Results on cervical cancer screening for women in Hau Giang province in the period 2015-2019
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
RESULTS ON CERVICAL CANCER SCREENING FOR WOMEN
IN HAU GIANG PROVINCE IN THE PERIOD 2015-2019
Tran Thi Thanh Hue1*, Nguyen Thi Hai Ha2, Nguyen Huy Phu3, Tran Trung Dung4,
Nguyen Thi Tu Anh2, Truong Thi Tan2
1Thang Long University, 2Nam Dinh University of Nursing
3Center for Environmental and Health Studies
4Hau Giang Reproductive Health Care Center
ARTICLE INFO
Received: 26/10/2020
Revised: 07/01/2021
Published: 11/01/2021
ABSTRACT
This study was conducted on 9,001 women aged 21-70 in Chau
Thanh A district, Vi Thuy district, Long My district and Long My
town of Hau Giang province to determine the current situation of
cervical lesions and Several risk factors related to cervical damage
for women aged 21-70 years in Hau Giang province. The results
detected 5,402 cases of gynecological infections, VIA (+) counted
as 570 cases. Percentage of abnormal PAP test results is 53 cases, of
which: ASCUS (3.9%), LSIL (1.8%), HSIL (0.9%), AGC (2.8%).
Women aged 30- 39 have the highest rate of VIA (+) (9.1%). The
most common type of uterine injury in this investigation was
cervicitis. 60.0% of the study subjects were supported with
medicines for gynecological infections; 5.3% supported cold
pressure treatment.
KEYWORDS
Screening
Cervical cancer
VIA test
PAP
Hau Giang
KẾT QUẢ KHÁM SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
TẠI MỘT SỐ HUYỆN, THỊ XÃ CỦA TỈNH HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2015-2019
Trần Thị Thanh Huệ1*, Nguyễn Thị Hải Hà2, Nguyễn Huy Phú3, Trần Trung Dũng4,
Nguyễn Thị Tú Anh2, Trương Thị Tân2
1Trường Đại học Thăng Long
2Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
3Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Sức khỏe
4Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản Hậu Giang
THÔNG TIN BÀI BÁO
Ngày nhận bài: 26/10/2020
Ngày hoàn thiện: 07/01/2021
Ngày đăng: 11/01/2021
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện đối với 9.001 phụ nữ thuộc độ tuổi
21- 70 tại huyện Châu Thành A, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ và
thị xã Long Mỹ của tỉnh Hậu Giang nhằm xác định thực trạng tổn
thương cổ tử cung và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tổn thương
cổ tử cung cho phụ nữ từ 21-70 tuổi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Kết
quả đã phát hiện 5.402 trường hợp viêm nhiễm phụ khoa, VIA (+)
tính là 570 trường hợp. Tỷ lệ kết quả xét nghiệm PAP bất thường là
53 trường hợp, trong đó: ASCUS (3,9%), LSIL (1,8%), HSIL (0,9%),
AGC (2,8%). Phụ nữ từ 30- 39 tuổi có tỷ lệ VIA (+) cao nhất (9,1%).
Loại tổn thương tử cung hay gặp nhất trong điều tra này là viêm cổ tử
cung. 60,0% đối tượng nghiên cứu được hỗ trợ cấp thuốc điều trị
viêm nhiễm phụ khoa; 5,3% được hỗ trợ điều trị áp lạnh.
