Sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của tỉnh An Giang qua đánh giá của du khách nội địa

AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
SỰ ĐÁP ỨNG CÁC NGUYÊN TẮC DU LỊCH BỀN VỮNG  
CỦA TỈNH AN GIANG QUA ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH NỘI ĐỊA  
Nguyễn Trọng Nhân1  
1Trường Đại học Cần Thơ  
Thông tin chung:  
Ngày nhận bài: 01/03/2019  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
20/07/2020  
Ngày chấp nhận đăng:  
01/2021  
ABSTRACT  
This study aims to explore influencing factors amd to analyze the satisfaction  
of the sustainable tourism principles of An Giang province. The results of  
this research point out 7 factors that affecting the satisfaction of the  
sustainable tourism principles of An Giang province classified by its  
descending importance including: “Local economic support and honesty in  
marketing destination image”, “Environmental protection, infrustructure  
development investment, participation and benefit of local people, activities  
to change the behavior of visitors”, “Tourism staff training”, “Using  
resources sustainably”, “Trash management and activities to change  
behavior of local people”, “Natural diversity”, “Cultural diversity”. An  
Giang province was highly evaluated for the satisfaction of the principles of  
sustainable toursim.  
Title:  
Meeting of the sustainable  
tourism principles of An Giang  
province through the  
evaluation of domestic tourists  
Keywords:  
Tourism, sustainable tourism,  
principles of sustainable  
tourism, An Giang province  
Từ khóa:  
TÓM TẮT  
Du lịch, du lịch bền vững,  
nguyên tắc du lịch bền vững,  
tỉnh An Giang  
Với mục đích khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng các nguyên  
tắc du lịch bền vững, phân tích sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững  
của tỉnh An Giang, nghiên cứu này được thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy, 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững  
của tỉnh An Giang theo tầm quan trọng giảm dần là “Hỗ trợ kinh tế địa  
phương và sự trung thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến”, “Bảo vệ môi  
trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham gia và hưởng lợi của người dân địa  
phương, những hoạt động thay đổi hành vi của du khách”, “Đào tạo nhân  
viên”, “Sử dụng nguồn lực một cách bền vững”, “Quản lý rác thải và hoạt  
động thay đổi hành vi của người dân địa phương”, “Sự đa dạng thiên  
nhiên”, “Sự đa dạng văn hóa”. Tỉnh An Giang được đánh giá cao về sự đáp  
ứng các nguyên tắc du lịch bền vững.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã  
hội,… Nhận thức được vai trò to lớn của ngành du  
Du lịch là ngành dịch vụ tổng hợp, có khả năng  
đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều  
việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo  
động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển,  
lịch, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW  
về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi  
nhọn, trong đó, xác định mục tiêu, đến năm 2020,  
ngành du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi  
18  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
nhọn; phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là  
ngành kinh tế mũi nhọn (Bộ Chính trị, 2017).  
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần  
thứ X cũng xác định “phát triển du lịch tỉnh An  
Giang thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh”  
(Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2017). Từ đó  
cho thấy, ngành du lịch nói chung, ngành du lịch  
tỉnh An Giang nói riêng đang nhận được sự quan  
tâm của các cấp.  
nghiệm chất lượng cho du khách mà còn cải thiện  
chất lượng cuộc sống của cộng đồng, bảo vệ chất  
lượng môi trường, duy trì nguồn tài nguyên du  
lịch, nâng cao sự hài lòng của du khách,… Năm  
1992, Tổ chức Tourism Concern biên soạn các  
nguyên tắc du lịch bền vững dưới dạng lý thuyết  
để các quốc gia, điểm đến du lịch, nhà kinh doanh  
du lịch có thể áp dụng vào việc nghiên cứu, quản  
lý, định hướng phát triển du lịch nhằm thúc đẩy  
ngành du lịch phát triển một cách bền vững.  
Niedziolka (2012) cho rằng: bộ nguyên tắc này có  
thể áp dụng đối với tất cả những loại hình du lịch  
ở mọi điểm đến. Tuy nhiên, thời gian qua, chưa  
thấy công trình nghiên cứu nào áp dụng bộ  
nguyên tắc này trong đánh giá sự bền vững của  
hoạt động du lịch ở điểm đến, trong khi đó, phát  
triển du lịch bền vững luôn là chiến lược trọng  
tâm ở cấp độ toàn cầu. Với mục đích nhận diện  
những nhân tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng các  
nguyên tắc của du lịch bền vững, sự đáp ứng các  
nguyên tắc của du lịch bền vững tỉnh An Giang,  
nghiên cứu này được thực hiện. Kết quả nghiên  
cứu cung cấp cơ sở thực tiễn hữu ích cho các bên  
liên quan trong việc thực thi những giải pháp  
nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành  
du lịch tỉnh An Giang.  
An Giang là tỉnh giàu có về tài nguyên du lịch tự  
nhiên và văn hóa. Thời gian qua, được sự quan  
tâm của cả hệ thống chính trị, người dân, ngành  
du lịch tỉnh đã đạt được một số thành tựu đáng ghi  
nhận (số lượt khách năm sau cao hơn năm trước;  
cơ sở dịch vụ du lịch có bước phát triển khá; các  
sản phẩm du lịch từng bước được quan tâm, đầu  
tư phát triển; hạ tầng viễn thông phát triển khá  
đồng bộ; chất lượng dịch vụ du lịch ngày càng tốt  
hơn; hạ tầng giao thông và hệ thống nhà vệ sinh  
đạt chuẩn được tích cực đầu tư;…) (Ủy ban Nhân  
dân tỉnh An Giang, 2017). Bên cạnh những mặt  
mạnh, ngành du lịch tỉnh cũng tồn tại một số hạn  
chế (hệ thống nhà hàng, khách sạn, cơ sở lưu trú  
mang tính nhỏ lẻ, rời rạc, dịch vụ du lịch nghèo  
nàn, thiếu những khu vui chơi, giải trí có tầm vóc,  
các trung tâm mua sắm hiện đại; ở các khu/điểm  
du lịch, tình trạng hệ thống nhà vệ sinh thấp kém,  
thiếu hệ thống xử lý rác; các công ty lữ hành trong  
tỉnh quy mô nhỏ và yếu, hoạt động chưa có tính  
chuyên nghiệp cao, chưa tham gia mạnh mẽ vào  
khâu xúc tiến, quảng bá du lịch; hệ thống giao  
thông cầu, đường vẫn chưa đáp ứng được lưu  
lượng giao thông ngày càng tăng, nhất là vào mùa  
cao điểm lễ hội của tỉnh; nguồn nhân lực hoạt  
động trong lĩnh vực du lịch chưa được đào tạo bài  
bản, chuyên nghiệp;…) (Ủy ban Nhân dân tỉnh  
An Giang, 2017) ảnh hưởng không nhỏ đến sự  
phát triển của ngành du lịch nói chung, sự phát  
triển bền vững của ngành du lịch An Giang nói  
riêng.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về du lịch bền vững  
Đầu thế kỉ XX, sự phát triển mạnh mẽ của khoa  
học và công nghệ làm cho năng suất lao động  
không ngừng được nâng cao, của cải vật chất làm  
ra ngày càng nhiều, đáp ứng phần nào nhu cầu về  
vật chất và tinh thần của nhân loại. Song, từ sự  
phát triển ấy, con người đã khai thác nhiều tài  
nguyên thiên nhiên và tạo ra nhiều chất thải hơn.  
