So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra Cyclogyl 1% ở trẻ em

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
SO SÁNH KẾT QUẢ KHÚC XẠ TỰ ĐỘNG  
TRƯỚC VÀ SAU TRA CYCLOGYL 1% Ở TRẺ EM  
Nguyễn Thị Thu Hiền1  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% ở trẻ  
em, tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố tuổi đối với khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc  
cyclogyl 1% ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, thực hiện trên  
380 mắt của 190 trẻ từ 7 - 11 tuổi mắc tật khúc xạ tại Khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt  
Trung ương. Kết quả: Sau tra thuốc, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm (từ 255 mắt còn  
209 mắt), số mắt có khúc xạ cầu viễn tăng (từ 82 mắt lên 137 mắt), số mắt cận nặng  
giảm (từ 22 mắt còn 17 mắt), số m ắt viễn nặng tăng (từ 67 mắt lên 104 mắt).  
Chênh lệch công suất khúc xạ cầu trung bình trước và sau tra thuốc là 0,76 0,83D,  
chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận là 0,41 0,46D (p = 0,000), chênh lệch công  
suất khúc xạ cầu viễn là 1,28 1,27D (p = 0,000). Ở tất cả nhóm tuổi đều tuân theo  
quy luật: Sau tra thuốc cyclogyl 1%, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm còn số mắt có  
khúc xạ cầu viễn tăng, chênh lệch công suất khúc xạ ở các nhóm tuổi không khác biệt  
(p > 0,05). Kết luận: Đo khúc xạ tự động sau khi tra thuốc liệt điều tiết kiểm soát điều  
tiết mắt tốt hơn. Khúc xạ cầu sau tra thuốc có xu hướng chuyển từ cận thị sang chính  
thị và viễn thị. Không thấy khác biệt giữa các nhóm từ 7 - 11 tuổi.  
* Từ khóa: Khúc xạ liệt điều tiết; Khúc xạ không liệt điều tiết; Đo khúc xạ tự động;  
Cyclogyl 1%.  
Comparison of Auto-refractive Results before and after Using the  
Cyclogyl 1% in Children  
Summary  
Objectives: To compare auto-refractive results before and after using the cyclogyl 1% in  
children, to find out the effect of the age factor on auto-refraction before and after using the  
cyclogyl 1% in children. Subjects and methods: A descriptive study was conducted on 380  
eyes of 190 patients with refractive error in the Refraction Department, Vietnam National Eye  
Hospital. Results: After dropping cyclogyl 1%: the number of myopic eyes decreased (from 255  
to 209 eyes), but the number of hyperopic eyes increased (from 82 to 137 eyes), the high myopic  
eyes decreased (from 22 to 17 eyes) but the high hyperopic eyes increased (from 67 to 104 eyes).  
1Bệnh viện Mắt Trung ương  
Người phản hồi: Nguyễn Thị Thu Hiền ([email protected])  
Ngày nhận bài:18/3/2021  
Ngày bài báo được đăng: 4/4/2021  
132  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
The difference in average spherical refractive power before and after using cyclotgyl 1% was  
0.76 0.83D, the difference in myopic power was 0.41 0.46D (p = 0.000), the difference in  
hyperopic power was 1.28 1.27D (p = 0.000). All age groups (7 - 11) followed the rules: After  
using cyclogyl 1%, the number of myopic eyes decreased, but the number of hyperopic eyes  
increased. The difference in average spherical refractive power was not statistically significant  
(p > 0.05). Conclusion: Auto-refractometry after dropping cyclopentolate keeps control  
accommodation better. Spherical refraction after using the drug tends to shift from myopia to  
hyperopia. There is no difference between age groups from 7 to 11.  