TỪ KHÓA
Sàng lọc
Ung thư cổ tử cung
Test VIA
PAP
Hậu Giang
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
1. Đặt vấn đề
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là bệnh lý ác tính của biểu mô lát (biểu mô vảy) hoặc biểu mô
tuyến cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở
nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong. Theo báo cáo được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
công bố vào đầu tháng 2/2019, chỉ riêng năm 2018, thế giới ghi nhận 570.000 trường hợp mắc
UTCTC. Mỗi năm, căn bệnh này cướp đi sinh mạng của trên 300.000 phụ nữ [1]. Tại Việt Nam,
năm 2018 có khoảng gần 4.200 ca mắc mới và có hơn 2.400 ca tử vong vì căn bệnh này. Khi
khám sàng lọc UTCTC tại một số huyện của Cần Thơ, Nguyễn Trung Kiên [3] nhận thấy tỉ lệ
viêm nhiễm phụ khoa khá cao, 65,2% số phụ nữ tham gia nghiên cứu. Một trong những lý do dẫn
đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao ở phụ nữ nước ta là do họ chưa được sàng lọc định kỳ có hệ
thống để phát hiện sớm ung thư qua các xét nghiệm thích hợp, dễ tiếp cận; và khi phát hiện tổn
thương tiền ung thư thì cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả [4], [5]. Khi được phát hiện
sớm, UTCTC xâm lấn có thể được điều trị thành công bằng phương pháp cắt bỏ tử cung hoặc xạ
trị, tỷ lệ sống sót thêm 5 năm đối với phụ nữ mắc ung thư ở giai đoạn đầu ước tính là 92%. Với
mục đích tăng cường tầm soát ung thư cổ tử cung cho chị em phụ nữ, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu sàng lọc ung thư cổ tử cung nhằm xác định thực trạng tổn thương cổ tử cung và một
số yếu tố nguy cơ liên quan đến tổn thương cổ tử cung cho phụ nữ từ 21-70 tuổi tại huyện Châu
Thành A, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ và thị xã Long Mỹ của tỉnh Hậu Giang.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu (ĐTNC): chọn toàn bộ phụ nữ (PN) từ 21-70 tuổi tại
huyện Châu Thành A, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ của tỉnh Hậu Giang đồng
ý tham gia nghiên cứu.
- Cỡ mẫu: 9.001 phụ nữ từ 21- 70 tuổi tại các địa điểm nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Tiến hành khám sàng lọc và
chẩn đoán UTCTC theo quy trình ở hình 1.
Khám phụ khoa, Test VIA
Viễm nhiễm phụ khoa
Nghi ngờ ung thư VIA (+)
Chuyển tuyến
VIA (-)
VIA (+)
Pap smear
Cấp thuốc điều
trị
Áp lạnh hoặc LEEP
Hình 1. Quy trình khám sàng lọc và chẩn đoán ung thư cổ tử cung
- Các tiêu chuẩn chẩn đoán [4]:
+ Khám phụ khoa và Test VIA: Phương pháp này thực hiện quan sát cổ tử cung bằng mắt
thường với acid acetic. Kết quả âm tính: không có tổn thương bắt màu trắng acetic hoặc bắt màu
nhạt như polyp, viêm, nang Naboth. Kết quả dương tính: có những vùng bắt màu rõ, nét, ranh
giới rõ có thể kèm hoặc không vùng gờ lên tiếp giáp vùng chuyển tiếp (SCJ); có thể kèm khí hư,
tổn thương mụn cóc (warts). Kết quả nghi ngờ ung thư: nhìn thấy rõ những khối sùi như bắp cải,
loét, rỉ nước hoặc chảy máu khi đụng vào.
13
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
+ Phết tế bào cổ tử cung (Pap smear): Những trường hợp test VIA dương tính được tiến hành
làm phết tế bào cổ tử cung. Phết tế bào cổ tử cung là một xét nghiệm tế bào học để tìm những tế
bào bất thường trong lớp biểu mô cổ tử cung để phát hiện ung thư cổ tử cung. Những trường hợp
có kết quả xét nghiệm Pap smear dương tính được thực hiện soi cổ tử cung. Nếu nghi ngờ ung
thư bệnh nhân được giới thiệu chuyển tuyến để tiếp tục được bấm sinh thiết làm xét nghiệm mô
bệnh học, chẩn đoán xác định ung thư cổ tử cung và điều trị.