Điều này gây ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh  
học, môi trường, cảnh quan, chất lượng cuộc sống  
con người. Đứng trước tình thế đó, loài người  
nhận thức được rằng tăng trưởng kinh tế chưa  
phải là độ đo duy nhất của sự phát triển. Do đó,  
cần phải xem xét và đánh giá đúng các mối quan  
hệ con người với Trái đất, phát triển kinh tế và xã  
Phát triển du lịch theo hướng bền vững là quan  
điểm trung tâm của các quốc gia, điểm đến du lịch  
và là xu hướng của mọi thời đại. Điểm đến du lịch  
phát triển bền vững không chỉ cung cấp những trải  
19  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
lịch một cách có trách nhiệm, tiến hành nghiên  
hội với bền vững môi trường, đó là sự phát triển  
bền vững (Lê Văn Khoa và cs., 2009). Quan điểm  
phát triển bền vững chính thức ra đời năm 1987  
khi Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển  
cho xuất bản báo cáo “Tương lai chung của chúng  
ta”. Trong báo cáo, phát triển bền vững được định  
nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được những nhu  
cầu của thế hệ hiện tại mà không tổn hại đến khả  
năng đáp ứng các nhu cầu ấy cho thế hệ tương lai”  
(Daniels và cs., 2005, tr. 158). Phát triển bền vững  
dựa trên 3 trụ cột: phát triển kinh tế, bảo vệ môi  
trường và phát triển văn hóa - xã hội. Quan điểm  
phát triển bền vững được ứng dụng vào lĩnh vực  
du lịch vào thập niên 80 của thế kỉ XX (Lê Văn  
Thăng và cs., 2008). Đến thập niên 90 của thế kỉ  
XX, du lịch bền vững chiếm lĩnh địa vị thống trị  
cả trong lĩnh vực học thuật, chính sách du lịch và  
quá trình quy hoạch phát triển du lịch (Ashley et  
al., 2001; dẫn theo Yazdi, 2012). Đầu thế kỉ XXI,  
ý tưởng về du lịch bền vững trở nên phổ biến hơn  
trong lĩnh vực công (Niedziolka, 2012). Vậy thế  
nào là du lịch bền vững? Theo Tổ chức Du lịch  
Thế giới (1998; dẫn theo Lu & Nepal, 2009), du  
lịch bền vững là du lịch đáp ứng được nhu cầu của  
du khách ở hiện tại mà lại duy trì và nâng cao cơ  
hội du lịch cho các du khách ở tương lai.  
cứu (Tổ chức Tourism Concern, 1992;  
Niedziolka, 2012).  
-
Sử dụng nguồn lực một cách bền vững. Hoạt  
động du lịch liên quan đến việc sử dụng nguồn  
tài nguyên thiên nhiên và văn hóa. Nhiều  
nguồn tài nguyên này không thể nhân tạo hoặc  
phục dựng đúng như nguyên bản của chúng.  
Vì vậy, việc bảo tồn và sử dụng bền vững  
nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa là tối  
cần thiết bởi nó giúp cho việc kinh doanh du  
lịch phát triển lâu dài (Tổ chức Tourism  
Concern, 1992).  
-
Giảm chất thải và tiêu thụ quá mức. Chất thải  
từ các hoạt động kinh tế, sản xuất và đời sống  
dẫn tới sự xuống cấp về môi trường của điểm  
đến du lịch một cách lâu dài. Sự tiêu thụ quá  
mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn tới sự phá  
hủy môi trường điểm đến du lịch, quốc gia,  
toàn cầu và điều này đi ngược lại với mục tiêu  
phát triển lâu dài. Vì vậy, giảm chất thải và  
tiêu thụ quá mức sẽ tránh được những chi phí  
tốn kém cho việc phục hồi những tổn hại về  
môi trường và góp phần nâng cao chất lượng  
của hoạt động du lịch ở điểm đến (Tổ chức  
Tourism Concern, 1992).  
2.1.2 Mô hình nghiên cứu về mức độ đáp ứng  
các nguyên tắc du lịch bền vững  
-
Duy trì tính đa dạng. Do sự phát triển của các  
hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch, chắc  
chắn sẽ làm thay đổi môi trường thiên nhiên,  
văn hóa, xã hội và kinh tế. Do đó, việc duy trì  
và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên,  
văn hóa và xã hội là hết sức quan trọng cho du  
lịch bền vững và cũng là chỗ dựa sinh tồn của  
ngành công nghiệp du lịch (Tổ chức Tourism  
Concern, 1992).  