* Keywords: Cycloplegic refraction; Non-cycloplegic refraction; Auto-refractometry; Cyclogyl 1%.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
triển cận thị ở trẻ. Sử dụng thuốc liệt điều  
tiết giúp cho kết quả đo khúc xạ tự động  
chính xác hơn, tuy nhiên việc tra thuốc  
liệt điều tiết có thể gây b ất tiện, khó chịu  
cho trẻ do thời gian đợi thuốc phát huy  
tác dụng và tác dụng phụ không mong  
muốn của thuốc sau khi tra.  
Ở trẻ em, soi bóng đồng tử có tra  
thuốc liệt điều tiết vẫn là tiêu chuẩn vàng  
để chẩn đoán tật khúc xạ. Tuy nhiên, kỹ  
năng soi bóng đồng tử cần được đào tạo  
và thực hành thường xuyên, từ đó người  
soi mới có kinh nghiệm để thao tác nhanh  
và chính xác. Hiện nay, hầu hết việc thử  
kính chủ quan dựa trên kết quả đo khúc  
xạ t ự động. Máy khúc xạ t ự động ngày  
càng được sử dụng phổ biến trong khám  
sàng lọc tật khúc xạ tại các phòng khám  
lâm sàng, hay trong nghiên cứu như điều  
tra dịch tễ t ật khúc xạ, thử nghiệm lâm  
sàng [2]. Ưu điểm của máy là đo nhanh,  
tiết kiệm thời gian, tiện lợi, dễ s ử d ụng,  
không phụ thuộc vào chủ quan của người  
đo và người bệnh dễ chấp nhận. Nhược  
điểm của máy là mặc dù được tích hợp  
cơ chế “sương mù” tự động để tránh tác  
động điều tiết của mắt trong quá trình đo,  
nhưng sai s ố v ẫn gặp do khoảng cách  
giữa mắt và v ật tiêu rất gần, không kiểm  
soát được điều tiết [1]. Xu hướng khúc xạ  
khi đo thường bị “quá trừ”, đặc biệt trên  
đối tượng trẻ em. Sử d ụng kết quả đo  
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu  
đã chỉ ra: Soi bóng đồng tử có tra thuốc  
liệt điều tiết cho kết quả đảm bảo tính  
chính xác cao nhất. Trong sàng l ọc khúc  
xạ hay điều tra dịch tễ tật khúc xạ ở trẻ  
em, việc sử dụng khúc xạ tự động có tra  
thuốc liệt điều tiết cho hiệu quả h ơn về  
tốc độ đo [3]. Việc đo khúc xạ tự động có  
tra thuốc liệt điều tiết giúp loại trừ sai s ố  
gây ra do tác động của điều tiết, tuy nhiên  
kết quả giữa những lần đo vẫn có sự  
chênh lệch. Theo Hu (2015), khả n ăng  
điều tiết của thể thủy tinh phụ thuộc vào  
tuổi, tuổi càng nhỏ điều tiết càng tốt càng  
dễ gây sai số khi đo khúc xạ tự động [5].  
Ở Việt Nam, tại nhiều cơ sở khám mắt  
hoặc cửa hàng kính, việc thử kính chủ  
quan chỉ dựa trên kết quả đo khúc xạ tự  
khúc xạ tự động có thể dẫn đến việc thử động không tra thuốc liệt điều tiết dẫn đến  
kính và kê đơn quá cận, gây tăng tiến  
cấp sai số kính cho trẻ. Để tìm hi ểu sự  
133  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
chênh lệch khúc xạ giữa đo khúc xạ t ự thuốc; có bệnh lý khác tại mắt hoặc  
toàn thân.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu  
mô tả.  
động có và không tra thuốc liệt điều tiết  
và so sánh ở các nhóm tuổi, chúng tôi  
thực hiện đề tài này nhằm: Khảo sát k ết  
quả khúc xạ t ự động trước và sau tra  
thuốc cyclogyl 1% và tìm hiểu ảnh hưởng  
của tuổi đối với kết quả đo khúc xạ t ự  
động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%  
ở trẻ em.  
