So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra Cyclogyl 1% ở trẻ em
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
SO SÁNH KẾT QUẢ KHÚC XẠ TỰ ĐỘNG
TRƯỚC VÀ SAU TRA CYCLOGYL 1% Ở TRẺ EM
Nguyễn Thị Thu Hiền1
TÓM TẮT
Mục tiêu: So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% ở trẻ
em, tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố tuổi đối với khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc
cyclogyl 1% ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, thực hiện trên
380 mắt của 190 trẻ từ 7 - 11 tuổi mắc tật khúc xạ tại Khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt
Trung ương. Kết quả: Sau tra thuốc, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm (từ 255 mắt còn
209 mắt), số mắt có khúc xạ cầu viễn tăng (từ 82 mắt lên 137 mắt), số mắt cận nặng
giảm (từ 22 mắt còn 17 mắt), số m ắt viễn nặng tăng (từ 67 mắt lên 104 mắt).
Chênh lệch công suất khúc xạ cầu trung bình trước và sau tra thuốc là 0,76 0,83D,
chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận là 0,41 0,46D (p = 0,000), chênh lệch công
suất khúc xạ cầu viễn là 1,28 1,27D (p = 0,000). Ở tất cả nhóm tuổi đều tuân theo
quy luật: Sau tra thuốc cyclogyl 1%, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm còn số mắt có
khúc xạ cầu viễn tăng, chênh lệch công suất khúc xạ ở các nhóm tuổi không khác biệt
(p > 0,05). Kết luận: Đo khúc xạ tự động sau khi tra thuốc liệt điều tiết kiểm soát điều
tiết mắt tốt hơn. Khúc xạ cầu sau tra thuốc có xu hướng chuyển từ cận thị sang chính
thị và viễn thị. Không thấy khác biệt giữa các nhóm từ 7 - 11 tuổi.
* Từ khóa: Khúc xạ liệt điều tiết; Khúc xạ không liệt điều tiết; Đo khúc xạ tự động;
Cyclogyl 1%.
Comparison of Auto-refractive Results before and after Using the
Cyclogyl 1% in Children
Summary
Objectives: To compare auto-refractive results before and after using the cyclogyl 1% in
children, to find out the effect of the age factor on auto-refraction before and after using the
cyclogyl 1% in children. Subjects and methods: A descriptive study was conducted on 380
eyes of 190 patients with refractive error in the Refraction Department, Vietnam National Eye
Hospital. Results: After dropping cyclogyl 1%: the number of myopic eyes decreased (from 255
to 209 eyes), but the number of hyperopic eyes increased (from 82 to 137 eyes), the high myopic
eyes decreased (from 22 to 17 eyes) but the high hyperopic eyes increased (from 67 to 104 eyes).
1Bệnh viện Mắt Trung ương
Ngày nhận bài:18/3/2021
Ngày bài báo được đăng: 4/4/2021
132
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
The difference in average spherical refractive power before and after using cyclotgyl 1% was
0.76 0.83D, the difference in myopic power was 0.41 0.46D (p = 0.000), the difference in
hyperopic power was 1.28 1.27D (p = 0.000). All age groups (7 - 11) followed the rules: After
using cyclogyl 1%, the number of myopic eyes decreased, but the number of hyperopic eyes
increased. The difference in average spherical refractive power was not statistically significant
(p > 0.05). Conclusion: Auto-refractometry after dropping cyclopentolate keeps control
accommodation better. Spherical refraction after using the drug tends to shift from myopia to
hyperopia. There is no difference between age groups from 7 to 11.
* Keywords: Cycloplegic refraction; Non-cycloplegic refraction; Auto-refractometry; Cyclogyl 1%.
ĐẶT VẤN ĐỀ
triển cận thị ở trẻ. Sử dụng thuốc liệt điều
tiết giúp cho kết quả đo khúc xạ tự động
chính xác hơn, tuy nhiên việc tra thuốc
liệt điều tiết có thể gây b ất tiện, khó chịu
cho trẻ do thời gian đợi thuốc phát huy
tác dụng và tác dụng phụ không mong
muốn của thuốc sau khi tra.