+ Điều trị áp lạnh: Tất cả các trường hợp có kết quả sàng lọc VIA (+) sẽ được làm xét nghiệm
Pap smear để khẳng định tình trạng tổn thương sớm ở tế bào cổ tử cung; nếu không nghi ngờ ung
thư sẽ được điều trị áp lạnh. Biện pháp điều trị này sử dụng chất nitơ lỏng, bay hơi ở nhiệt độ cực
thấp, được dẫn qua một dụng cụ bằng kim loại chuyên biệt có thể áp sát vào tổn thương lộ tuyến
trên bề mặt cổ tử cung. Thủ thuật áp lạnh chỉ diễn ra trong khoảng 1 - 2 phút. Các bác sĩ sẽ áp
lạnh 30 giây rồi rút ống kim loại ra ngoài để bảo vệ các mô xung quanh cổ tử cung.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 17.0
- Đạo đức nghiên cứu: Tất cả các trường hợp viêm nhiễm phụ khoa đều được cấp thuốc điều
trị, VIA (+) được tư vấn và điều trị áp lạnh hoặc LEEP, các trường hợp tiền ung thư/ung thư được
tư vấn và hỗ trợ chuyển tuyến điều trị. Thông tin cá nhân cũng như tình trạng sức khỏe của đối
tượng tham gia nghiên cứu được giữ bí mật.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Kết quả thống kê về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung
n
%
1. Nghề nghiệp
- Làm ruộng
- Nội trợ
5500
1980
270
61
22
3
- Viên chức
- Khác
1260
14
2. Tình trạng hôn nhân
- Kết hôn
8578
18
261
144
95,3
0,2
2,9
1,6
- Độc thân
- Góa
- Ly dị/Ly thân
3. Tiền sử sản phụ khoa
- Nạo hút thai
- Sảy thai
1430
2058
19
15,9
22,9
0,2
- Phẫu thuật cắt buồng trứng
- Không có tiền sử trên
5494
61
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, tỷ lệ chị em làm nông nghiệp chiếm 61%; có 8.578 phụ nữ kết hôn
(chiếm 95,3%) và 144 phụ nữ ly dị/ly thân (1,6%); tiền sử sản phụ khoa hay gặp nhất là sảy thai
(22,9%), tiếp đến là nạo hút thai (15,9%).
3.2. Kết quả khám và sàng lọc ung thư cổ tử cung cho phụ nữ ở tỉnh Hậu Giang
Khi điều tra về tình trạng viêm nhiễm phụ khoa của ĐTNC theo độ tuổi, chúng tôi thu được
kết quả như ở hình 2.
14
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
3599
5402
719
957
515
933
2272
818
473
1612
590
112
21-29
30-39
40-49
50-59
60-70
Tổng
Viêm nhiễm phụ khoa
Không viêm nhiễm phụ khoa
Hình 2. Tỷ lệ phụ nữ bị viêm nhiễm phụ khoa theo độ tuổi
Hình 2 cho thấy tổng số phụ nữ viêm nhiễm phụ khoa là 5.402 (chiếm 60%). Trong đó, nhóm
phụ nữ từ 30-39 tuổi có tỷ lệ viêm nhiễm phụ khoa cao nhất (76,0%), sau đó giảm dần ở nhóm tuổi
21-29 (64,4%), nhóm tuổi 40-49 (62,8%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 60-70 (16,0%).
Kết quả xét nghiệm VIA của ĐTNC được trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2. Tỷ lệ phụ nữ có VIA(+) theo độ tuổi
Nhóm tuổi
21-29
Số sàng lọc
1.448
Số VIA(+)
Tỷ lệ % VIA(+)
94
272
173
26
5
570
6,5
9,1
6,7
2,0
0,7
6,3
30-39
40-49
50-59
60-70
2.991
2.569
1.291
702
Tổng
9.001
Kết quả bảng 2 cho thấy 6,3% phụ nữ sàng lọc có kết quả VIA(+), nhóm phụ nữ từ 30-39 tuổi
có tỷ lệ VIA(+) cao nhất (9,1%), giảm dần ở nhóm tuổi 40-49 (6,7%) và thấp nhất ở nhóm tuổi
60-70 (0,7%).