- Cỡ mẫu: 380 mắt của 190 trẻ.  
- Phương tiện nghiên cứu: Máy chiếu  
thị l ực, máy đo khúc xạ t ự động Nidex  
ARK-1, thuốc cyclogyl 1%, bệnh án  
nghiên cứu.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
- Các bước tiến hành:  
+ Đo khúc xạ t ự động trước tra  
1. Đối tượng nghiên cứu  
cyclogyl 1%.  
Nghiên cứu được thực hiện trên 190  
trẻ (380 mắt) mắc tật khúc xạ t ại Khoa  
Khúc xạ, Bệnh viện Mắt Trung ương.  
+ Tra thuốc cyclogyl 1%: 3 l ần cách  
nhau 10 phút và bệnh nhân ngồi nhắm  
mắt trong 30 phút.  
* Tiêu chuẩn lựa chọn:  
- Trẻ từ 7 - 11 tuổi.  
+ Đo khúc xạ t ự động sau tra thuốc  
cyclogyl 1%.  
- Trẻ và gia đình tự nguyện tham gia  
nghiên cứu.  
+ Ghi lại kết quả khúc xạ tự động thời  
điểm trước và sau tra thuốc.  
* Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS  
* Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ không hợp  
tác đo khúc xạ tự động; có tiền sử dị ứng  
20.0.  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN  
1. Đặc điểm bệnh nhân  
Nghiên cứu được thực hiện trên 190 trẻ, gồm 98 nam (51,6%) và 92 nữ (48,4%).  
Bảng 1: Tuổi và giới.  
Tuổi  
7
8
9
10  
11  
Tổng (n, %)  
Giới  
Nam  
Nữ  
20  
24  
24  
21  
21  
16  
18  
16  
15  
15  
98 (51,6)  
92 (48,4)  
Tổng (n, %)  
44 (23,2)  
45 (23,7)  
37 (19,5)  
34 (17,9)  
30 (15,8)  
190 (100,0)  
134  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
2. Kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%  
* Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%:  
Biểu đồ 1: Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%.  
Khúc xạ cầu sau khi tra thuốc cyclogyl 1% có xu hướng dịch chuyển từ cận thị sang  
chính thị và viễn thị. Trước tra thuốc, 255 mắt (67,1%) có khúc xạ cầu cận nhưng sau  
tra thuốc chỉ còn 209 mắt (55%) khúc xạ cầu cận, ngược lại trước tra thuốc chỉ có 82  
(21,6%) mắt khúc xạ cầu viễn nhưng sau tra thuốc có tới 137 mắt (36,1%) có khúc xạ  
cầu viễn. Như v ậy, nếu không tra thuốc liệt điều tiết để đo khúc xạ s ẽ có 46 m ắt  
(12,1%) là cận thị giả, mặc dù mắt là chính thị hoặc thậm chí viễn thị nhưng sẽ bị chẩn  
đoán nhầm là cận thị, dẫn đến cấp kính sai số. Hu (2015) đo khúc xạ tự động trước và  
sau tra cyclogyl 1% cho bệnh nhân từ 4 - 18 tuổi bằng máy Topcon KR8900 nhận thấy  
33,6% mắt có khúc xạ cầu cận sau tra thuốc lại là mắt chính thị và viễn thị [5]. Sự khác  
nhau này có thể do nghiên cứu của chúng tôi dùng thế hệ máy đo khúc xạ khác và đối  
tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ từ 7 - 11 tuổi.  
* Mức độ khúc xạ cầu cận:  
Bảng 2: Phân loại khúc xạ cầu cận theo mức độ.  