Ở trẻ em, soi bóng đồng tử có tra
thuốc liệt điều tiết vẫn là tiêu chuẩn vàng
để chẩn đoán tật khúc xạ. Tuy nhiên, kỹ
năng soi bóng đồng tử cần được đào tạo
và thực hành thường xuyên, từ đó người
soi mới có kinh nghiệm để thao tác nhanh
và chính xác. Hiện nay, hầu hết việc thử
kính chủ quan dựa trên kết quả đo khúc
xạ t ự động. Máy khúc xạ t ự động ngày
càng được sử dụng phổ biến trong khám
sàng lọc tật khúc xạ tại các phòng khám
lâm sàng, hay trong nghiên cứu như điều
tra dịch tễ t ật khúc xạ, thử nghiệm lâm
sàng [2]. Ưu điểm của máy là đo nhanh,
tiết kiệm thời gian, tiện lợi, dễ s ử d ụng,
không phụ thuộc vào chủ quan của người
đo và người bệnh dễ chấp nhận. Nhược
điểm của máy là mặc dù được tích hợp
cơ chế “sương mù” tự động để tránh tác
động điều tiết của mắt trong quá trình đo,
nhưng sai s ố v ẫn gặp do khoảng cách
giữa mắt và v ật tiêu rất gần, không kiểm
soát được điều tiết [1]. Xu hướng khúc xạ
khi đo thường bị “quá trừ”, đặc biệt trên
đối tượng trẻ em. Sử d ụng kết quả đo
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra: Soi bóng đồng tử có tra thuốc
liệt điều tiết cho kết quả đảm bảo tính
chính xác cao nhất. Trong sàng l ọc khúc
xạ hay điều tra dịch tễ tật khúc xạ ở trẻ
em, việc sử dụng khúc xạ tự động có tra
thuốc liệt điều tiết cho hiệu quả h ơn về
tốc độ đo [3]. Việc đo khúc xạ tự động có
tra thuốc liệt điều tiết giúp loại trừ sai s ố
gây ra do tác động của điều tiết, tuy nhiên
kết quả giữa những lần đo vẫn có sự
chênh lệch. Theo Hu (2015), khả n ăng
điều tiết của thể thủy tinh phụ thuộc vào
tuổi, tuổi càng nhỏ điều tiết càng tốt càng
dễ gây sai số khi đo khúc xạ tự động [5].
Ở Việt Nam, tại nhiều cơ sở khám mắt
hoặc cửa hàng kính, việc thử kính chủ
quan chỉ dựa trên kết quả đo khúc xạ tự
khúc xạ tự động có thể dẫn đến việc thử động không tra thuốc liệt điều tiết dẫn đến
kính và kê đơn quá cận, gây tăng tiến
cấp sai số kính cho trẻ. Để tìm hi ểu sự
133
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
chênh lệch khúc xạ giữa đo khúc xạ t ự thuốc; có bệnh lý khác tại mắt hoặc
toàn thân.
2. Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả.
động có và không tra thuốc liệt điều tiết
và so sánh ở các nhóm tuổi, chúng tôi
thực hiện đề tài này nhằm: Khảo sát k ết
quả khúc xạ t ự động trước và sau tra
thuốc cyclogyl 1% và tìm hiểu ảnh hưởng
của tuổi đối với kết quả đo khúc xạ t ự
động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%
ở trẻ em.
- Cỡ mẫu: 380 mắt của 190 trẻ.
- Phương tiện nghiên cứu: Máy chiếu
thị l ực, máy đo khúc xạ t ự động Nidex
ARK-1, thuốc cyclogyl 1%, bệnh án
nghiên cứu.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
- Các bước tiến hành:
+ Đo khúc xạ t ự động trước tra
1. Đối tượng nghiên cứu
cyclogyl 1%.
Nghiên cứu được thực hiện trên 190
trẻ (380 mắt) mắc tật khúc xạ t ại Khoa
Khúc xạ, Bệnh viện Mắt Trung ương.
+ Tra thuốc cyclogyl 1%: 3 l ần cách
nhau 10 phút và bệnh nhân ngồi nhắm
mắt trong 30 phút.
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Trẻ từ 7 - 11 tuổi.
+ Đo khúc xạ t ự động sau tra thuốc
cyclogyl 1%.
- Trẻ và gia đình tự nguyện tham gia
nghiên cứu.
+ Ghi lại kết quả khúc xạ tự động thời
điểm trước và sau tra thuốc.
* Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS
* Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ không hợp
tác đo khúc xạ tự động; có tiền sử dị ứng
20.0.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Đặc điểm bệnh nhân
Nghiên cứu được thực hiện trên 190 trẻ, gồm 98 nam (51,6%) và 92 nữ (48,4%).
Bảng 1: Tuổi và giới.