Trong 9.001 ĐTNC có 5.042 ĐTNC viêm nhiễm phụ khoa, chúng tôi tiến hành thăm khám để
phân loại vị trí tổn thương và xác định nguyên nhân viêm nhiễm phụ khoa, kết quả thu được như ở
Bảng 3.
Bảng 3. Tỷ lệ phụ nữ bị viêm nhiễm phụ khoa theo vị trí tổn thương và theo nguyên nhân
Nội dung
Tỷ lệ PN được phát hiện có viêm nhiễm phụ khoa
Phân loại theo vị trí viêm
- Viêm âm hộ
Số lượng (n=9.001)
Tỷ lệ (%)
5.042
60,0
95
1,1
- Viêm âm đạo
- Viêm cổ tử cung
1.334
4.469
14,8
49,7
Phân loại theo nguyên nhân
- Ký sinh trùng
63
568
0,7
6,3
- Nấm Candida
- Vi khuẩn
4.771
53,0
Kết quả ở bảng 3 cho thấy số phụ nữ bị viêm cổ tử cung chiếm 49,7%, số phụ nữ bị viêm âm
đạo chiếm 14,8% và chỉ có 1,1% phụ nữ bị viêm âm hộ. Về nguyên nhân gây viêm có 53% là do vi
khuẩn; 6,3% do nấm Candida và 0,7% do ký sinh trùng.
Khi phân loại tổn thương cổ tử cung cho các ĐTNC, chúng tôi thu được kết quả như ở hình 3.
15
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
Lộ tuyến độ 3
0.2%
0.8%
0.5%
Lộ tuyến độ 2
Lộ tuyến độ 1
Nang Noboth
Viêm CTC
U xơ TC
2.2%
48.4%
0.1%
0.9%
Polip
Bình Thường
49.8%
Hình 3. Phân loại tổn thương cổ tử cung (n=9.001)
Quan sát hình 3 thấy, trong 9.001 phụ nữ được khám sàng lọc có 49,8% chị em có cổ tử cung
bình thường; 48,4% viêm cổ tử cung; 0,8% bị viêm lộ tuyến cổ tử cung độ II; 2,2% bị nang Naboth;
bị Polip là 0,9%.
Trong 9.001 chị em phụ nữ thì với những đối tượng có kết quả VIA (+), chúng tôi tiến hành xét
nghiệm tế bào học cổ tử cung, kết quả được trình bày trong Bảng 4.
Bảng 4. Kết quả xét nghiệm tế bào học cổ tử cung
Nội dung
Số lượng (n = 9.001)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ phụ nữ được làm xét nghiệm tế bào học cổ tử cung
Trong đó:
570
6,3
- Tế bảo vảy không điển hình (ASCUS)
- Tổn thương biểu mô vảy grade thấp (LSIL)-CIN I
- Tổn thương biểu mô vảy grade cao (HSIL)-CIN II, CIN III
- Tế bào tuyến không điển hình (AGC)
Tổng
22
10
5
16
53
3,9
1,8
0,9
2,8
9,3
Kết quả ở bảng 4 cho thấy tỷ lệ phụ nữ được xét nghiệm tế bào học CTC trong tổng số phụ nữ
khám sàng lọc là 6,3%. Trong số 570 phụ nữ VIA (+) được làm xét nghiệm tế bào học CTC, có 53
trường hợp có kết quả tế bào bất thường, trong đó có 22 trường hợp có tế bảo vảy không điển hình
(ASCUS), 10 trường hợp có tổn thương biểu mô vảy grade thấp (LSIL)-CIN I, 05 trường hợp có
tổn thương biểu mô vảy grade cao (HSIL)-CIN II, CIN III và 16 trường hợp có tế bào tuyến không
điển hình (AGC). Như vậy 9,3% phụ nữ VIA(+) có kết quả xét nghiệm tế bào học CTC bất thường
được phát hiện qua khám sàng lọc tại các xã thuộc tỉnh Hậu Giang.