Phát triển du lịch bền vững mang lại nhiều lợi ích  
cho điểm đến du lịch, người dân nước đón  
khách/địa phương, công ty du lịch, du khách và  
chính quyền địa phương trên phương diện kinh tế,  
văn hóa, xã hội và môi trường. Nhận thức được  
điều này, năm 1992, tổ chức Tourism Concern  
biên soạn các nguyên tắc du lịch bền vững để vận  
động các bên liên quan áp dụng trong quản lý, quy  
hoạch điểm đến hướng đến sự phát triển du lịch  
bền vững. Các nguyên tắc du lịch bền vững gồm  
sử dụng nguồn lực một cách bền vững, giảm chất  
thải và tiêu thụ quá mức, duy trì tính đa dạng, hợp  
nhất du lịch vào quy hoạch, hỗ trợ kinh tế địa  
phương, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa  
phương, lấy ý kiến của quần chúng và các đối  
tượng có liên quan, đào tạo nhân viên, tiếp thị du  
-
-
Hợp nhất du lịch vào quy hoạch. Việc hợp  
nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ  
hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa  
phương, tiến hành đánh giá tác động môi  
trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của  
ngành du lịch (Tổ chức Tourism Concern,  
1992).  
Hỗ trợ kinh tế địa phương. Ngành du lịch hỗ  
trợ được các hoạt động kinh tế địa phương và  
20  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
nghiệp du lịch phát triển lâu dài và bền vững  
có tính đến các giá trị và chi phí về mặt môi  
trường thì mới bảo vệ được các nền kinh tế địa  
phương và tránh được sự tổn thất về môi  
trường (Tổ chức Tourism Concern, 1992).  
Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa  
phương. Sự tham gia của cộng đồng địa  
phương là cần thiết cho ngành du lịch bởi văn  
hóa, môi trường, lối sống và truyền thống của  
họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách  
du lịch tới điểm du lịch. Vì vậy, việc tham gia  
của cộng đồng địa phương vào du lịch sẽ  
không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi  
trường mà còn nâng cao chất lượng du lịch ở  
điểm đến (Tổ chức Tourism Concern, 1992).  
Lấy ý kiến của quần chúng và các đối tượng  
có liên quan. Tham khảo ý kiến quần chúng là  
một quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển  
kinh tế với những mối quan tâm lớn của địa  
phương và tác động tiềm ẩn của sự phát triển  
lên môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa.  
Thiếu sự tham khảo ý kiến của cơ quan nhà  
nước, lĩnh vực tư nhân và cộng đồng địa  
phương có thể đưa đến sự thù địch và đối  
kháng, thậm chí khó có thể giải quyết được  
các mâu thuẫn về quyền lợi (Tổ chức Tourism  
Concern, 1992).  
hơn (Tổ chức Tourism Concern, 1992).  
-
Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm. Việc  
cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ  
và có trách nhiệm về điểm đến du lịch, sản  
phẩm du lịch, nguồn gốc hàng hóa, tác động  
của hoạt động du lịch đến người dân và môi  
trường sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách  
đối với môi trường thiên nhiên, văn hóa và xã  
hội của nơi tham quan, đồng thời sẽ tăng thêm  
sự thỏa mãn đối với chuyến đi của du khách  
(Tổ chức Tourism Concern, 1992).  
-
-
Tiến hành nghiên cứu. Nghiên cứu và giám sát  
ngành công nghiệp du lịch thông qua việc sử  
dụng và phân tích có hiệu quả các số liệu là  
cần thiết để giúp cho việc giải quyết những  
vấn đề tồn đọng và mang đến lợi ích cho các  
điểm tham quan, cho ngành du lịch và cho du  
khách (Tổ chức Tourism Concern, 1992).  
-
Để đánh giá mức độ đáp ứng các nguyên tắc du  
lịch bền vững của tỉnh An Giang, thang đo 5 điểm  
dạng Likert được sử dụng. Mức độ đáp ứng sự  
bền vững thấp hay cao phụ thuộc vào sự cảm nhận  
của du khách. Có 10 nguyên tắc du lịch bền vững,  
tuy nhiên, du khách không thể đánh giá được  
nguyên tắc hợp nhất du lịch vào quy hoạch, lấy ý  
kiến của quần chúng và các đối tượng liên quan,  
tiến hành nghiên cứu. Vì vậy, mô hình nghiên cứu  
chỉ bao gồm 7 thang đo độc lập: sử dụng nguồn  
lực một cách bền vững, giảm chất thải và tiêu thụ  
quá mức, duy trì tính đa dạng, hỗ trợ kinh tế địa  
phương, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa  
phương, đào tạo nhân viên, tiếp thị du lịch một  
cách có trách nhiệm (Hình 1).  
-
Đào tạo nhân viên. Một lực lượng lao động  
được đào tạo và có kỹ năng thành thạo không  
những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà  
còn nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch,  
tính hiệu quả ở tất cả các cấp và ở lòng tin  
tưởng, tự tin và tự nguyện công tác của nhân  
viên. Việc đào tạo nhân viên đúng đắn có thể  
làm cho du khách có ý thức trách nhiệm đối  
với môi trường và sẽ dẫn đến một ngành công  
21  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
Sử dụng nguồn lực một  
cách bền vững  
Giảm chất thải và tiêu  
thụ quá mức  
Lôi kéo sự tham gia của  
cộng đồng địa phương  
Đào tạo nhân viên  
Duy trì tính đa dạng  
Mức độ đáp ứng các  
nguyên tắc du lịch  
bền vững  
Tiếp thị du lịch một  
cách có trách nhiệm  
Hỗ trợ kinh tế địa  
phương  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu mức độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững  
Nguồn: Nhóm nghiên cứu, 2018  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
& Trương Trần Trâm Anh, 2012) và biến đo  
lường của thang đo có hệ số tương quan biến -  
tổng hiệu chỉnh ≥ 0,3 (Nunnally & Bernstein,  
1994; dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2011). Dữ liệu  
thích hợp cho phân tích nhân tố khám phá khi  
thỏa mãn 3 điều kiện: 0,5 ≤ KMO ≤ 1 (Lê Văn  
Huy & Trương Trần Trâm Anh, 2012), giá trị Sig.  
của kiểm định Bartlett ≤ 0,05 (Hoàng Trọng &  
Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008), tổng phương sai  
giải thích > 50% (Lê Văn Huy & Trương Trần  
Trâm Anh, 2012). Biến thuộc nhân tố khi có hệ số  
tải lớn nhất theo hàng và ≥ 0,4 (vì mẫu 221) (Hair  
et al., 2009; dẫn theo Lê Văn Huy & Trương Trần  
Trâm Anh, 2012). Khi thỏa mãn 3 điều kiện: giá  
trị Sig. của phân tích phương sai ≤ 0,05, 0,05 ≤ hệ  
số R2 hiệu chỉnh ≤ 1 (Saunders et al., 2010), hệ số  
khuếch đại phương sai (VIF) < 10 (Đinh Phi Hổ,  
2012), thì dữ liệu thích hợp để phân tích hồi quy  
tuyến tính đa biến. Phương trình hồi quy tuyến  
tính đa biến có dạng: Y = a + b1X1 + b2X2 + b3X3  
+ … + bnXn. Trong đó, Y: điểm số của biến phụ  
thuộc, a: giao điểm, b: độ dốc, X: điểm số của  
biến độc lập (Lê Minh Tiến, 2003).  