Tuổi
7
8
9
10
11
Tổng (n, %)
Giới
Nam
Nữ
20
24
24
21
21
16
18
16
15
15
98 (51,6)
92 (48,4)
Tổng (n, %)
44 (23,2)
45 (23,7)
37 (19,5)
34 (17,9)
30 (15,8)
190 (100,0)
134
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
2. Kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%
* Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%:
Biểu đồ 1: Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%.
Khúc xạ cầu sau khi tra thuốc cyclogyl 1% có xu hướng dịch chuyển từ cận thị sang
chính thị và viễn thị. Trước tra thuốc, 255 mắt (67,1%) có khúc xạ cầu cận nhưng sau
tra thuốc chỉ còn 209 mắt (55%) khúc xạ cầu cận, ngược lại trước tra thuốc chỉ có 82
(21,6%) mắt khúc xạ cầu viễn nhưng sau tra thuốc có tới 137 mắt (36,1%) có khúc xạ
cầu viễn. Như v ậy, nếu không tra thuốc liệt điều tiết để đo khúc xạ s ẽ có 46 m ắt
(12,1%) là cận thị giả, mặc dù mắt là chính thị hoặc thậm chí viễn thị nhưng sẽ bị chẩn
đoán nhầm là cận thị, dẫn đến cấp kính sai số. Hu (2015) đo khúc xạ tự động trước và
sau tra cyclogyl 1% cho bệnh nhân từ 4 - 18 tuổi bằng máy Topcon KR8900 nhận thấy
33,6% mắt có khúc xạ cầu cận sau tra thuốc lại là mắt chính thị và viễn thị [5]. Sự khác
nhau này có thể do nghiên cứu của chúng tôi dùng thế hệ máy đo khúc xạ khác và đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ từ 7 - 11 tuổi.
* Mức độ khúc xạ cầu cận:
Bảng 2: Phân loại khúc xạ cầu cận theo mức độ.
Trước tra thuốc
Sau tra thuốc
Thời điểm
Mức độ cận thị (D)
n
%
n
%
≤ -6,00
22
68
8,6
17
8,1
24,4
67,5
100,0
> -6,00 - ≤ -3,00
> -3,00 - ≤ -0,50
Tổng
26,7
64,7
100,0
51
165
255
141
209
Khúc xạ cầu cận có xu hướng dịch chuyển từ cận thị nặng sang cận thị trung bình
và cận thị nhẹ. Trước tra thuốc, có tới 22 mắt cận thị mức độ nặng nhưng sau tra
thuốc chỉ còn 17 mắt. Kết quả của Hu (2015): ở nhóm 7 - 9 tuổi trước tra thuốc có 11
135
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
mắt cận thị nặng nhưng sau tra thuốc còn 7 mắt, ở nhóm 10 - 12 tuổi trước tra thuốc
có 43 mắt cận thị nặng nhưng sau tra thuốc chỉ còn 31 mắt [5]. Như vậy, kết quả của
chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Hu.
* Mức độ khúc xạ cầu viễn:
Bảng 3: Phân loại khúc xạ cầu viễn theo mức độ.
Trước tra thuốc
Sau tra thuốc
Thời điểm
Mức độ viễn thị (D)
n
%
n
%
≥ +5,00
10
5
1,22
6,1
19
13,9
10,2
≥ +3,00 - < +5,00
≥ +0,50 - < +3,00
Tổng
14
67
82
81,7
100,0
104
137
75,9
100,0
Ngược với khúc xạ c ầu cận, mức độ
khúc xạ c ầu viễn có xu h ướng dịch
chuyển từ viễn thị nhẹ sang viễn thị trung
bình và viễn thị nặng. Trước tra thuốc, chỉ
có 10 mắt viễn thị n ặng nhưng sau tra
thuốc là 19 mắt. Kết quả c ủa chúng tôi
tương tự nghiên cứu của Hu (2015): ở
nhóm 7 - 9 tuổi trước tra thuốc có 14 mắt
viễn thị n ặng nhưng sau tra thuốc là 32
mắt, ở nhóm 10 - 12 tuổi trước tra thuốc
có 14 mắt viễn thị n ặng nhưng sau tra
thuốc có 26 mắt [5].
Công suất khúc xạ cầu cận: Trước tra
thuốc công suất khúc xạ c ầu cận trung
bình là -2,99 2,07D; sau khi tra thuốc
công suất khúc xạ cầu cận trung bình chỉ
còn -2,58 1,88D; chênh lệch công suất
khúc xạ trước và sau tra thuốc là 0,41
0,46D (p = 0,000).
