỉa, dặm: Khi cây có 1 - 2 lá thật, kiểm tra tỉa bỏ các cây còi cọc, cây  
sâu bệnh, chỉ để lại 1 - 2 cây đậu khỏe/khóm. Dặm cây mới vào những  
chỗ cây bị chết, héo.  
Xới xáo: Áp dụng cho chân đất khô với phương thức gieo theo hàng.  
Không áp dụng trong vụ Đông gieo trên nền đất ướt có phủ rơm rạ.  
Lần 1: Khi cây có 2 - 3 lá thật, xới nhẹ vào gốc, tỉa định cây, kết hợp  
bón thúc lần 1. Lần 2: Khi cây có 5 - 6 lá thật, xới vun cao sát gốc,  
kết hợp bón thúc lần 2.  
Tưới nước: Nguyên tắc chung cần giữ độ ẩm đồng ruộng thường  
xuyên 65 - 70% độ ẩm tối đa.  
Tưới nước vào các thời kỳ 2 - 4 lá thật, trước khi ra hoa, hình thành  
quả và quả trưởng thành (có thể tưới bất kỳ giai đoạn nào khi cần  
để đảm bảo độ ẩm yêu cầu nêu trên). Cách tưới: Tưới rãnh ngập 2/3  
luống để ngấm đều, sau đó tháo cạn.  
Hình 3a. Xới xáo cho đậu tương  
Hình 3b. Tưới nước cho đậu tương  
11  
1.7. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH  
Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng và khuyến khích áp dụng các  
biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (Sử dụng giống kháng bệnh,  
thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, kỹ thuật làm đất, bón  
phân, luân xen canh cây trồng hợp lý, vệ sinh đồng ruộng …)  
a) Sâu chính hại đậu tương  
Sâu xám: Thường gây hại trong giai đoạn cây con. Sâu cắn ngang  
thân làm cây gãy, đổ và chết.  
Phòng trừ bằng cách làm đất kỹ để diệt nhộng và sâu non, có thể  
dùng thuốc hoá học trừ diệt sâu non, bắt vào buổi sáng sớm hoặc  
chiều mát nếu mật độ thấp. Mật độ cao sử dụng các loại thuốc như:  
Sugadan 30G, Vifuran 3G,… theo hướng dẫn của nhà sản xuất.  
Ruồi đục thân: Trong vụ Đông, sâu non (dòi) phá hại nặng trên cây  
con vào tháng 10, 11. Con trưởng thành (ruồi nhỏ) phá hại ở các bộ  
phận lá và thân cây.  
a
b
c
d
e
f
Hình 4. Một số loại sâu chính hại đậu tương  
(a, b: sâu xám; c, d: ruồi đục thân; e, f: sâu đục quả)  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
12  
Phòng trừ bằng cách phun các loại thuốc có hiệu lực cao như: Angun  
5ME, Golnitor 50WDG, Soka 25EC… khi đến ngưỡng theo khuyến cáo  
của nhà sản xuất.  
Sâu đục quả: Sâu tập trung phá hại khi cây ra quả non, hạt mới hình  
thành bị sâu đục, không phát triển nữa. Sâu non gặm vỏ quả, đục  
vào trong ăn hạt đậu tương làm cho hạt bị khuyết từng phần hoặc  
bị rỗng bên trong, làm giảm năng suất và hạt không dùng làm giống  
được. Ngoài ra, sâu còn đục phá thân cây, làm cây sinh trưởng chậm  
hoặc chết khô. Sâu đục quả gây hại mạnh cả đậu tương Xuân Hè và  
Hè Thu. Sâu non phân bố và gây hại trong ruộng đậu tương ở xung  
quanh bờ nhiều hơn ở giữa ruộng. Đậu tương càng gieo trồng muộn  
càng bị hại nặng.  
Trừ sâu đục quả bằng cách phun thuốc trừ sâu non như Surpacide  
40ND, Dipterex, Fastas 5EC, Fortac 5EC… Dùng Detect 50WP  
liều lượng 2 lít/ha, pha 0,15 - 0,2 lít với bình 10 lít phun 2 - 3  
bình/1000 m2.  
Sâu cuốn lá: Sâu cuốn lá đậu tương phát sinh quanh năm trên đồng  
ruộng. Mật độ của sâu tăng nhanh và gây hại lớn nhất vào thời kỳ  
cây 4 - 6 lá kép và quả đang phát triển. Khi trưởng thành, sâu hoạt  
động mạnh vào chiều tối, thích ánh sáng đèn; thông thường đẻ trứng  
ở mặt dưới lá non.  