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở tham  
khảo nguồn tài liệu thứ cấp và thu thập, xử lý dữ  
liệu sơ cấp. Tài liệu thứ cấp bao gồm sách, bài  
báo khoa học, nghị quyết, chương trình hành  
động. Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử  
dụng để kế thừa thông tin hữu ích từ loại tài liệu  
này. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 221 du khách  
nội địa đến du lịch ở An Giang bằng bảng câu hỏi  
(theo Hoyle (1995; dẫn theo Li & Uysal, trong  
Sirakaya-Turk et al., 2011) đề nghị cỡ mẫu cho  
một nghiên cứu định lượng tối thiểu phải từ 100  
đến 200 đáp viên). Đáp viên được lựa chọn theo  
kỹ thuật chọn mẫu kiểu thuận tiện. Địa điểm lấy  
mẫu là cụm du lịch Núi Sam, khu du lịch núi Cấm  
và khu bảo vệ cảnh quan rừng Tràm Trà Sư. Thời  
gian lấy mẫu từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2018.  
Các phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin  
cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi  
quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong phân  
tích dữ liệu. Đối với thống kê mô tả dưới dạng số  
trung bình, mức 1 (hoàn toàn không đáp ứng sự  
bền vững) có giá trị từ 1 đến 1,5; mức 2 (không  
đáp ứng sự bền vững) có giá trị từ 1,51 đến 2,5;  
mức 3 (không phải đáp ứng cũng không phải  
không đáp ứng sự bền vững) có giá trị từ 2,51 đến  
3,5; mức 4 (đáp ứng sự bền vững) có giá trị từ  
3,51 đến 4,5; mức 5 (hoàn toàn đáp ứng sự bền  
vững) có giá trị từ 4,51 đến 5,0. Thang đo đảm  
bảo độ tin cậy khi 0,6 ≤ α của Cronbach ≤ 1 (vì  
mô hình nghiên cứu này mới) (Nunnally, 1978;  
Peterson, 1994; Slate, 1995; dẫn theo Lê Văn Huy  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Nhân tố ảnh hưởng sự đáp ứng các nguyên  
tắc du lịch bền vững của tỉnh An Giang  
Mô hình giả định các nhân tố ảnh hưởng đến mức  
độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của  
tỉnh An Giang gồm 7 thang đo độc lập (sử dụng  
nguồn lực một cách bền vững, giảm chất thải và  
tiêu thụ quá mức, duy trì tính đa dạng, hỗ trợ kinh  
22  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
tế địa phương, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng  
địa phương, đào tạo nhân viên, tiếp thị du lịch một  
cách có trách nhiệm) và được đo lường bằng 31  
biến quan sát. Ngoài 7 thang đo độc lập, mô hình  
nghiên cứu còn có 1 thang đo phụ thuộc gồm 5  
biến quan sát.  
“người dân tỉnh An Giang có nhiều hình thức sinh  
kế - DTĐD5”, 7 thang đo độc lập đảm bảo độ tin  
cậy bởi có hệ số α của Cronbach từ 0,67 đến 0,78  
và hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh các  
biến từ 0,34 đến 0,66. Thang đo phụ thuộc cũng  
đảm bảo độ tin cậy bởi có hệ số α của Cronbach là  
0,85 và hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh  
các biến từ 0,60 đến 0,76 (Bảng 1).  
Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo cho thấy, sau  
khi loại biến “không có tình trạng quá đông đúc  
khách ở khu/điểm du lịch của tỉnh - SDNL5”,  
Bảng 1. Độ tin cậy thang đo và biến quan sát (n = 221)  
Biến bị  
α của  
Hệ số  
Thang đo  
Biến đặc trưng  
loại  
Cronbach  
tương quan  
Sử dụng nguồn lực SDNLBV1, SDNLBV2,  
SDNLBV4  
0,70  
0,42 → 0,57  
0,40 → 0,66  
0,40 → 0,51  
0,37 → 0,59  
một cách bền vững  
SDNLBV3  
Giảm chất thải và tiêu GCT & TT1, GCT & TT2, GCT  
0,71  
0,67  
0,70  
thụ quá mức  
& TT3, GCT & TT4  
Duy trì tính đa dạng  
DTĐD1, DTĐD2, DTĐD3,  
DTĐD4  
DTĐD5  
Hỗ trợ kinh tế địa HTKTĐP1, HTKTĐP2,  
phương  
HTKTĐP3, HTKTĐP4,  
HTKTĐP5  
Lôi kéo sự tham gia LKSTGCĐ1, LKSTGCĐ2,  
của cộng đồng địa LKSTGCĐ3, LKSTGCĐ4  
phương  
0,71  
0,41 → 0,61  
Đào tạo nhân viên  
ĐTNV1, ĐTNV2, ĐTNV3,  
ĐTNV4  
0,78  
0,73  
0,56 → 0,63  
0,34 → 0,65  
Tiếp thị du lịch một TTDLTN1, TTDLTN2,  
cách có trách nhiệm  
TTDLTN3, TTDLTN4,  
TTDLTN5  
Đánh  
giá  
chung ĐGC1, ĐGC2, ĐGC3, ĐGC4,  
ĐGC5  
0,85  
0,60 → 0,76  
(ĐGC)  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn trực tiếp du khách của nhóm nghiên cứu, 2018  
Dữ liệu thỏa mãn 3 điều kiện của phân tích nhân  
tố khám phá: KMO = 0,83, giá trị Sig. = 0,000,  
tổng phương sai giải thích = 63,9%. Bảng ma trận  
xoay nhân tố cho thấy, có 8 nhân tố ảnh hưởng  
đến mức độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang.  