Bảng 7. Bảng tống hợp kết quả hỗ trợ điều trị
Nội dung
Số lượng
Tỷ lệ %
Số phụ nữ khám sàng lọc
9.001
- Tỷ lệ phụ nữ viêm nhiễm phụ khoa được cấp thuốc điều trị viêm nhiễm phụ
khoa/số PN khám sàng lọc
- Tỷ lệ PN được hỗ trợ điều trị áp lạnh/số PN khám sàng lọc
5.402/9.001
476/9.001
60,0
5,3
Số liệu từ bảng 7 cho thấy 60,0% ĐTNC được hỗ trợ cấp thuốc điều trị viêm nhiễm phụ khoa;
5,3% ĐTNC được hỗ trợ điều trị áp lạnh.
4. Bàn luận
Về nghề nghiệp, chúng tôi triển khai nghiên cứu tại 3 huyện vùng nông thôn và 01 thị xã nên
tỷ lệ phụ nữ làm nông nghiệp trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm 61%; sau đó là nhóm ở nhà
làm nội trợ chiếm 22%; chỉ có 3% trong số họ là làm viên chức nhận lương; 14% chị em làm các
công việc khác. Tỷ lệ này khác so với nghiên cứu của Trần Thị Lợi tại thành phố Hồ Chí Minh
16
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
(62,2% nội trợ và buôn bán, làm ruộng là 2,32%) [5] và khác so với nghiên cứu của Gravitt tại
Ấn Độ (36,3% phụ nữ làm ruộng, nội trợ là 30,1%) [6], sự khác nhau này có thể giải thích là do
sự khác biệt về địa bàn nghiên cứu. Tình trạng hôn nhân của ĐTNC như sau: 95,3% đã kết hôn,
kết quả này cũng tương đồng như trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình năm 2013 [7]. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phụ nữ có tiền sử sản phụ khoa chỉ chiếm 39% (trong đó tỷ lệ sảy
thai là 22,9%; nạo hút thai là 15,9%), các bác sỹ cho biết tiền sử sản phụ khoa cung cấp những
thông tin cần thiết để đóng góp cho những tư vấn quan trọng từ phía bác sỹ phụ khoa để duy trì
và nâng cao sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản cho chị em phụ nữ. Theo các chuyên gia
chuyên ngành sản phụ khoa thì phụ nữ có tiền sử phá thai phải đối mặt với nguy cơ ung thư cổ tử
cung cao gấp 2,3 lần so với phụ nữ không có tiền sử phá thai. Phụ nữ từng phá thai 2 hoặc nhiều
hơn 2 lần phá thai phải đối mặt nguy cơ gấp 4,92 lần bình thường.
Test VIA (Visual Inspection with Acetic acid - VIA) là phương pháp dễ thực hiện và có nhiều
triển vọng trong việc áp dụng tầm soát và phòng chống UTCTC theo hướng cộng đồng. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành làm test VIA cho 8.980 ĐTNC (chiếm 99,8% số phụ nữ
được khám sàng lọc), 21 trường hợp khám sàng lọc không tham gia xét nghiệm VIA vì đã cắt cổ
tử cung trước đó. Số phụ nữ được phát hiện có kết quả test VIA (+) là 570 trường hợp (chiếm
6,3%), kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên ở Cần Thơ (7,3%) [3],
thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Vũ Quốc Huy tại Huế (VIA+ 7,7%) [8], thấp hơn so với
nghiên cứu của Gravitt tại Ấn Độ (VIA + là 12%) và cao hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Bá
Tân tại Đà Nẵng (VIA + là 1,5%) [9]. Điều này có thể giải thích là do việc đánh giá VIA hoàn
toàn phụ thuộc vào trình độ của người đọc kết quả và nó mang tính chủ quan nhiều hơn và không
đơn thuần chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nhiễm bệnh tại cộng đồng, các cán bộ y tế khi đã thực hiện kỹ
thuật thành thạo có xu hướng xác định tổn thương chính xác hơn những cán bộ y tế mới được
thực hiện, tỷ lệ dương tính giả thường cao trong giai đoạn đầu cán bộ y tế mới thực hiện và sau
đó giảm dần theo kinh nghiệm tích lũy của cán bộ y tế.