Trước tra thuốc  
Sau tra thuốc  
Thời điểm  
Mức độ cận thị (D)  
n
%
n
%
≤ -6,00  
22  
68  
8,6  
17  
8,1  
24,4  
67,5  
100,0  
> -6,00 - ≤ -3,00  
> -3,00 - ≤ -0,50  
Tổng  
26,7  
64,7  
100,0  
51  
165  
255  
141  
209  
Khúc xạ cầu cận có xu hướng dịch chuyển từ cận thị nặng sang cận thị trung bình  
và cận thị nhẹ. Trước tra thuốc, có tới 22 mắt cận thị mức độ nặng nhưng sau tra  
thuốc chỉ còn 17 mắt. Kết quả của Hu (2015): ở nhóm 7 - 9 tuổi trước tra thuốc có 11  
135  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
mắt cận thị nặng nhưng sau tra thuốc còn 7 mắt, ở nhóm 10 - 12 tuổi trước tra thuốc  
có 43 mắt cận thị nặng nhưng sau tra thuốc chỉ còn 31 mắt [5]. Như vậy, kết quả của  
chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Hu.  
* Mức độ khúc xạ cầu viễn:  
Bảng 3: Phân loại khúc xạ cầu viễn theo mức độ.  
Trước tra thuốc  
Sau tra thuốc  
Thời điểm  
Mức độ viễn thị (D)  
n
%
n
%
≥ +5,00  
10  
5
1,22  
6,1  
19  
13,9  
10,2  
≥ +3,00 - < +5,00  
≥ +0,50 - < +3,00  
Tổng  
14  
67  
82  
81,7  
100,0  
104  
137  
75,9  
100,0  
Ngược với khúc xạ c ầu cận, mức độ  
khúc xạ c ầu viễn có xu h ướng dịch  
chuyển từ viễn thị nhẹ sang viễn thị trung  
bình và viễn thị nặng. Trước tra thuốc, chỉ  
có 10 mắt viễn thị n ặng nhưng sau tra  
thuốc là 19 mắt. Kết quả c ủa chúng tôi  
tương tự nghiên cứu của Hu (2015): ở  
nhóm 7 - 9 tuổi trước tra thuốc có 14 mắt  
viễn thị n ặng nhưng sau tra thuốc là 32  
mắt, ở nhóm 10 - 12 tuổi trước tra thuốc  
có 14 mắt viễn thị n ặng nhưng sau tra  
thuốc có 26 mắt [5].  
Công suất khúc xạ cầu cận: Trước tra  
thuốc công suất khúc xạ c ầu cận trung  
bình là -2,99 2,07D; sau khi tra thuốc  
công suất khúc xạ cầu cận trung bình chỉ  
còn -2,58 1,88D; chênh lệch công suất  
khúc xạ trước và sau tra thuốc là 0,41  
0,46D (p = 0,000).  
Công suất khúc xạ cầu viễn: Trước tra  
thuốc công suất khúc xạ c ầu viễn trung  
bình là +2,14 2,26D nhưng sau khi tra  
thuốc liệt điều tiết công suất khúc xạ cầu  
viễn trung bình tăng tới +3,43  
2,59D;  
* Chênh lệch công suất khúc xạ c ầu  
sau liệt điều tiết:  
chênh lệch công suất khúc xạ trước và  
sau tra thuốc là 1,28 1,27D (p = 0,000).  
So với khúc xạ cầu cận, chênh lệch khúc  
xạ cầu viễn nhiều hơn. Như vậy, nếu đo  
khúc xạ tự động mà không tra thuốc liệt  
điều tiết việc sai số viễn (non viễn) mức  
độ nặng nhiều hơn sai số cận (già cận).  
Kết quả c ủa chúng tôi tương tự nghiên  
cứu của Hassan (2016): Chênh lệch công  
suất khúc x ạ cầu viễn nhiều hơn so với  
cầu cận khi so sánh công suất khúc xạ  
cầu trước và sau khi tra thuốc cyclogyl  
Chênh lệch công suất khúc xạ c ầu  
trung bình sau tra thuốc so v ới trước tra  
thuốc liệt điều tiết là 0,76  
0,83D.  