Phòng trừ: Luân canh đậu tương với lúa hoặc các cây họ hòa thảo,  
bông... có tác dụng hạn chế sâu hại rõ rệt. Bảo vệ và tăng cường hoạt  
động của thiên địch bằng cách trồng xen đậu tương với cây trồng  
khác. Thời kỳ sâu thường gây hại nặng là khi cây có từ 3 - 4 là kép  
đến lúc quả non. Khi cần thiết dùng các loại thuốc có hiệu quả diệt  
sâu cao như Bulldock 25 EC (Beta - Cyflutlirin) 0,8 - 1 lít/ha, Forvin  
85 WP (Carbaryl) 0,75 - 1 kg/ha, Karate 25 EC (Lambda - Cyhalothrin)  
0,3 - 0,5 lít/ha; Baythroid 50 EC. 5 SL (Cyfluthrin) 0,6 - 0,8 lít/ha.  
13  
b
c
a
d
Hình 5. Sâu cuốn lá hại đậu tương (a); ấu trùng (b)  
và trưởng thành (c) của sâu cuốn lá; (d) Rệp ở các giai đoạn  
trưởng thành khác nhau quan sát thấy trên lá cây  
Rệp hại đậu tương: Rệp trưởng thành và rệp non tụ tập châm chích,  
hút chất dịch ở lá non, ngọn cây, nụ hoa và quả.  
Sau khi bị hại thì lá teo quắt, khô chết; ngọn cây, hoa, quả héo rũ thui  
chết không được thu hoạch. Rệp còn là môi giới truyền vi rút.  
Phòng trừ: Tiến hành chăm sóc, làm cỏ kịp thời tạo điều kiện thông  
thoáng trong ruộng đậu. Tiêu diệt trứng qua đông và vệ sinh  
đồng ruộng khi gieo trồng đậu tương. Luân canh đậu tương với lúa  
nước và lúa nương. Dùng các loại thuốc hóa học như Bestox 5 EC  
(0,4 - 0,7 lít/ha), Fastac 5 EC (0,4 - 0,7 lít/ha), Confidor 100 SL  
(0,6 - 0,8 lít/ha).  
Ngoài ra, còn có các đối tượng sâu hại lá (sâu xanh, sâu khoang), bọ  
xít xanh chích hút lá, quả. Các đối tượng này làm lá sinh trưởng kém,  
quả lép, không chín được.  
Phòng trừ: Dùng thuốc hoá học như BiAn 40EC, BiAn 50EC, Sherpa,  
Polytin, Oncol, Padan 95SP, Dipterex… theo đối tượng. Liều lượng  
theo khuyến cáo của nhà sản xuất.  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
14  
b) Bệnh chính hại đậu tương  
Bệnh lở cổ rễ: Bệnh gây hại nặng nhất ở giai đoạn cây con, đặc biệt  
phát sinh mạnh nhất trong điều kiện làm đất không kỹ, độ ẩm cao.  
Cây bị bệnh ở cổ rễ có lớp sợi trắng, cây bị vàng úa và bị chết.  
Phòng trừ: Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng các loại thuốc trừ  
nấm. Dùng các loại thuốc hoá học như Anvil 5SC, Score 250EC, Cavil  
50SC… phun theo hướng dẫn của nhà sản xuất.  
o
Bệnh gỉ sắt: Ở nhiệt độ 22 - 24 C và ẩm độ không khí cao, bệnh phát  
sinh mạnh nhất. Cây bị bệnh xuất hiện đốm nâu ở mặt dưới lá, đốm  
có dạng tròn hoặc dạng có góc cạnh hoặc bất dạng, có màu nâu  
vàng hoặc nâu đỏ như màu rỉ sắt hoặc nâu đen. Bào tử nấm phát  
triển trong vết bệnh, làm giảm diện tích quang hợp của lá làm lá  
bị vàng, mất khả năng quang hợp, rụng sớm, làm giảm số lượng và  
trọng lượng hạt.  
Phòng trừ bằng cách chọn giống chống chịu bệnh và bố trí thời vụ  
thích hợp. Sử dụng các loại thuốc như: Callihex 5SC, Cavil 50SC,…  
theo khuyến cáo của nhà sản xuất.  
Bệnh sương mai (đốm nâu): Bệnh gây hại trong vụ Đông Xuân nhiều  
hơn; hại các bộ phận như lá, thân, quả, nhưng chủ yếu là lá. Vết bệnh  
rải rác trên lá nhưng thường ở dọc các gân lá. Lúc đầu xuất hiện  
những chấm nhỏ màu xanh vàng xám dần; vết bệnh mở rộng hình  
thành đa giác, hình không cố định, cuối cùng vết bệnh có màu nâu  
vàng, khô cháy. Mặt dưới vết bệnh có lớp mốc trắng xám, hơi xốp, đó  
là các cành bào tử của nấm gây bệnh. Bóc quả bị bệnh thấy bên trong  
cũng có lớp nấm mốc trắng xám, hạt lép.  