Tuổi cũng là một yếu tố liên quan đến tình trạng tổn thương tiền ung thư và UTCTC. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, với phương pháp sàng lọc VIA đã cho kết quả tổn thương tiền ung thư
cao ở nhóm tuổi 30-39 (9,1%), kết quả này khác so với nghiên cứu của Huỳnh Bá Tân tại Đà Nẵng
(VIA+ cao nhất ở nhóm tuổi 45-50) và cũng khác so với nghiên cứu của Gravitt (VIA+ cao nhất ở
nhóm tuổi trên 60 tuổi). Điều này có thể là do các nghiên cứu đều được triển khai tại cộng đồng
nhưng cỡ mẫu khác nhau và cỡ mẫu chưa đủ lớn để có tính đại diện hoặc có thể sai số trong quá
trình sàng lọc do cán bộ y tế gây nên (sai số do chọn mẫu, đọc và đánh giá, nhận định kết quả).
Viêm nhiễm phụ khoa là những bệnh liên quan đến viêm nhiễm ở cơ quan sinh dục nữ, là nỗi
ám ảnh của tất cả chị em, đặc biệt những chị em sau khi sinh đẻ. Bệnh viêm nhiễm phụ khoa
khiến cho nhiều chị em mệt mỏi, cuộc sống tình dục bị ảnh hưởng và nguy hiểm hơn là viêm
nhiễm phụ khoa còn gây ra các biến chứng như vô sinh, hiếm muộn hoặc có thể dẫn tới ung thư.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khám phụ khoa cho 9.001 chị em phụ nữ, kết quả cho thấy
tuổi càng cao thì tỷ lệ bị viêm nhiễm phụ khoa càng thấp. Cụ thể là nhóm phụ nữ 30-39 tuổi có tỷ
lệ bị viêm nhiễm phụ khoa cao nhất (76,0%); tiếp theo là nhóm phụ nữ 21-29 tuổi (64,4%), tỷ lệ
phụ nữ có viêm nhiễm phụ khoa trong độ 40-49 tuổi là 62,7%; tỷ lệ viêm nhiễm phụ khoa ở
nhóm phụ nữ 50-59 tuổi là 36,6%; nhóm phụ nữ từ 60-70 tuổi có tỷ lệ bị viêm nhiễm phụ khoa
thấp nhất (16,0%). Sau đó, tất cả các ĐTNC được chúng tôi phân loại viêm nhiễm phụ khoa theo
vị trí tổn thương và theo nguyên nhân (bảng 3). Kết quả khám phát hiện trong số 9.001 trường
hợp thì số phụ nữ bị viêm cổ tử cung chiếm 49,7%; số phụ nữ bị viêm âm đạo chiếm 14,8%; chỉ
có 1,1% phụ nữ bị viêm tại âm hộ. So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên ở
Cần Thơ (65,2%) thì tỷ lệ phụ nữ được phát hiện có viêm nhiễm phụ khoa tại Hậu Giang (60,0%)
không có sự khác biệt nhiều. Kết quả xét nghiệm nguyên nhân gây viêm cho thấy có 53,0% chị
em tham gia khám sàng lọc bị viêm nhiễm là do vi khuẩn; 6,3% là do nấm Candida (tỷ lệ này
thấp hơn trong khám sàng lọc tại Cần Thơ - 12,8%); 0,7% là do ký sinh trùng [3]. Kết quả phân
loại tổn thương cổ tử cung ở hình 3 cho thấy trong số 9.001 phụ nữ được khám sàng lọc thì
17
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
49,8% chị em có cổ tử cung bình thường, tỷ lệ này thấp hơn không đáng kể so với nghiên cứu
của Nguyễn Trung Kiên tại Cần Thơ (52%); tỷ lệ phụ nữ bị viêm cổ tử cung là 48.4%, cao hơn so
với Cần Thơ (25,6%); 0,1% phụ nữ khám sàng lọc có u xơ CTC (Cần Thơ là 0,2%); 0,2% phụ nữ
bị viêm lộ tuyến cổ tử cung độ III (Cần Thơ là 0,4%); 0,5% phụ nữ bị viêm lộ tuyến cổ tử cung
độ I (Cần Thơ là 14,8%); 0,8% bị viêm lộ tuyến cổ tử cung độ II (Cần Thơ là 3,5%) [3]. Bên