Choong (2006) thấy: Chênh lệch khúc xạ  
cầu trung bình trước và sau tra cyclogyl  
1% đo bằng máy khúc xạ tự động ở học  
sinh tiểu học là 0,80D [3]. Babitha (2017):  
Chênh lệch khúc xạ cầu trung bình trước  
và sau tra cyclogyl 1% khi đo bằng máy  
khúc xạ tự động là 1,09 1,1D [2]. Nhưvậy,  
kết quả c ủa chúng tôi tương đương với  
Choong và thấp hơn kết quả của Babitha. 1% [4].  
136  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
* Chênh lệch công suất khúc xạ trụ (-1,40 0,19D) (p > 0,05). Như vậy, tác  
sau liệt điều tiết:  
động của thuốc cyclogyl 1% chủ yếu lên  
khúc xạ cầu mà không ảnh hưởng khúc  
xạ trụ. Kết quả c ủa chúng tôi tương tự  
nghiên cứu của Hu (2015) [5].  
Công suất khúc xạ trụ sau tra thuốc  
liệt điều tiết hầu như không thay đổi  
(-1,33  
0,21D) so với trước tra thuốc  
3. Liên quan giữa tuổi và kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra cyclogyl 1%  
* Kết quả khúc xạ cầu theo tuổi trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%:  
Bảng 4: Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%.  
Trước tra thuốc (n, %)  
Chính thị  
12 (27,9)  
Sau tra thuốc (n, %)  
Chính thị  
8 (23,5)  
Độ tuổi  
Cận thị  
47 (18,4)  
56 (22,0)  
53 (20,8)  
51 (20,0)  
48 (18,8)  
Viễn thị C  
29 (35,4)  
22 (26,8)  
10 (12,2)  
12 (14,6)  
9 (11,0)  
ận thị  
34 (16,3)  
47 (22,5)  
39 (18,7)  
49 (23,4)  
40 (19,1)  
Viễn thị  
46 (33,6)  
36 (26,3)  
22 (16,1)  
15 (10,9)  
18 (13,1)  
137 (100,0)  
7
8
12 (27,9)  
7 (20,6)  
9
11 (25,6)  
13 (38,2)  
10  
11  
Tổng  
5 (11,6)  
4 (11,8)  
3 (7,0)  
2 (5,9)  
255 (100,0)  
43 (100,0)  
82 (100,0)  
209 (100,0)  
34 (100,0)  
Tất cả 5 nhóm tuổi đều tuân theo một quy luật chung là sau khi tra thuốc liệt điều  
tiết, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm còn số mắt có khúc x ạ cầu viễn tăng, tuy nhiên  
chưa thấy sự khác nhau giữa 5 nhóm tuổi (p > 0,05).  
* Chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% theo  
nhóm tuổi:  
Bảng 5: Chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận trước và sau tra thuốc theo nhóm tuổi.  
Thời điểm  
Chênh lệch công  
suất trung bình  
Trước tra thuốc  
Sau tra thuốc  
p
Tuổi  
7
8
-3,00 2,41  
-2,77 0,34  
-2,79 1,74  
-2,53 1,71  
-3,54 1,66  
-2,49 2,19  
-2,36 1,91  
-2,37 1,62  
-2,16 1,54  
-3,13 1,59  
0,52 0,51  
0,40 0,56  
0,41 0,34  
0,37 0,39  
0,41 0,48  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
9
10  
11  
Ở từng nhóm tuổi, công suất khúc xạ cầu cận sau tra thuốc liệt điều tiết đều thấp  
hơn so với trước tra thuốc, khác biệt có ý nghĩa thống kê. Chênh lệch công suất khúc  
xạ cầu cận ở nhóm 7 tuổi nhiều nhất 0,52 0,51D. Tuy nhiên, so sánh các nhóm tuổi,  
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Theo nghiên cứu của Hu (2015),  
tuổi càng lớn chênh lệch công suất khúc xạ cầu sau tra thuốc cyclogyl 1% so với trước  
137  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
tra thuốc càng ít [5]. S ự khác nhau này có thể do số lượng nhóm nghiên cứu của  
chúng tôi chưa đủ lớn để thấy sự khác biệt giữa các nhóm tuổi.  