Nhân tố 1 gồm các biến: sự bố trí thùng đựng rác  
ở mỗi khu/điểm du lịch (GCT & TT1), hệ thống  
giao thông đường bộ (HTKTĐP1), hệ thống cung  
cấp điện (HTKTĐP2), sự hưởng lợi từ du lịch của  
người dân địa phương (HTKTĐP3), sự cung cấp  
dịch vụ ăn uống của người dân địa phương ở  
23  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
khu/điểm du lịch (LKSTGCĐ2), sự tham gia bán  
hàng lưu niệm của người dân địa phương ở điểm  
du lịch (LKSTGCĐ3), khả năng cải thiện sự hiểu  
biết của du khách về điểm đến thông qua sự cung  
cấp thông tin từ biển thông tin/ấn phẩm hướng  
dẫn du lịch ở khu/điểm du lịch (TTDLTN2),  
những quy định về hành vi của du khách nhằm  
bảo vệ các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể  
(TTDLTN3), những quy định về hành vi của du  
khách nhằm bảo vệ môi trường và xã hội  
(TTDLTN4). Nhân tố này được đặt tên là “Bảo vệ  
môi trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham gia  
và hưởng lợi của người dân địa phương, những  
hoạt động thay đổi hành vi của du khách”.  
(SDNLBV3). Nhân tố này được đặt tên là “Sử  
dụng nguồn lực một cách bền vững”.  
Nhân tố 6 gồm các biến: sự đa dạng của văn hóa  
vật thể (DTĐD3), sự đa dạng của văn hóa phi vật  
thể (DTĐD4). Nhân tố này được đặt tên là “Sự đa  
dạng văn hóa”.  
Nhân tố 7 bao gồm các biến: tình trạng rác thải  
bừa bãi ở khu/điểm du lịch (GCT & TT2), sự quy  
định về hành vi ứng xử của người dân địa phương  
nhằm nâng cao vị thế hình ảnh của khu/điểm du  
lịch và quyền lợi của du khách (TTDLTN5). Nhân  
tố này được đặt tên “Quản lý rác thải và hoạt động  
thay đổi hành vi của người dân địa phương”.  
Nhân tố 8 gồm các biến: sự đa dạng hệ sinh thái  
tự nhiên điển hình (DTĐD1), sự đa dạng các loài  
động và thực vật (DTĐD2). Nhân tố này được đặt  
tên là “Sự đa dạng thiên nhiên”.  
Nhân tố 2 gồm các biến: việc sử dụng sản vật địa  
phương trong chế biến món ăn (HTKTĐP4), xuất  
xứ địa phương của hàng lưu niệm (HTKTĐP5),  
sự tham gia cung cấp dịch vụ tham quan của  
người dân địa phương (LKSTGCĐ4), sự tương  
thích giữa mức độ hấp dẫn của khu/điểm du lịch  
với thông tin quảng bá (TTDLTN1). Nhân tố này  
được đặt tên “Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự  
trung thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến”.  
Để khẳng định các nhân tố thực sự ảnh hưởng và  
cường độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với mức  
độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của  
tỉnh An Giang, phân tích hồi quy tuyến tính đa  
biến được sử dụng. Kết quả phân tích cho thấy, dữ  
liệu thích hợp cho phân tích hồi quy bởi nó thỏa  
mãn 3 điều kiện: R2 hiệu chỉnh = 0,62, giá trị Sig.  
của phân tích phương sai = 0,000, VIF của các  
nhân tố < 2.  
Nhân tố 3 gồm các biến: sự hài lòng đối với nhân  
viên lễ tân (ĐTNV1), sự hài lòng đối với nhân  
viên bán hàng (ĐTNV2), sự hài lòng đối với nhân  
viên phục vụ tham quan (ĐTNV3), sự hài lòng  
đối với nhân viên phục vụ ăn uống (ĐTNV4).  
Nhân tố này được đặt tên là “Đào tạo nhân viên”.  
Bảng hệ số (Bảng 2) cho thấy, có 7 nhân tố ảnh  
hưởng đến mức độ đáp ứng các nguyên tắc du lịch  
bền vững của tỉnh An Giang là: Nhân tố 1 (“Bảo  
vệ môi trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham  
gia và hưởng lợi của người dân địa phương,  
những hoạt động thay đổi hành vi của du khách”),  
Nhân tố 2 (“Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự trung  
thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến”), Nhân tố  
3 (“Đào tạo nhân viên”), Nhân tố 5 (“Sử dụng  
nguồn lực một cách bền vững”), Nhân tố 6 (“Sự  
đa dạng văn hóa”), Nhân tố 7 (“Quản lý rác thải  
và hoạt động thay đổi hành vi của người dân địa  
phương”), Nhân tố 8 (“Sự đa dạng thiên nhiên”).  
Nhân tố 4 gồm các biến: sự khuyến khích sử dụng  
tiết kiệm điện của cơ sở lưu trú (GCT & TT3), sự  
khuyến khích sử dụng tiết kiệm nước của cơ sở  
lưu trú (GCT & TT4). Nhân tố này được đặt tên là  
“Khuyến khích giảm tiêu thụ điện và nước”.  
Nhân tố 5 gồm các biến: sự khai thác và bảo tồn  
tài nguyên du lịch tự nhiên (SDNLBV1), sự khai  
thác và bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn  
(SDNLBV2), sự chân thực của các yếu tố văn hóa  
24  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
Bảng 2: Hệ số (n = 221)  
Hệ số chưa chuẩn hóa  
Hệ số chuẩn hóa  
Mô hình  
t
Sig.  
VIF  
B
Std.Error  
Beta  
1 Hằng số  
Nhân tố 1  
Nhân tố 2  
Nhân tố 3  
Nhân tố 5  
Nhân tố 6  
Nhân tố 7  
Nhân tố 8  
0,014  
0,365  
0,439  
0,348  
0,279  
0,174  
0,215  
0,190  
0,044  
0,049  
0,044  
0,046  
0,049  
0,045  
0,45  
0,322 0.748  
7,487 0,000  
9,933 0,000  
7,541 0,000  
5,703 0,000  
3,854 0,000  
4,759 0,000  
4,106 0,000  
0,344  
0,446  
0,344  
0,263  
0,174  
0,214  
0,185  
1,05  
1,00  
1,03  
1,05  
1,01  
1,00  
1,00  
0,046  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn trực tiếp du khách của nhóm nghiên cứu, 2018  
Phương trình hồi quy tuyến tính như sau:  
Y = 0,014 + 0,439 F2 + 0,365 F1 + 0,348 F3 + 0,279 F5 + 0,215 F7 + 0,190 F8 + 0,174 F6  
Nhân tố 2 (F2) có hệ số là 0,439 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá  
nhân tố “Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự trung  
thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến” tăng  
thêm 1 điểm thì sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch  
bền vững ở địa bàn nghiên cứu tăng thêm 0,439  
điểm, tương ứng với hệ số tương quan chưa chuẩn  
hóa là 0,439.  
bàn nghiên cứu tăng thêm 0,348 điểm, tương ứng  
với hệ số tương quan chưa chuẩn hóa là 0,348.  