Phòng trừ bằng cách dùng hạt giống ở các ruộng không bị bệnh  
để gieo. Sau khi thu hoạch dọn sạch tàn dư trên đồng ruộng. Luân  
canh một vài vụ với lúa nước hoặc một vài loại rau trồng nước khác  
để cắt nguồn bệnh. Trong thời kỳ cây sinh trưởng có thể phun trừ  
bằng Ridomil Gold 68 BHN (2 - 3 kg/ha); Ridomil MZ72 BHN (2,5 - 3  
kg/ha); Ridomil 5G (10 - 14 kg/ha), Zithane Z 80WP, Goldsai 350WP,  
Vilaxyl 35BTN.  
15  
Bệnh thán thư: Bệnh hại từ giai đoạn cây con đến giai đoạn có hoa,  
quả và gây hại nặng nhất trong điều kiện ẩm độ không khí cao và  
nhiệt độ thấp; độ ẩm dưới 80% bệnh có thể ngừng phát triển. Trên  
lá, vết bệnh hình tròn, màu nâu đen, hơi lõm. Trên thân cây con, vết  
bệnh kéo dài, màu nâu vàng, hơi lõm xuống và nứt nẻ. Bệnh nặng,  
nhiều vết hợp thành vệt dài làm cây con khô chết, đổ rạp xuống.  
Phòng trừ: Xử lý hạt giống trước khi gieo trồng. Khi bệnh chớm xuất  
hiện phải xử lý bằng các loại thuốc như Somec 2SL, Diboxylin 2L,…  
theo khuyến cáo của nhà sản xuất.  
a
b
c
d
Hình 6. Một số bệnh chính hại đậu tương  
a: bệnh lở cổ rễ; b: bệnh gỉ sắt; c: bệnh sương mai; d: bệnh phấn trắng)  
(
Bệnh khảm lá: Khi bị bệnh lá cây có những phần xanh nhạt, đậm và  
biến vàng xen kẽ, cây chậm phát triển. Lá non ở ngọn bị khảm lá  
mạnh và biến dạng; quả thường lép. Cây bị bệnh đọt non xoăn lại, các  
đốt thân co ngắn, cây chùn lại, phát triển chậm, quả ít và biến dạng,  
sần sùi, có vị đắng.  
Hình 7. Bệnh khảm lá hại đậu tương  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
16  
Biện pháp phòng trừ: Trồng cách ly ruộng làm giống với ruộng đậu  
thương phẩm. Nhổ bỏ những cây bị bệnh trên ruộng, tránh lây lan  
từ cây bệnh sang cây khỏe. Diệt trừ côn trùng truyền bệnh (rệp,  
bọ trĩ) bằng các loại thuốc hoá học. Bệnh do vi rút gây nên, chưa  
có thuốc trị.  
Ngoài ra, cần quan tâm và phòng trừ kịp thời một số bệnh hại  
khác như bệnh phấn trắng, héo gốc, héo vàng, thối thân, héo  
xanh vi khuẩn…  
1.8. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN  
a) Thu hoạch  
Thời điểm thu hoạch: Khi trên cây có 80 - 85% quả chín (trên 2/3 số  
quả chuyển sang màu vàng sẫm). Thu hoạch vào ngày thời tiết nắng  
ráo để tiện vận chuyển và phơi. Không thu đậu vào lúc mưa, hạt dễ  
bị thối, mốc.  
a
c
b
d
Hình 8. a, b: cây đậu tương ở thời điểm thu hoạch  
thích hợp; c: cắt gom cây, d: phơi khô  
17  
Cắt gom cây, rồi rải phơi trên sân gạch hoặc bê tông 3 - 4 nắng, tuốt  
lấy hạt trên máy tuốt lúa đạp chân, sàng, sảy.  
Phân loại: Những cây chín nhiều (khô) phơi riêng, cây còn nhiều quả  
xanh có thể ủ thêm 2 - 3 ngày cho chín tiếp. Cây khô đập tách lấy  
hạt, phân loại để bảo quản hoặc tiêu thụ.  
b) Bảo quản  
Nếu bảo quản dài ngày, cần phơi khô hạt trên nong, nia, cót, bạt,...  
đến khi hạt giống đạt độ ẩm 10 - 12%. (cắn hạt không dính răng,  
nghe tiếng kêu giòn cốp là được). Không phơi hạt trực tiếp trên nền  
xi măng, nền gạch. Gom lại hạt đậu, để nơi thoáng mát 4 - 6 giờ cho  
nguội, đóng bao bì, bảo quản nơi khô ráo và chủ động phòng trừ mọt  
đục hạt.  
a
c
b
Hình 9. Phơi khô hạt trên nong, nia (a), gom lại đóng bao bì  
bảo quản (b) hoặc bảo quản trong chum, vại (c)  
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang yennguyen 19201 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu tương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_ky_thuat_trong_va_cham_soc_cay_dau_tuong.pdf