Công suất khúc xạ cầu viễn: Trước tra
thuốc công suất khúc xạ c ầu viễn trung
bình là +2,14 2,26D nhưng sau khi tra
thuốc liệt điều tiết công suất khúc xạ cầu
viễn trung bình tăng tới +3,43
2,59D;
* Chênh lệch công suất khúc xạ c ầu
sau liệt điều tiết:
chênh lệch công suất khúc xạ trước và
sau tra thuốc là 1,28 1,27D (p = 0,000).
So với khúc xạ cầu cận, chênh lệch khúc
xạ cầu viễn nhiều hơn. Như vậy, nếu đo
khúc xạ tự động mà không tra thuốc liệt
điều tiết việc sai số viễn (non viễn) mức
độ nặng nhiều hơn sai số cận (già cận).
Kết quả c ủa chúng tôi tương tự nghiên
cứu của Hassan (2016): Chênh lệch công
suất khúc x ạ cầu viễn nhiều hơn so với
cầu cận khi so sánh công suất khúc xạ
cầu trước và sau khi tra thuốc cyclogyl
Chênh lệch công suất khúc xạ c ầu
trung bình sau tra thuốc so v ới trước tra
thuốc liệt điều tiết là 0,76
0,83D.
Choong (2006) thấy: Chênh lệch khúc xạ
cầu trung bình trước và sau tra cyclogyl
1% đo bằng máy khúc xạ tự động ở học
sinh tiểu học là 0,80D [3]. Babitha (2017):
Chênh lệch khúc xạ cầu trung bình trước
và sau tra cyclogyl 1% khi đo bằng máy
khúc xạ tự động là 1,09 1,1D [2]. Nhưvậy,
kết quả c ủa chúng tôi tương đương với
Choong và thấp hơn kết quả của Babitha. 1% [4].
136
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
* Chênh lệch công suất khúc xạ trụ (-1,40 0,19D) (p > 0,05). Như vậy, tác
sau liệt điều tiết:
động của thuốc cyclogyl 1% chủ yếu lên
khúc xạ cầu mà không ảnh hưởng khúc
xạ trụ. Kết quả c ủa chúng tôi tương tự
nghiên cứu của Hu (2015) [5].
Công suất khúc xạ trụ sau tra thuốc
liệt điều tiết hầu như không thay đổi
(-1,33
0,21D) so với trước tra thuốc
3. Liên quan giữa tuổi và kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra cyclogyl 1%
* Kết quả khúc xạ cầu theo tuổi trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%:
Bảng 4: Phân loại khúc xạ cầu trước và sau tra thuốc cyclogyl 1%.
Trước tra thuốc (n, %)
Chính thị
12 (27,9)
Sau tra thuốc (n, %)
Chính thị
8 (23,5)
Độ tuổi
Cận thị
47 (18,4)
56 (22,0)
53 (20,8)
51 (20,0)
48 (18,8)
Viễn thị C
29 (35,4)
22 (26,8)
10 (12,2)
12 (14,6)
9 (11,0)
ận thị
34 (16,3)
47 (22,5)
39 (18,7)
49 (23,4)
40 (19,1)
Viễn thị
46 (33,6)
36 (26,3)
22 (16,1)
15 (10,9)
18 (13,1)
137 (100,0)
7
8
12 (27,9)
7 (20,6)
9
11 (25,6)
13 (38,2)
10
11
Tổng
5 (11,6)
4 (11,8)
3 (7,0)
2 (5,9)
255 (100,0)
43 (100,0)
82 (100,0)
209 (100,0)
34 (100,0)
Tất cả 5 nhóm tuổi đều tuân theo một quy luật chung là sau khi tra thuốc liệt điều
tiết, số mắt có khúc xạ cầu cận giảm còn số mắt có khúc x ạ cầu viễn tăng, tuy nhiên
chưa thấy sự khác nhau giữa 5 nhóm tuổi (p > 0,05).
* Chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% theo
nhóm tuổi:
Bảng 5: Chênh lệch công suất khúc xạ cầu cận trước và sau tra thuốc theo nhóm tuổi.