cạnh đó, số phụ nữ trong 30 xã được khám sàng lọc còn gặp các vấn đề khác liên quan đến CTC
như nang Naboth là 2,2% (Cần Thơ là 5%), tỷ lệ bị Polip là 0,9% (Cần Thơ là 2,1%) [3]. Những
chỉ số trên một lần nữa cho thấy kiến thức và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản của người dân còn rất hạn chế. Tăng cường các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Pap (Papanicolaou) là một phương pháp sàng lọc phát hiện tiền ung thư và ung thư tế bào cổ
tử cung bằng cách quan sát tế bào từ CTC dưới kính hiển vi. 570 phụ nữ có kết quả VIA (+) được
tiến hành làm xét nghiệm tế bào học cổ tử cung (Pap), kết quả phát hiện có 53 trường hợp có tế
bào bất thường (9,3%). Trong đó có 22 trường hợp có tế bảo vảy không điển hình (ASCUS); 10
trường hợp có tổn thương biểu mô vảy grade thấp (LSIL)-CIN I; 05 trường hợp có tổn thương
biểu mô vảy grade cao (HSIL)-CIN II, CIN III và 16 trường hợp có tế bào tuyến không điển hình
(AGC). Kết quả này cao hơn nhiều so với kết quả trong nghiên cứu của Dhaubhadel P (PAP + là
0,57%) [10] và nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình năm 2013 (tỷ lệ PAP là 6,1%, trong đó 4,9%
ASCUS, 0,3% LSIL, 0,2% HSIL) [7], cũng cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Lợi
(PAP+ là 2,13%, trong đó, ASCUS là 1,1,%, LSIL 0,45%, HSIL: 0,52% và AGUS là 0,6%) [5].
Như vậy có thể thấy kết quả sàng lọc UTCTC tại cộng đồng bằng phương pháp tế bào học của
chúng tôi khác so với các tác giả khác và với các nghiên cứu khác nhau thì tỷ lệ PAP dương tính
rất khác nhau, nguyên nhân có thể do cách lựa chọn đối tượng nghiên cứu, độ tuổi của các đối
tượng nghiên cứu khác nhau nên có thể dẫn đến tỷ lệ PAP dương tính cũng khác nhau. Mặt khác,
do tập quán, lối sống, tình trạng kinh tế xã hội, ý thức của mỗi vùng, mỗi quốc gia cũng khác
nhau. Thêm vào đó, kinh nghiệm sàng lọc của các cơ sở y tế cũng rất khác nhau và nó có ảnh
hưởng nhất định đến kết quả sàng lọc.
Tất cả phụ nữ tham gia khám sàng lọc bị viêm nhiễm phụ khoa đều được cấp thuốc điều trị.
Số liệu từ bảng 7 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ được cấp thuốc điều trị viêm nhiễm phụ khoa là 60,0%
trong tổng số 9.001 phụ nữ khám sàng lọc. Tổng số phụ nữ đã được điều trị áp lạnh là 476 trường
hợp, chiếm 83,5% tổng số phụ nữ có kết quả VIA+ đã phát hiện qua khám sàng lọc; tương đương
6,3% tổng số phụ nữ tham gia khám sàng lọc UTCTC tại các địa điểm nghiên cứu. Trong tổng số
570 trường hợp VIA+, có 22 trường hợp có tế bảo vảy không điển hình (ASCUS), 10 trường hợp
có tổn thương biểu mô vảy grade thấp (LSIL)-CIN I, 05 trường hợp có tổn thương biểu mô vảy
grade cao (HSIL)-CIN II, CIN III và 16 trường hợp có tế bào tuyến không điển hình (AGC); tất
cả các trường hợp này đã được Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản Hậu Giang tư vấn khám
định kỳ, nơi khám và điều trị kịp thời phòng tiến triển thành UTCTC.