* Chênh lệch công suất khúc xạ cầu viễn trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% theo  
nhóm tuổi:  
Bảng 6: Chênh lệch công suất khúc xạ cầu viễn trước và sau tra thuốc theo nhóm tuổi.  
Thời điểm  
Chênh lệch công  
suất trung bình  
Trước tra thuốc  
Sau tra thuốc  
p
Tuổi  
7
8
2,10 2,38  
2,70 2,89  
2,18 2,41  
1,54 0,95  
1,61 0,72  
3,42 2,49  
4,10 3,45  
2,22 2,4  
1,32 0,90  
1,44 1,98  
1,05 0,64  
1,43 1,27  
0,83 0,50  
0,000  
0,003  
0,001  
0,002  
0,001  
9
10  
11  
2,98 1,96  
2,44 0,66  
Ở từng nhóm tuổi, công suất khúc xạ cầu viễn sau tra thuốc liệt điều tiết đều cao  
hơn so với trước tra thuốc, khác biệt có ý nghĩa thống kê. Chênh lệch công suất khúc  
xạ cầu viễn nhiều nhất ở nhóm 7 tuổi (1,32 0,90D), ít nhất ở nhóm 11 tuổi (0,83 0,5D).  
Tuy nhiên, so sánh các nhóm tuổi, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).  
International Journal of Contemporary Medical  
KẾT LUẬN  
Research 2017; 4(3):740-743.  
So sánh kết quả khúc xạ t ự động  
2. Babitha V, Padma BP, Nadhiya T. A  
trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% ở trẻ  
comparative study of noncycloplegic automated  
em thấy: Sau tra thuốc, khúc xạ cầu có xu  
refraction, cycloplegic automated refraction  
hướng chuyển từ cận sang viễn. Chênh  
and cycloplegic refraction among youngsters.  
lệch công suất khúc xạ cầu trung bình là  
0,76 0,83D, chênh lệch công suất khúc  
xạ c ầu cận là 0,41 0,46D, chênh lệch  
công suất khúc xạ cầu viễn là 1,28 1,27D.  
Indian Journal of Clinical and Experimental  
Ophthalmology 2017; 3(2):202-206.  
3. Choong YF, AH Chen, PP Goh. A  
comparison of autorefraction and subjective  
refraction with and without cycloplegia in  
primary school children. Am J Ophthalmol  
2006; 142(1):68-74.  
Ở t ất cả 5 nhóm tuổi, sau tra thuốc  
cyclogyl 1% số mắt có khúc xạ cầu viễn  
tăng và số mắt có khúc xạ cầu cận giảm.  
Tuy nhiên, sự chênh lệch công suất khúc  
xạ c ầu không khác biệt giữa các nhóm  
tuổi.  
4. Hassan H, Mehdi K, Amir A. Cycloplegic  
autorefraction versus subjective refraction:  
The Tehran eye study. Br J Ophthalmol 2016;  
100:1122-1127.  
5. Hu YY, JF Wu, TL Lu, H Wu, W Sun, XR  
Wang, HS Bi, JB Jonas. Effect of cycloplegia  
on the refractive status of children: The  
Shandong children eye study. PLoS One  
2015; 10(2):e0117482.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Anita G, Saroj B, Inderjit K. Comparison  
of autorefractometer, retinoscope and subjective  
method in myopic and hypermetropic patients.  
138  
pdf 7 trang yennguyen 20680 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra Cyclogyl 1% ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_ket_qua_khuc_xa_tu_dong_truoc_va_sau_tra_cyclogyl_1.pdf