Thời điểm
Chênh lệch công
suất trung bình
Trước tra thuốc
Sau tra thuốc
p
Tuổi
7
8
-3,00 2,41
-2,77 0,34
-2,79 1,74
-2,53 1,71
-3,54 1,66
-2,49 2,19
-2,36 1,91
-2,37 1,62
-2,16 1,54
-3,13 1,59
0,52 0,51
0,40 0,56
0,41 0,34
0,37 0,39
0,41 0,48
0,000
0,000
0,000
0,000
0,000
9
10
11
Ở từng nhóm tuổi, công suất khúc xạ cầu cận sau tra thuốc liệt điều tiết đều thấp
hơn so với trước tra thuốc, khác biệt có ý nghĩa thống kê. Chênh lệch công suất khúc
xạ cầu cận ở nhóm 7 tuổi nhiều nhất 0,52 0,51D. Tuy nhiên, so sánh các nhóm tuổi,
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Theo nghiên cứu của Hu (2015),
tuổi càng lớn chênh lệch công suất khúc xạ cầu sau tra thuốc cyclogyl 1% so với trước
137
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021
tra thuốc càng ít [5]. S ự khác nhau này có thể do số lượng nhóm nghiên cứu của
chúng tôi chưa đủ lớn để thấy sự khác biệt giữa các nhóm tuổi.
* Chênh lệch công suất khúc xạ cầu viễn trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% theo
nhóm tuổi:
Bảng 6: Chênh lệch công suất khúc xạ cầu viễn trước và sau tra thuốc theo nhóm tuổi.
Thời điểm
Chênh lệch công
suất trung bình
Trước tra thuốc
Sau tra thuốc
p
Tuổi
7
8
2,10 2,38
2,70 2,89
2,18 2,41
1,54 0,95
1,61 0,72
3,42 2,49
4,10 3,45
2,22 2,4
1,32 0,90
1,44 1,98
1,05 0,64
1,43 1,27
0,83 0,50
0,000
0,003
0,001
0,002
0,001
9
10
11
2,98 1,96
2,44 0,66
Ở từng nhóm tuổi, công suất khúc xạ cầu viễn sau tra thuốc liệt điều tiết đều cao
hơn so với trước tra thuốc, khác biệt có ý nghĩa thống kê. Chênh lệch công suất khúc
xạ cầu viễn nhiều nhất ở nhóm 7 tuổi (1,32 0,90D), ít nhất ở nhóm 11 tuổi (0,83 0,5D).
Tuy nhiên, so sánh các nhóm tuổi, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
International Journal of Contemporary Medical
KẾT LUẬN
Research 2017; 4(3):740-743.
So sánh kết quả khúc xạ t ự động
2. Babitha V, Padma BP, Nadhiya T. A
trước và sau tra thuốc cyclogyl 1% ở trẻ
comparative study of noncycloplegic automated
em thấy: Sau tra thuốc, khúc xạ cầu có xu
refraction, cycloplegic automated refraction
hướng chuyển từ cận sang viễn. Chênh
and cycloplegic refraction among youngsters.
lệch công suất khúc xạ cầu trung bình là
0,76 0,83D, chênh lệch công suất khúc
xạ c ầu cận là 0,41 0,46D, chênh lệch
công suất khúc xạ cầu viễn là 1,28 1,27D.
Indian Journal of Clinical and Experimental
Ophthalmology 2017; 3(2):202-206.
3. Choong YF, AH Chen, PP Goh. A
comparison of autorefraction and subjective
refraction with and without cycloplegia in
primary school children. Am J Ophthalmol
2006; 142(1):68-74.
Ở t ất cả 5 nhóm tuổi, sau tra thuốc
cyclogyl 1% số mắt có khúc xạ cầu viễn
tăng và số mắt có khúc xạ cầu cận giảm.
Tuy nhiên, sự chênh lệch công suất khúc
xạ c ầu không khác biệt giữa các nhóm
tuổi.
4. Hassan H, Mehdi K, Amir A. Cycloplegic
autorefraction versus subjective refraction:
The Tehran eye study. Br J Ophthalmol 2016;
100:1122-1127.
5. Hu YY, JF Wu, TL Lu, H Wu, W Sun, XR
Wang, HS Bi, JB Jonas. Effect of cycloplegia
on the refractive status of children: The
Shandong children eye study. PLoS One
2015; 10(2):e0117482.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anita G, Saroj B, Inderjit K. Comparison
of autorefractometer, retinoscope and subjective
method in myopic and hypermetropic patients.
138
Bạn đang xem tài liệu "So sánh kết quả khúc xạ tự động trước và sau tra Cyclogyl 1% ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
so_sanh_ket_qua_khuc_xa_tu_dong_truoc_va_sau_tra_cyclogyl_1.pdf