Nhân tố 5 (F5) có hệ số là 0,279 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá  
nhân tố “Sử dụng nguồn lực một cách bền vững”  
tăng thêm 1 điểm thì sự đáp ứng các nguyên tắc  
du lịch bền vững ở địa bàn nghiên cứu tăng thêm  
0,279 điểm, tương ứng với hệ số tương quan chưa  
chuẩn hóa là 0,279.  
Nhân tố 1 (F1) có hệ số là 0,365 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá  
nhân tố “Bảo vệ môi trường, sự đầu tư cơ sở hạ  
tầng, sự tham gia và hưởng lợi của người dân địa  
phương, những hoạt động thay đổi hành vi của du  
khách” tăng thêm 1 điểm thì sự đáp ứng các  
nguyên tắc du lịch bền vững ở địa bàn nghiên cứu  
tăng thêm 0,365 điểm, tương ứng với hệ số tương  
quan chưa chuẩn hóa là 0,365.  
Nhân tố 7 (F7) có hệ số là 0,215 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá  
nhân tố “Quản lý rác thải và hoạt động thay đổi  
hành vi của người dân địa phương” tăng thêm 1  
điểm thì sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững ở địa bàn nghiên cứu tăng thêm 0,215 điểm,  
tương ứng với hệ số tương quan chưa chuẩn hóa  
là 0,215.  
Nhân tố 3 (F3) có hệ số là 0,348 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá nhân  
tố “Đào tạo nhân viên” tăng thêm 1 điểm thì sự  
đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững ở địa  
Nhân tố 8 (F8) có hệ số là 0,190 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá nhân  
tố “Sự đa dạng thiên nhiên” tăng thêm 1 điểm thì  
sự đáp ứng các nguyên tắc của du lịch bền vững ở  
địa bàn nghiên cứu tăng thêm 0,190 điểm, tương  
25  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
ứng với hệ số tương quan chưa chuẩn hóa là  
hành vi của người dân địa phương”, “Sự đa dạng  
thiên nhiên”, “Sự đa dạng văn hóa”.  
-
0,190.  
Nhân tố 6 (F6) có hệ số là 0,174 và quan hệ cùng  
chiều với sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang. Khi du khách đánh giá  
nhân tố “Sự đa dạng văn hóa” tăng thêm 1 điểm  
thì sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững ở  
địa bàn nghiên cứu tăng thêm 0,174 điểm, tương  
ứng với hệ số tương quan chưa chuẩn hóa là  
0,174.  
Nhân tố “Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự  
trung thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến”  
được du khách đánh giá ở mức đáp ứng sự bền  
vững (M = 3,79). Các phương diện của nhân tố  
cũng được đánh giá ở mức đáp ứng sự bền  
vững bao gồm việc sử dụng sản vật địa  
phương trong chế biến món ăn (M = 4,00),  
xuất xứ địa phương của hàng lưu niệm (M =  
3,89), sự tương thích giữa mức độ hấp dẫn của  
khu/điểm du lịch với thông tin quảng bá (M =  
3,68), sự tham gia cung cấp dịch vụ tham quan  
của người dân địa phương (M = 3,60). Trong  
nhân tố này, hai khía cạnh được du khách đánh  
giá thấp nhất là sự trung thực trong quảng bá  
hình ảnh điểm đến và mức độ tham gia của  
người dân địa phương trong cung cấp dịch vụ  
tham quan.  
Tổng hệ số hồi quy chuẩn hóa của nhân tố 1, 2, 3,  
5, 6, 7, 8 là 1,97 (Bảng 2). Do đó, nhân tố 2 đóng  
góp 22,64%, nhân tố 1 đóng góp 17,47%, nhân tố  
3 đóng góp 17,46%, nhân tố 5 đóng góp 13,35%,  
nhân tố 7 đóng góp 10,86%, nhân tố 8 đóng góp  
9,39%, nhân tố 6 đóng góp 8,83% đối với sự đáp  
ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của tỉnh An  
Giang. Điều này có nghĩa là “Hỗ trợ kinh tế địa  
phương và sự trung thực trong quảng bá hình ảnh  
điểm đến” đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự  
đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của tỉnh  
An Giang. Tầm quan trọng của các nhân tố khác  
theo thứ tự giảm dần là “Bảo vệ môi trường, sự  
đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham gia và hưởng lợi của  
người dân địa phương, những hoạt động thay đổi  
hành vi của du khách”, “Đào tạo nhân viên”, “Sử  
dụng nguồn lực một cách bền vững”, “Quản lý rác  
thải và hoạt động thay đổi hành vi của người dân  
địa phương”, “Sự đa dạng thiên nhiên”, “Sự đa  
dạng văn hóa”.  