5. Kết luận
Nghiên cứu này đã khám sàng lọc UTCTC cho 9.001 phụ nữ trong độ tuổi từ 21-70 ở một số
huyện, thị xã của tỉnh Hậu Giang. Tỷ lệ phụ nữ được phát hiện có viêm nhiễm phụ khoa là
60,0%. Tất cả phụ nữ bị viêm nhiễm phụ khoa đều được dự án cấp thuốc điều trị góp phần nâng
cao sức khỏe, khuyến khích phụ nữ tích cực tham gia khám sàng lọc UTCTC. Đã phát hiện được
570 trường hợp có tổn thương sớm ở tế bào cổ tử cung (VIA+) tương đương 6,3% số phụ nữ
được sàng lọc và đã điều trị áp lạnh cho 476 trường hợp VIA+ (83,5% số phát hiện VIA+). Có 22
trường hợp có tổn thương tiền ung thư CIN I, CIN II, CIN III, ASCUS, AGC đều được tư vấn
chuyển gửi điều trị kịp thời để phòng tiến triển đến UTCTC. Nhóm phụ nữ độ tuổi 30-39 có nguy
cơ tổn thương sớm ở tế bào cổ tử cung (VIA+) cao là 9,1%, cứ 100 phụ nữ trong độ tuổi này thì
khoảng 9 người có nguy cơ VIA+.
18
TNU Journal of Science and Technology
226(01): 12 - 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1] Hanoi Obstetrics Hospital, "The age of cervical cancer tends to be rejuvenated", 2019. [Online].
[2] Hospital K, “The cervical cancer warning sign women often ignore,”2019. [Online]. Available:
[Accessed Oct. 24, 2019].
[3] T. K. Nguyen, G. Lade, and H. V. Trinh, “Results of cervical cancer screening for women in 24
communes of Can Tho city 2014 – 2016,” Journal of Community Medicine, no. 35, pp. 65-69, 2016.
[4] Ministry of Health, The project of screening for early detection of ancient letter and treatment in some
provincers in 2019- 2025, Decision no. 3877/QD-BYT dated August 29, pp. 3-4, 2019.
[5] T. L. Tran, V. P. Ho, and T. K. D. Le, “The prevalence of HPV infection among women in Ho Chi
Minh City and related factors,” Ho Chi Minh City Medicine, no. 3, pp. 164-169, 2009.
[6] P. E. Gravitt, P. Paul, and H. A. Katki, "Effectiveness of VIA, Pap, and HPV DNA Testing in a Cervical
Cancer Screening Program in a Peri-Urban Community in Andhra Pradesh, India," Plosone, vol. 5, no.
[7] T. B. Nguyen, “Determining the value and feasibility of the observation method with acetic acid (Via) in
cervical lung cancer screening in Bac Ninh and Can Tho, some factors related to cervical cancer,” Doctor
Thesis, University of Public Health, 2015.
[8] V. Q. H. Nguyen, M. T. Le, and Q. V. Truong, “Screening for precancerous lesions and cervical cancer by
cervical cytology,” Journal of Obstetrics, vol. 1, no. 11, pp. 50-59, 2013.
[9] B. T. Huynh, V. Q. Ngo, and T. H. Dang, “Building a cervical cancer screening network at the grassroots
health level of Da Nang city by observing the cervix after applying acetic acid (VIA),” Maternity
Journal, no. 10, vol. 2, pp. 163-172, 2012.
[10] P. Dhaubhadel, A. Vaidya, and P. Choudhary, “Early Detection of Precursors of Cervival Cancer with
Cervival Cytology and Visual Inspection of Cervix with Acetic,” Journal of Nepal Medical
Association, vol. 170, no. 47, pp. 71-76, 2008.
19
Bạn đang xem tài liệu "Results on cervical cancer screening for women in Hau Giang province in the period 2015-2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
results_on_cervical_cancer_screening_for_women_in_hau_giang.pdf