-
Nhân tố “Bảo vệ môi trường, sự đầu tư cơ sở  
hạ tầng, sự tham gia và hưởng lợi của người  
dân địa phương, những hoạt động thay đổi  
hành vi của du khách” được du khách đánh giá  
ở mức đáp ứng sự bền vững (M = 3,89). Các  
phương diện thuộc nhân tố này cũng được  
đánh giá ở mức đáp ứng sự bền vững, chẳng  
hạn, sự tham gia bán hàng lưu niệm của người  
dân địa phương ở điểm du lịch (M = 4,14), sự  
cung cấp dịch vụ ăn uống của người dân địa  
phương ở khu/điểm du lịch (M = 4,03), sự bố  
trí thùng đựng rác ở mỗi khu/điểm du lịch (M  
= 3,99), những quy định về hành vi của du  
khách nhằm bảo vệ các yếu tố văn hóa vật thể  
và phi vật thể (M = 3,97), những quy định về  
hành vi của du khách nhằm bảo vệ môi trường  
và xã hội (M = 3,87), khả năng cải thiện sự  
hiểu biết của du khách về điểm đến thông qua  
sự cung cấp thông tin từ biển thông tin/ấn  
phẩm hướng dẫn du lịch ở khu/điểm du lịch  
(M = 3,85), sự hưởng lợi từ du lịch của người  
dân địa phương (M = 3,82), hệ thống cung cấp  
điện (M = 3,80), hệ thống giao thông đường bộ  
(M = 3,57). Trong các phương diện này, hệ  
3.2 Sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền  
vững của tỉnh An Giang  
Qua cảm nhận của du khách, 7 nhân tố ảnh hưởng  
đến sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững  
của tỉnh An Giang theo tầm quan trọng giảm dần  
là “Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự trung thực  
trong quảng bá hình ảnh điểm đến”, “Bảo vệ môi  
trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham gia và  
hưởng lợi của người dân địa phương, những hoạt  
động thay đổi hành vi của du khách”, “Đào tạo  
nhân viên”, “Sử dụng nguồn lực một cách bền  
vững”, “Quản lý rác thải và hoạt động thay đổi  
26  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
thống giao thông đường bộ ở tỉnh An Giang  
được đánh giá thấp nhất.  
(M = 4,05) và đa dạng các loài động, thực vật  
(M = 3,83).  
-
Nhân tố “Đào tạo nhân viên” được du khách  
đánh giá ở mức đáp ứng sự bền vững (M =  
3,64). Tuy nhiên, bên cạnh nhân viên phục vụ  
tham quan (M = 3,80), nhân viên lễ tân (M =  
3,72), nhân viên phục vụ ăn uống (M = 3,61)  
được đánh giá cao, nhân viên bán hàng chỉ  
được du khách đánh giá ở mức không phải đáp  
ứng cũng không phải không đáp ứng sự bền  
vững (M = 3,42). Để nâng cao mức độ đáp  
ứng các nguyên tắc du lịch bền vững, địa  
phương cần quan tâm nhiều hơn đối với công  
tác đào tạo nhân viên lễ tân, nhân viên phục vụ  
ăn uống và nhân viên bán hàng.  
-
Nhân tố “Sự đa dạng văn hóa” được du khách  
đánh giá ở mức đáp ứng sự bền vững (M =  
3,83). Theo đó, tỉnh An Giang có nhiều yếu tố  
văn hóa vật thể (M = 3,90) và văn hóa phi vật  
thể (M = 3,75).  
Như vậy, tỉnh An Giang có sự đáp ứng cao các  
nguyên tắc du lịch bền vững theo cảm nhận của  
du khách. Điều này được thể hiện qua 6 nhân tố  
được đánh giá ở mức đáp ứng và chỉ 1 nhân tố  
được đánh giá ở mức chưa đáp ứng sự bền vững.  
Mức độ đáp ứng sự bền vững của các nhân tố theo  
thứ tự giảm dần là “Sự đa dạng thiên nhiên”, “Bảo  
vệ môi trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham  
gia và hưởng lợi của người dân địa phương,  
những hoạt động thay đổi hành vi của du khách”,  
“Sự đa dạng văn hóa”, “Hỗ trợ kinh tế địa phương  
và sự trung thực trong quảng bá hình ảnh điểm  
đến”, “Sử dụng nguồn lực một cách bền vững”,  
“Đào tạo nhân viên”. Nhân tố được đánh giá ở  
mức chưa đáp ứng sự bền vững là “Quản lý rác  
thải và hoạt động thay đổi hành vi của người dân  
địa phương”.  
-
Nhân tố “Sử dụng nguồn lực một cách bền  
vững” được du khách đánh giá ở mức đáp ứng  
sự bền vững (M = 3,71). Theo đó, tỉnh An  
Giang đã khai thác và bảo tồn tài nguyên du  
lịch tự nhiên tốt (M = 3,78), khai thác và bảo  
tồn tài nguyên du lịch nhân văn tốt (M = 3,74),  
các yếu tố văn hóa vẫn còn duy trì được tính  
chân thực (M = 3,61). Tuy nhiên, để cải thiện  
mức độ đáp ứng các nguyên tắc của du lịch  
bền vững, tỉnh cần quan tâm nhiều hơn đối với  
các phương diện này.  
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
Du lịch bền vững có vai trò rất trọng đối với sự  
phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường  
của mỗi điểm đến bởi nó có khả năng tạo ra sự tác  
động thấp đối với môi trường, xã hội và văn hóa  
địa phương; tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho  
người dân địa phương; mang lại những trải  
nghiệm tích cực cho người dân địa phương, công  
ty du lịch và du khách. Để thúc đẩy sự phát triển  
du lịch bền vững ở điểm đến, việc tham khảo các  
nguyên tắc du lịch bền vững của Tổ chức Tourism  
Concern và ứng dụng vào địa bàn quản lý là rất  
cần thiết. Tuy nhiên, để thực thi những giải pháp  
phát triển du lịch bền vững sát với địa phương nên  
thực hiện những nghiên cứu trên cơ sở nội dung  
các nguyên tắc du lịch bền vững của tổ chức trên.  
Kết quả nghiên cứu ở tỉnh An Giang cho thấy, có  
7 nhân tố ảnh hưởng đến sự đáp ứng các nguyên  
tắc du lịch bền vững theo tầm quan trọng giảm  
-
Nhân tố “Quản lý rác thải và hoạt động thay  
đổi hành vi của người dân địa phương” được  
đánh giá ở mức không phải đáp ứng cũng  
không phải không đáp ứng sự bền vững (M =  
3,32). Theo đó, tỉnh An Giang có những quy  
định về hành vi ứng xử của người dân địa  
phương nhằm nâng cao vị thế hình ảnh của  
khu/điểm du lịch và quyền lợi của du khách  
(M = 3,54), tuy nhiên, ở khu/điểm du lịch của  
tỉnh vẫn còn tình trạng rác thải bừa bãi (M =  
3,10). Để nâng cao mức độ đáp ứng các  
nguyên tắc du lịch bền vững, địa phương cần  
quan tâm nhiều đối với hai phương diện này.  
Nhân tố “Sự đa dạng thiên nhiên” được du  
khách đánh giá ở mức đáp ứng sự bền vững  
(M = 3,94). Điều này có nghĩa rằng, tỉnh An  
Giang có nhiều hệ sinh thái tự nhiên điển hình  
-
27  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
dần là “Hỗ trợ kinh tế địa phương và sự trung  
thực trong quảng bá hình ảnh điểm đến”, “Bảo vệ  
môi trường, sự đầu tư cơ sở hạ tầng, sự tham gia  
và hưởng lợi của người dân địa phương, những  
hoạt động thay đổi hành vi của du khách”, “Đào  
tạo nhân viên”, “Sử dụng nguồn lực một cách bền  
vững”, “Quản lý rác thải và hoạt động thay đổi  
hành vi của người dân địa phương”, “Sự đa dạng  
thiên nhiên”, “Sự đa dạng văn hóa”. Tỉnh An  
Giang đáp ứng cao các nguyên tắc du lịch bền  
vững bởi 6/7 nhân tố được du khách đánh giá ở  
mức đáp ứng sự bền vững và 26/28 biến của  
những nhân tố được đánh giá ở mức đáp ứng sự  
bền vững.  
dân địa phương có lợi cho hình ảnh điểm đến  
và đảm bảo quyền lợi cho du khách; đẩy mạnh  
công tác bảo vệ môi trường ở các điểm đến du  
lịch.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bộ Chính trị. (2017). Nghị quyết về phát triển du  
lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn (Số 8-  
NQTW). Hà Nội: Ban chấp hành trung ương  
Đảng cộng sản Việt Nam.  
Daniels, P., Bradshaw, M., Shaw, D. & Sidaway,  
J. (2005). An Introduction to Human  
Geography. 2 edn. London: Pearson Publisher.  
Đinh Phi Hổ. (2012). Phương pháp nghiên cứu  
định lượng & Nghiên cứu thực tiễn trong kinh  
tế phát triển - nông nghiệp. Thành phố Hồ Chí  
Minh: Nhà xuất bản Phương Đông.  
Để ngành du lịch tỉnh An Giang phát triển bền  
vững hơn trong tương lai, địa phương cần quan  
tâm đến các khuyến nghị sau đây:  
Lê Văn Huy., & Trương Trần Trâm Anh. (2012).  
Phương pháp nghiên cứu trong Kinh doanh.  
Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tài  
chính.  
(1) Cung cấp đầy đủ thông tin về điểm đến du lịch  
nhưng phải đảm bảo tính trung thực nhằm  
tránh sự thất vọng của du khách; đảm bảo số  
lượng và chất lượng dịch vụ chào bán đúng  
như thông tin.  
Lê Văn Khoa (Chủ biên). (2009). Môi trường và  
phát triển bền vững. Hà Nội: Nhà xuất bản  
Giáo dục Việt Nam.  
(2) Phát triển du lịch theo hướng cộng đồng nhiều  
nhất có thể để cải thiện cơ hội tham gia vào du  
lịch của người dân và nâng cao chất lượng  
cuộc sống của họ.  
Lu, J. & Nepal, S. K. (2009). Sustainable tourism  
research: an analysis of papers published in  
the Journal of sustainable tourism. Journal of  
sustainable tourism, 1, 5-16.  
(3) Khảo sát, kiểm kê, đánh giá và đẩy mạnh đầu  
tư hệ thống giao thông đường bộ kết nối các  
điểm du lịch, các điểm tài nguyên có khả năng  
hấp dẫn du khách và có thể khai thác phục vụ  
du lịch ở tương lai.  
Niedziolka, I. (2012). Sustainable tourism  
development.  
Regional  
formation  
and  
development studies, 8), 158-166.  
(4) Phân loại nhân viên phục vụ du lịch, đánh giá  
trình độ chuyên môn và nghiệp vụ du lịch của  
từng nhóm nhân viên, tiến hành đào tạo, bồi  
dưỡng; cần đặc biệt chú ý đến chất lượng của  
nhân viên lễ tân, nhân viên phục vụ ăn uống và  
nhân viên bán hàng.  
Sirakaya-Turk, E., Uysal, M., Hammitt, W. &  
Vaske, J. J. (2011). Research Methods for  
Leisure, Recreation and Tourism. Cambridge:  
Cambridge University Press.  
Lê Văn Thăng (Chủ biên). (2008). Giáo trình Du  
lịch và môi trường. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại  
học Quốc gia Hà Nội.  
(5) Khai thác tài nguyên du lịch phải đi đôi với  
bảo tồn để không làm suy giảm số lượng và  
chất lượng các yếu tố hấp dẫn ở điểm đến du  
lịch; đảm bảo tính chân thực của văn hóa địa  
phương.  
Lê Minh Tiến. (2003). Phương pháp thống kê  
trong nghiên cứu Xã hội. Thành phố Hồ Chí  
Minh: Nhà xuất bản Trẻ.  
(6) Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo  
dục nâng cao nhận thức và hành vi của người  
28  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 18 – 29  
Nguyễn Đình Thọ. (2011). Phương pháp nghiên  
cứu khoa học trong kinh doanh. Hà Nội: Nhà  
xuất bản Lao động - Xã hội.  
Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang. (2017). Chương  
trình hành động về phát triển hạ tầng du lịch  
tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020, định  
hướng đến năm 2025 (Số 59/CTr-UBND). An  
Giang: Ủy ban Nhân dân.  
Tổ chức Tourism Concern. (1992). Bên kia chân  
trời xanh - Các nguyên tắc du lịch bền vững.  
Hà Nội: Cục Môi trường tổ chức dịch, chỉnh  
biên và xuất bản năm 1998.  
Yazdi, S. K. (2012). Sustainable tourism.  
American International Journal of Social  
Science, 1(1), 50-56.  
Hoàng Trọng., & Chu Nguyễn Mộng Ngọc.  
(2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS  
(tập 2). Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất  
bản Hồng Đức.  
29  
pdf 12 trang yennguyen 20800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự đáp ứng các nguyên tắc du lịch bền vững của tỉnh An Giang qua đánh giá của du khách nội địa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dap_ung_cac_nguyen_tac_du_lich_ben_vung_cua_tinh_an_giang.pdf